Đăng bởi: chanhminhtk | Tháng Mười Một 18, 2013

Cách Báo Hiếu Trong Phật Giáo

Tỳ khưu Chánh Minh

Chỉ một chữ hiếu thôi mà mực đã nhiều như nước sông, giấy có lẽ nhiều như lá rừng nguyên thủy.

Chỉ một chữ hiếu thôi đã tạo biết bao cảm hứng cho thi nhân, văn nhân, nhạc nhân…

Chữ hiếu lại thâm nhập vào giới bình dân qua những câu ca dao trữ tình tuyệt đẹp.

“Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Buâng khuâng nhớ mẹ, chín chìu ruột đau”.

Hay:

“Mỗi đêm thắp ngọn đèn trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.

Các bậc tiền hiền thánh trí đều tán thán người có hiếu.

Tuy nhiên, chữ hiếu được quan niệm theo cách nhìn riêng của từng hệ tư tưởng, và đề ra cách báo hiếu khác nhau.

Dân tộc Việt Nam với hai hệ tư tưởng Phật – Khổng đã phát triển sâu rộng trong dân gian , đồng thời phát triển rất lâu đời.

Khổng giáo cũng xem trọng chữ hiếu, nhưng với quan niệm “trung quân ái quốc” thì chữ hiếu đặt sau chữ trung, như:

“Trai thời trung hiếu làm đầu”(1).

Hay:

“Có trung hiếu mới đứng trong trời đất

Không công danh thà nát với cỏ cây”(2).

Tuy cha hay mẹ chết thì đều phải cư tang ba năm để báo hiếu, cho dù đang làm quan cũng phải từ quan, đó là cách tỏ ra “người có hiếu”, nhưng cách có hiếu theo quan niệm:

“Cha bảo người con chết, người con không chịu chết là con bất hiếu” xem ra khá khắt khe.

Hơn nữa, với quan niệm “trọng nam khinh nữ”, vai trò người mẹ có lẽ không sánh bằng cha, người mẹ chỉ là thứ yếu, nên ít khi nhắc đến người mẹ.

Đạo Phật lại khác: “cả cha và mẹ đều được xem trọng như nhau”. Vai trò của người mẹ được nâng cao, thậm chí được đặt trước người cha.

“Mātāpitu upatthānaṃ…

Nết hạnh phụng sự mẹ

Nết hạnh phụng sự cha. Là hạnh phúc cao thượng”(3).

Có lẽ do chế độ mẫu hệ mà người mẹ được đặt trước người cha.

Có lần vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) nghe Hoàng hậu Mallikā sinh một bé gái, Đức vua không vui, biết Đức vua không vui, Đức Phật dạy:

“Có một số thiếu nữ

Có thể tốt đẹp hơn

So sánh với con trai…”(4).

Lời dạy trên cách đây 2500 năm quả thật tuyệt vời, đã xóa đi quan niệm “nữ nhân có trí hai ngón tay” (nữ nhân nấu cơm, muốn biết cơm chín chưa, thường dùng hai ngón tay để thử).

Kinh Thi Ca La Việt (sigālovāda sutta) trong Trường bộ,  Đức Phật dạy bổn phận người con đối với cha mẹ như sau:

–      Nuôi dưỡng cha mẹ (bharaṇa).

–      Làm công việc thay cha mẹ (kiccakaraṇa).

–      Gìn giữ truyền thống gia tộc không cho hư hoại (kulavaṃsa ṭhapana).

–      Tỏ ra xứng đáng hưởng gia tài (dāyajjā hapaṭi pajjana).

–      Cha mẹ quá vãng phải làm phước hồi hướng (dakkhiṇānuppadāna).

Trong kinh Tạng Đức Phật dạy: “có hai người không thể đền ơn được, đó là mẹ và cha”(5).

Đức Phật mô tả sự trả ơn cha mẹ bằng vật chất hay phục vụ cha mẹ cẩn trọng suốt cả trăm năm cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho cha mẹ. Và như thế đủ thấy: “Đức Phật xem trọng cả cha lẫn mẹ”, khi vua Tịnh phạn vương mệnh chung chính tự thân Ngài tẩn liệm di hài, rồi đưa đến hỏa đài. Vào hạ thứ 7, Ngài an cư mùa mưa tại cung trời Đao lợi, thuyết pháp độ vị thiên tử hậu thân của Hoàng hậu Māyā để đền đáp công sinh thành dưỡng dục trong vòng luân hồi.

Đức Phật chỉ ra phương thức báo hiếu cho cha mẹ:

–      Nếu cha mẹ không có đức tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú cha mẹ vào đức tin.

–      Nếu cha mẹ theo ác giới, an trú cha mẹ vào thiện giới.

–      Nếu cha mẹ xan tham, khuyến khích an trú cha mẹ vào bố thí.

–      Nếu cha mẹ theo ác trí tuệ, an trú cha mẹ vào trí tuệ (sđd – A.i, 61).

Thật vậy, sự phụng dưỡng cha mẹ bằng vật chất, chỉ có thể mang đến an lạc trong thời gian ngắn trong hiện kiếp, nhưng còn kiếp sống mới thì sao? Không một ai có thể bảo đảm rằng: “kiếp sống cha mẹ sẽ đầy đủ như trong hiện tại, nếu như là người không có đức tin, ác giới, ác pháp và ác tuệ”.

