Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (02 – Chương IX. Khai mở cửa Bất tử)

Chương IX. Khai mở cửa Bất tử.

1- Trên đường đến rừng Nai (Migadāya).

Nhận lời thỉnh cầu của Đại Phạm thiên Sahampati, Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Như Lai giảng pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được giáo pháp này nhanh chóng?”.

Rồi Ngài nghĩ đến Đạo sư Ālāra Kālāma rằng: “Đạo sư Ālāra Kālāma là người ít ô nhiễm, vậy Như Lai hãy giảng pháp đến Đạo sư Ālāra Kālāma. Vị ấy sẽ hiểu pháp này được nhanh chóng”.

Một thiên nhân không hiện thân, đứng giữa hư không bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, Đạo sư Ālāra Kālāma đã từ trần cách đây 7 ngày rồi.

Đức Thế Tôn đưa trí quán xét  và Ngài thấy: “Thật sự Đạo sư Ālāra Kālāma đã mệnh chung cách đây 7 ngày”.

Bản Sớ giải Luật Tạng, bộ Mahāvagga Atthakathā giải thích:

“Đạo sư Ālāra Kālāma là bậc ít ô nhiễm vì vị ấy có được ba loại trí: Trí bẩm sinh (jātipaññā), trí do tu tập (bhāvanāpaññā) và trí thiền kiên cố (parijhārikapaññā).

Vị ấy là người có “ít bụi trong mắt” (apparajjakkha), do  thường xuyên an trú tâm trong thiền tịnh”.

Mỗi khi nghe thiên nhân tác bạch, Đức Thế Tôn không hề chấp nhận ngay, Ngài sẽ đưa trí quán xét xem “sự thật như thế nào?”.

Nếu là đúng theo chân pháp, Ngài sẽ im lặng chấp thuận, nếu không đúng Đức Thế Tôn sẽ tùy thời giải thích.

Do đó khi nghe vị thiên nhân không hiện thân, đứng giữa hư không tác bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, Đạo sư Ālāra Kālāma đã mệnh chung cách đây 7 ngày”, Đức Thế Tôn đưa trí quán xét để biết rõ sự thật.

Sau khi biễt rõ sự kiện, Đức Thế Tôn suy nghĩ : “Thật là một mất mát lớn với Đạo sư Ālāra Kālāma, vị ấy không thể nghe được pháp của Đấng Như Lai”.

Vì sao? Vì Đức Thế Tôn biết rõ Đạo sư Ālāra Kālāma tái sinh về cõi Vô sở hữu xứ, cõi thiền thứ ba trong bốn cõi Vô sắc.

Đáp. Đức Thế Tôn biết bằng Tha tâm thông.

Rồi Đức Thế Tôn nghĩ đến Đạo sư Uddaka Rāmaputta:

“Đạo sư Uddaka Rāmaputta là bậc có trí , ít ô nhiễm. Vị ấy sẽ nhanh chóng hiểu pháp của Đấng Như Lai. Như Lai hãy giảng pháp đến Uddaka Rāmaputta trước tiên”.

Một thiên nhân không hiện thân, đứng giữa hư không tác bạch rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, Đạo sư Uddaka Rāmaputta đã mệnh chung vào giữa đêm qua.

Đức Thế Tôn đưa trí quán xét, Ngài thấy : “Thật sự, đạo sư Uddaka đã mệnh chung vào giữa đêm qua, tái sinh về cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.

Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Thật là một mất mát lớn đối với Đạo sư Uddaka Rāmaputta”.

Rồi Đức Thế Tôn nghĩ đến “nhóm năm KiềuTrầnNhư”:

“Nhóm năm KiềuTrầnNhư đã phục vụ ta rất chu đáo khi ta thực hành khổ hạnh pháp. Ta nên giảng pháp đến “nhóm năm KiềuTrầnNhư”, hiện nay họ đang ở đâu?”.

Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ngài thấy “nhóm năm KiềuTrầnNhư” đang ở trong rừng Nai, vùng Isipatana trong xứ BaLaNại.

Có câu hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn lại nghĩ đến những vị ấy?

Đáp. Vì đó là “pháp tri ân” của bậc trí giả. Đối với hai vị Đạo sư, đó là những vị thầy hướng dẫn Bồtát trên đường tu tập, giúp cho Ngài thành đạt hai tầng thiền Vô sắc.

Đối với nhóm năm KiềuTrầnNhư, những người này đã phục vụ Ngài chu đáo trong thời gian thân cận với Ngài.

Hỏi. Có phải Đức Thế Tôn chỉ giảng pháp đến những người thân quen chăng?

Đáp. Không phải thế, đối với người có duyên lành trong hiện tại, dù thân hay không thân với Đức Thế Tôn, Ngài vẫn ngự đến tế độ.

Như Ngài ngự đi tế độ Đức Mahā Kassapa, Đức vua Mahā Kappina …

Hoặc nhận thấy “người ấy có duyên với vị Thánh đệ tử nào trong Tăng đoàn”, Đức Phật dạy “vị Thánh đệ tử ấy đến tế độ”.

Như trường hợp Đức Phật dạy “Đức MụcKiềnLiên đến tế độ trưởng giả Kosiya keo kiệt” ([1]), dạy Đức Sadi Saṅkiccha theo hầu 30 vị Tỳkhưu trong mùa an cư, để tế độ 500 tên cướp trong rừng ([2]) ….

Cũng nên hiểu rằng: “Tuy trong hiện tại “không thân với Đức Thế Tôn”, nhưng trong quá khứ, phần lớn các bậc ấy đã tạo “mối nhân duyên” đến Đức Bồtát , do duyên lành ấy nên Đức Thế Tôn sẽ tế độ những vị ấy”.

Do đó, Đức Thế Tôn có hồng danh Anuttaropurisadammasāratthi (Vô thượng sĩ -Điều ngự trượng phu).

2- Tạo duyên lành cho du sĩ Upaka.

Khi biết rõ “nhóm năm KiềuTrầnNhư” đang trú ở rừng Nai trong xứ BaLaNại, Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Như Lai đi đến rừng Nai, khai giảng pháp Bất tử, tế độ “nhóm năm KiềuTrầnNhư”.

Thông thường chư Chánh giác lần đầu tiên ngự đi “khai giảng pháp bất tử” thường dùng thần thông ngự đi.

Riêng Đức Thế Tôn đi bộ, vì thấy được duyên lành của du sĩ lõa thể Upaka (ajīvaka Upaka).

Khoảng cách từ Bodhimaṇḍa (vòng đai cây Giác ngộ) đến Gayā là 3 gāvuta (= 12km); khoảng cách từ Gayā đến rừng Nai trong xứ BaLaNại là 15 do tuần ([3]).

Đức Thế Tôn cầm lấy y bát, rời Bodhimaṇḍa đi đến Gayā khất thực; rồi Ngài hướng về rừng Nai.

Bấy giờ du sĩ lõa thể Upaka cũng trên đường đi từ Bodhimaṇḍa đến Gayā. Nhìn thấy Đức Thế Tôn đang đi trên đường, du sĩ Upaka rất thán phục, nên đi đến gần hỏi chuyện rằng:

– Này hiền hữu, các quyền của hiền hữu thật trong sáng, nước da của hiền hữu bóng sáng và tươi nhuận.

Này hiền hữu, vì sao hiền hữu từ bỏ đời sống gia đình? Thầy của hiền hữu là ai? Hiền hữu đang truyền bá giáo lý của ai?

Đức Thế Tôn đáp:

a-“Sabhābhibhū sabhavidū’ham asmi.

“Ta vượt trên tất cả, thấu triệt toàn bộ.

Sabhesu dhammesu anupalitto.

Không còn vướng mắc trong tất cả các pháp.

Sabhañ’jaho taṇhā’kkhaye vimutto.