Nhưng tin cái gì? Tin vào nghiệp báo, nhân quả.

Chính đức tin này đưa cha mẹ đến nhàn cảnh, có được kiếp sống làm người hay thiên nhân.

Trong lãnh vực Phật giáo, nếu như cha mẹ là người không tin Tam Bảo, người con có hiếu sẽ tìm cách an trú cha mẹ vào đức tin nơi Tam Bảo.

Đức Phật có dạy:

“Những ai quy y Phật sẽ không sa đọa xứ, khi thân hoại mạng chung sẽ tràn đầy thiên giới.

Những ai quy y Pháp sẽ không sa đọa xứ, khi thân hoại mạng chung sẽ tràn đầy thân giới.

Những ai quy y Tăng sẽ không sa đọa xứ, khi thân hoại mạng chung sẽ tràn đầy thân giới”.

Lời dạy trên cần phải hiểu: “được sanh Thiên giới do có đức tin nơi Tam Bảo, khi đức tin này được hiển lộ vào lúc lâm chung”. Như công tử Maṭṭa Kuṇḍali chỉ nương vào đức tin nơi Đức Phật sanh về cõi trời(6).

Trong thời điểm hằng ngày, cần phải củng cố đức tin ấy qua pháp giữ giới.

Chính giới hạnh giúp cho cha mẹ được an vui trong hiện tại lẫn vị lai.

Người giữ giới trong hiện tại được năm thành quả:

–      Do không khinh thường (appamāda) nên được tài sản.

–      Danh thơm lan rộng khắp nơi.

–      Tâm rất dạn dĩ khi vào bất cứ hội chúng nào.

–      Lúc lâm chung tâm không tán loạn.

–      Được sanh về thiên giới.

Trong Tăng chi kinh, phẩm tám pháp, bài kinh “rất là nhẹ” Đức Phật mô tả ác quả  rất nhẹ của người thường theo ác giới như:

-Sát sanh nếu  được làm người, sẽ là người yểu thọ.

-Trộm cắp nếu được làm người, sẽ là người bị tổn giảm tài sản.

-Tà dâm nếu được làm người, sẽ là người có nhiều kẻ thù nghịch…

Giữ giới là việc lành nhưng chỉ là tiêu cực, người chỉ giữ giới tất nhiên được sanh về nhàn cảnh nhưng lại thiếu vắng vật dụng, tài sản…

Lẽ thường, mẹ cha có lòng thương tưởng đến con, nên những gì có được thường dành cho con. Ở gốc độ nào đó, chính lòng thương tưởng đến con, khiến cha mẹ trở thành keo kiệt, người con chí hiếu cần khuyến khích cha mẹ mở rộng tâm, không dính mắc nhiều đến tình thương vị kỷ , đó là một hình thức khác của ái luyến.

“Con ta tài sản ta

Người ngu nghĩ quấy khổ…”(7).

Giúp cha mẹ giảm nhẹ dính mắc đến tài sản, thân tộc, để quay về với chính mình, tạo thiện pháp làm nơi nương nhờ cho chính mình, là việc làm thiết thực của người con có hiếu.

“Không ai thương mình bằng chính mình”(8)

Trong sự báo hiếu, người con sẽ tạo điều kiện tốt đẹp để cha mẹ nâng cao sự hiểu biết Giáo pháp của Đức Phật như: đi chùa nghe pháp, học pháp, thích thú thực hành thiền tập để phát triển trí tuệ. Vì hành thiền là pháp môn giúp cha mẹ luôn tỉnh táo, không bị mê lẫn đồng thời tâm được an vui.

                                  “Không trí tuệ, không thiền

                                  Không thiền, không trí tuệ

                                  Người có thiền có tuệ

                                  Nhất định gần Níp Bàn”(9).

Đức Phật dạy: “đó là cách báo hiếu, đủ để trả ơn cha mẹ”.

Vì rằng: sự phụng dưỡng vật chất trong khả năng có được đến cha mẹ là điều cơ bản phải có, nhưng trong lãnh vực tinh thần không khuyến khích, không tạo điều kiện cho cha mẹ được an lạc cho đời này lẫn đời sau, sự báo hiếu này còn khiếm khuyết.

Chính khuyến khích, tạo điều kiện cho cha mẹ có được an lạc thân lẫn tâm trong hiện tại, tạo trữ phước báu cho kiếp lai sinh,  đó là cách báo hiếu vẹn toàn vậy.


(1) Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên.

(2)  Nguyễn Công Trứ – Chí làm trai..

(3) Hệ Nam truyền – Kinh Nhật Tụng Cư sĩ – Bài Hạnh phúc kinh (Maṅgala sutta).

(4) Tương ưng kinh, bài kinh “người con gái” (Si, 86).

(5) Tăng chi kinh – A.i, 61.

(6) Chú giải kinh Pháp cú, Phẩm Song yếu – câu số 2.

(7) Pháp cú kinh, câu số 62. Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch.

(8) Tương ưng kinh (Si, 78).

(9) Pháp cú kinh, câu 372. Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch.

Advertisements

Chuyên mục