Đã giải thoát khi diệt trừ tất cả ái dục.

Sayaṃ abhiññāya kam uddiseyyaṃ.

Tự mình chứng đắc, không người chỉ dạy”.

b- “Na me ācariyo atthi;  sadiso me na vijjāti.

“Ta không có người dạy ([4]); bằng ta tìm không thấy.

Sadevakasmiṃ lokasmiṃ; n’atthi me patipuggalo.

Trong thiên giới, nhân giới; không có ai bằng ta.”

c- “Ahaṃ hi arahā loke; ahaṃ satthā anuttaro.

“Ta là bậc ALaHán trên đời; ta là bậc đạo sư tối thượng.

Eko’mhi sammāsambuddho; sītibhūto’smi nibbuto.

Ta là bậc Chánh Giác duy nhất; ta chứng đạt Nípbàn tịch tịnh.

d- Dhammacakkaṃ pavattetuṃ; gacchāmi kāsinaṃ puraṃ.

“Ta đi đến thành Kāsi, vận chuyểnbánh xe Pháp.

Andhībhūtasmiṃ lokasmiṃ;

Đánh lên tiếng trống vang động thế gian;

Āhanchaṃ amatadundubiṃ.

Mang Bất tử đến những người mù” ([5]).

Nghe Đức Thế Tôn nói như vậy, du sĩ Upaka nói:

– Này hiền hữu, nếu đúng như lời hiền hữu nói, thì hiền hữu xứng đáng là “bậc chiến thắng vô song” (anantajina).

Đức Phật đáp:

“Mādisā ve jinā honti; yepattā āsavakkhayaṃ.

“Các bậc Chiến thắng giống nhau; đã diệt trừ mọi ô nhiễm.

Jitā me pāpakā dhammā; tasmā’ haṃ upaka jino.

Ta chiến thắng tất cả ác pháp; này Upaka, Ta là bậc chiến thắng vậy”.

Nghe vậy, du sĩ Upaka nói rằng:

– Này hiền hữu, những lời hiền hữu nói có thể đúng là như vậy.

Du sĩ Upaka gục gặc đầu, rồi rẽ sang con đường khác, đi đến xứ Vaṅkahāra.

Cơ hội được chuyện trò với Đức thế Tôn là một duyên lành, để về sau Upaka nhớ đến Đức Phật.

Ông tìm đến xuất gia trong giáo pháp này và chứng đạt quả ANaHàm.

* Thị trấn Gayā.

Là một thị trấn nằm giữa Bodhimaṇḍa và BaLaNại.

Theo Đại Luận sư Buddhaghosa (Giác Âm) thì: “Gayā là tên một ngôi làng có bến tắm là Gayāpokkharaṇī.

Theo Đại Luận sư Dhammapāla (Pháp Hộ) thì: “Gayānadī và Gayāpokkharaṇī là hai bến tắm riêng biệt, nhưng được gọi chung là Gayātittha.

Theo tín ngưỡng Bàlamôn: “Cả hai đều có năng lực gột sạch tội lỗi” ([6]), vì thế, dân chúng thường đến bến nước này dâng lễ, đọc kinh Veda (VệĐà) rồi ngâm mình dưới nước.

Thị trấn Gayā thường được gọi là Brahmagayā để phân biệt với Buddhagayā hay Bodhigayā (tên gọi khác của Bodhimaṇḍa).

Kinh điển Pāli có ghi nhận: “Hằng năm, vào hai tuần lễ đầu của tháng Phagguna (tháng 3 âl, theo lịch VN), dân chúng trong thị trấn Gayā tổ chức lễ hội “tắm sông Gayāphaggunī” trên bến Gayā, lễ hội này có tên “Gayāphaggunī” ([7]).

Chính Trưởng lão Gayā Kassapa trong tập “Kệ trưởng lão Tăng” (Theragāthā) có nói: “Ngài từng tắm ở bến Gayātittha, mỗi ngày ba lần trong thời gian có lễ hội Gayāphaggu để gột rửa tội lỗi.

Trước vì theo truyền thống Bàlamôn nên Ngài tin là như vậy, khi được nghe Giáo pháp của Đức Thế Tôn, Ngài tắm trong “dòng nước Bát Chánh”, đã gột hết mọi tội lỗi, chứng đắc ALaHán Tam minh. Như kệ ngôn:

“Pāto majjhanhikaṃ sāyaṃ; tikkhattuṃ divasassanaṃ,

Sáng, trưa, chiều ta xuống; một ngày đủ ba lần,

Otariṃ udakaṃ sohaṃ; gayāya gayaphagguyā.

Ta tắm nước Gayā; ở bến Gayaphagguyā.

Yaṃ mayā pakataṃ pāpaṃ; pubbe aññāsu jātisu,

Điều ác ta thường làm, luôn cả đời sống trước,

Taṃ dānīdha pavāhemi; evaṃ diṭṭhi pure ahuṃ.

Nơi này ta rửa sạch, trước ta thấy như vậy”…. (sđd).

Cũng trong một lễ hội này, Ngài Senaka được gặp Đức Phật

Một số học giả cho rằng:“Sông NiLiên (Nerañjara) chảy ngang qua Gayā, sông được gọi tên khác là Phaggu” ([8]).

Cách thị trấn Gayā một dotuần về hướng Tây nam, có ngọn đồi Gayāsīsa.

Bản Sớ giải ([9]) giải thích: “Sở dĩ ngọn đồi có tên là Gayāsīsa, vì trên đồi có tảng đá bằng, giống như đầu voi (gajasīsa sadisa piṭṭhipāsāno), nơi ấy có thể chứa cả ngàn người”.

Hiện nay đồi Gayāsīsa được gọi là Brahmayoni.

Ngài Huyền Trang cho biết: “Về phía Đông nam của đồi Gayāsīsa có ba tháp thờ “ba vị đạo sĩ tóc bện” ([10]).

Nơi đồi Gayāsīsa Đức Phật thuyết bài kinh Ādittapariyaya Sutta (Kinh Giải về lửa) tế độ ba Ngài UruvelāKassapa, Nadī Kassapa và Gayā Kassapa chứng quả ALaHán.

Ngoài ra, tại Gayā có tảng đá Taṅkitamañca (Tamkitamañca) là trú xứ của Dạxoa Suciloma ([11]).

 Du sĩ Upaka.

Du sĩ Upaka gặp Đức Thế Tôn trên đường đi từ Bodhimaṇḍa đến Gayā.

Sau khi đàm đạo với Đức Thế Tôn, ông có vẻ hoài nghi “Đức Thế Tôn không phải là bậc chiến thắng vô song” (anantajina), nên rẽ sang đường khác, đó là một con đường ngắn dẫn đến làng thợ săn Vaṅkahāra ([12]).

Người thơ săn trưởng đoàn rất kính trọng du sĩ Upaka, du sĩ Upaka sống trong một thảo am nhỏ ở ven làng.

Vì làng có nhiều ruồi nhặng, do những người thợ săn mang thịt rừng về làng, nên Upaka phải sống trong một cái lu lớn ([13]). Sách Divyāvadana gọi Upaka là Upagaṇa ([14]).

Một lần nọ, người trưởng đoàn cùng nhóm thơ săn đi săn ở khu rừng xa, ông dặn người con gái của mình là Cāpā hộ độ cho du sĩ Upaka chu đáo.

Khi du sĩ Upaka đến nhà nhận vật thực cúng dường, nàng Cāpā mang vật thực dâng cúng đến du sĩ Upaka.

Nhìn thấy nàng  Cāpā, tâm du sĩ Upaka rơi vào đắm nhiễm trong nhan sắc xinh đẹp của nàng, trở về am thất, du sĩ Upaka bỏ ăn suốt 7 ngày.

Sau 7 ngày người trưởng đoàn săn trở về, không thấy du sĩ Upaka, nên hỏi con gái rằng:

– Ngài ALaHán Upaka đâu rồi?

– Thưa cha, vị thầy của cha chỉ đến một ngày rồi không đến nữa. Có lẽ Ngài đã rời khỏi nơi này sang xứ khác rồi chăng?

Người trưởng đoàn săn đi đến thảo am, thấy Upaka đang kiệt sức nằm nơi đó. Sau khi hỏi nguyên nhân, Upaka thú thật rằng: “Nếu không có được nàng Cāpā, ta thà chết quyết không sống”.

– Thưa Ngài, vậy Ngài có nghề nghiệp gì chăng?.

– Này gia chủ, ta chẳng có nghề nghiệp chi cả.

– Thưa Ngài, người không có nghề nghiệp, sẽ không thể chăm lo gia đình được. Tôi làm sao có thể gả Cāpā cho Ngài?

– Tôi sẽ mang thịt rừng của ông săn được, mang ra chợ bán.

– Thôi được, chúng tôi đang cần người mang thịt rừng ra chợ bán.

Người thợ săn trưởng đoàn trao cho Upaka chiếc áo choàng, khi khoác vào người chiếc áo choàng, Upaka trở thành người thế tục.

Người trưởng đoàn thợ săn đưa Upaka về nhà, gả nàng Cāpā cho Upaka.

Trong Kệ trưởng lão ni (Therīgāthā) (sđd), có ghi nhận: “Nơi ở của hai người ở làng Nālā. Đó là một ngôi làng nhỏ ở BồĐề Đạo tràng, cũng là sinh quán của Upaka” ([15]).

Như kệ ngôn:

Pakkamisañca nāḷāto, kodhanāḷāya vacchati.

Bandhantī itthirūpena, samaṇe dhammajīvino.

“Ta sẽ rời Nālā; ai ở lại Nālā.

Khi  nếp sống đúng pháp; tại đấy vị ẩn sĩ.

Bị sắc đẹp nữ nhân; trói buộc vào quyến rũ” (HT. TMC dịch).

Cũng trong tập Kệ Trưởng lão ni, Upaka được gọi bằng tên thân mật là “chàng ẩn sĩ mắt đen”Kāḷa, vì Upaka có nước da đen sậm.

Thời gian sau, hai người có được đứa con trai đầu lòng là Subhadda, khi con khóc, nàng Cāpā thường hát ru con bằng lời lẽ trêu cợt Upaka:

“Ngủ đi hỡi con của Upaka, con của “ẩn sĩ mắt đen”, con của người bán thịt  rừng, đừng khóc nữa, đừng khóc nữa này con của Upaka”.

Nghe Cāpā hát ru con trêu cợt mình, Upaka nói rằng:

– Nàng trêu cợt ta đó chăng? Ta sẽ bỏ đi đấy.

Biết rõ Upaka không có người thân, tuy thấy chồng tức giận nhưng nàng Cāpā cứ trêu đùa chồng qua câu hát ru con.

Upaka suy nghĩ: “Vì sao Cāpā khinh thường ta như vậy? Ồ! Thì ra nàng thấy ta không có thân tộc nên cứ mãi trêu cợt ta”.

Khi nghe nàng Cāpā hát ru con, Upaka tức giận nói rằng:

– Này Cāpā, nàng đừng ngỡ rằng: “Ta không có người che chở, ta có một người bạn là “bậc chiến thắng tối thượng”(anantajina). Ta sẽ đến với người bạn ấy để nương nhờ, nàng đừng trêu cợt ta.

Cho là Upaka không dám bỏ đi, vì không có nơi nương tựa, nàng Cāpā vẫn trêu cợt chồng bằng những lời ru như trên.

Đến một hôm, Upaka quyết định ra đi, mặc cho nàng Cāpā sám hối van xin. Upaka đi đến kinh thành XáVệ (Sāvatthi), tìm đến Đức Thế Tôn.

Thấy được duyên lành của Upaka, nên Đức thế Tôn có dạy chư Tỳkhưu rằng: “Nếu có ai hỏi “Bậc chiến thắng tối thượng ”, hãy cho đến diện kiến Đấng Như Lai”.

Trên đường đi, Upaka hỏi người này, người khác về “Bậc chiến thắng tối thượng”, nhưng không một ai biết cả.

Có người tỏ vẻ hiểu biết bảo rằng:

– Đức Thế Tôn chính là “Bậc chiến thắng tối thượng”.

– Này bạn, Đức Thế Tôn hiện đang ở đâu?

– Đức Thế Tôn đang ngụ tại Tịnh xá KỳViên gần thành XáVệ.

Upaka tìm đến thành XáVệ, đi đến Tịnh xá KỳViên hỏi chư Tỳkhưu rằng:

– Thưa các Tôn giả, các Tôn giả biết “Bậc chiến thắngtối thượng” chăng?.

– Này cư sĩ, chính là Đức Thế Tôn.

Chư Tỳkhưu đưa Upaka đến yết kiến Đức thế Tôn. Upaka đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:

– Kính bạch Đức Thế Tôn, Ngài có nhớ người năm xưa chăng?

– Này Upaka, Như Lai vẫn nhớ đến người năm xưa, đó chính là ngươi.

Nghe Đức Thế Tôn gọi tên mình, Upaka vô cùng hoan hỷ, tiếp theo Đức Thế Tôn hỏi:

– Này Upaka, ngươi bây giờ như thế nào.

Sau khi trình bày việc của mình, nghe xong Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này Upaka, nay ngươi đã lớn tuổi hãy xuất gia tu tập đi.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Sau khi xuất gia Ngài Upaka nỗ lực tu tập, chứng Thánh quả ANaHàm, khi mệnh chung sinh về cõi Vô Phiền (Avihā) ([16]).

Theo bản Sớ giải kinh Trung Bộ([17]): Ngài Upaka sau khi sinh về cõi Vô Phiền, ngay tại cõi ấy Ngài chứng quả ALaHán rồi viên tịch.

Phạm thiên Ghatikāra cũng bạch với Đức Thế Tôn rằng:

Avihaṃ upapannāse, vimuttā satta bhikkhavo….

Được sinh về Vô phiền thiên; bảy vị Tỳkhưu giải thoát ….

Upako phalagaṇḍo ca, pukkusatī ca te tayo…

Upaka, Phalagaṇḍa và Pukkusati([18]) (HT. TMC dịch).

Tuy nhiên có một số nghi vấn như sau:

– Ngài Upaka tìm đến Đức Thế Tôn để nương nhờ, khi ấy vào hạ thứ bao nhiêu của Đức Thế Tôn? Chỉ biết khi ấy Đức Thế Tôn đang ngự trú tại Tịnh xá KỳViên.

– Trong bảng danh sách của Phạm thiên Ghatikāra thì Ngài Upaka đứng đầu. Điều này cho thấy Ngài Upaka mệnh chung trước 6 vị Trưởng lão kia và Ngài Upaka đã thành đạt Tứ thiền Sắc giới.

Mặt khác, trong bảng danh sách 7 vị Trưởng lão sinh về cõi Vô phiền, Ngài Pukkusati đứng vào vị trí thứ ba, Ngài Pukkusati mệnh chung trong khoảng 25 năm sau cùng của Đức Phật, như thế “có khả năng 7 vị Trưởng lão này mệnh chung trong cùng một năm”.

Và như thế, có khả năng Đức Upaka xuất gia trong Giáo đoàn này vào khoảng 25 hạ sau cùng của Đức Thế Tôn.

– Du sĩ Upaka bị nhiễm đắm nhan sắc của nàng Cāpā, khi ấy Ngài bao nhiêu tuổi? Độ tuổi nàng Cāpā là bao nhiêu? Khi có được con trai đầu lòng, Ngài Upaka được bao nhiêu tuổi? ([19]).

Thông thường nữ nhân xinh đẹp sẽ lập gia đình trong độ tuổi 16, nếu sự kiện này đúng, thì khi du sĩ Upaka đến làng Vaṅkahāra thì nàng Cāpā chưa sinh ra đời.

Nàng Cāpā.

 Nàng Cāpā sinh ra tại làng Vaṅkahāra, con của người trưởng làng cũng là trưởng đoàn thợ săn.

Khi Upaka cương quyết ra đi, rời khỏi làng Nālā, nàng Cāpā sầu muộn vì nhớ thương chồng.

Khi con trai Subhadda được tròn năm, nàng giao con lại cho cha (ông ngoại của Subhadda) nhờ nuôi dưỡng, rồi ra đi tìm Upaka.

Khi biết Upaka đã xuất gia trong Tăng đoàn, nàng Cāpā tìm đến Ni đoàn xin được xuất gia trong Giáo pháp này.

Nàng Cāpā nỗ lực tinh cần thực hành Samôn hạnh, chẳng bao lâu bà chứng quả ALaHán.

Hồi tưởng lại chuyện đời mình, Trưởng lão ni Cāpā dùng những lời của Trưởng lão Upaka khi còn là cư sĩ, cùng với lời của mình, xướng lên “kệ Trưởng lão ni Cāpā” ([20]).

Bản Sớ giải kinh Tương Ưng ([21]) có ghi nhận: “Hài tử Subhadda (con trai của Upaka và Cāpā) được 7 tuổi, thấy các bạn đồng trang lứa có cha me, còn mình thì không cha không mẹ. Hài tử Subhaddahỏi ông ngoại, được ông ngoại cho biết là:

– Cha mẹ con đã xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn Gotama.

Hài tử Subhadda xin ông ngoại cho mình được xuất gia để gần cha mẹ.

Nhận thấy đó là điều tốt cho hài tử Subhadda cũng như cho mình, người trưởng đoàn thợ săn (cũng là trưởng làng Vaṅkahāra) thường hổ thẹn khi nhìn thấy hài tử Subhadda, vì giai thoại du sĩ Upaka đắm nhiễm nàng Cāpā cả làng đều biết.

Hài tử Subhadda được xuất gia trong Giáo pháp này, về sau Ngài nổ lực hành pháp chứng quả ALaHán.

3- Khai giảng pháp bất tử.

Vào xế chiều ngày trăng tròn tháng Āsāḷha (15-6 âl, tính theo lịch VN), Đức Thế Tôn đến rừng Nai, ở Isipatana thuộc xứ BaLaNại, nơi cư ngụ của “nhóm năm KiềuTrầnNhư”.

Trông thấy Đức Thế Tôn từ xa đang đi đến, “nhóm năm KiềuTrầnNhư bàn luận” với nhau rằng:

“Samôn Gotama đang đi đến chúng ta, Samôn Gotama đã từ bỏ pháp tinh tấn, Samôn Gotama đã nghiêng về pháp lợi dưỡng.

Ông ấy không đáng cho chúng ta kính lễ, không đáng cho chúng ta đứng dậy chào, tiếp rước y bát hay hầu hạ như trước kia. Khi ông ấy đến đây, chúng ta hãy mặc kệ ông ấy.

Rồi nhóm năm sửa soạn sẵn một chỗ ngồi, như một dấu hiệu tỏ bày sự kính trọng trước đây, đồng thời có ý nghĩ: “Samôn Gotama đến đây, nếu muốn ngồi thì ngồi, không muốn ngồi thì cứ ra đi theo ý muốn”.

Đức Thế Tôn đi đến rừng Nai, biết được tâm của “nhóm năm Kiều TrầnNhư”, Đức Thế Tôn rải tâm Từ biến mãn (odhissaka mettā) đến nhóm năm Kiều Trần Như”.

Chạm vào “tâm từ biến mãn” cùng với uy lực của vị Phật Chánh Giác,  năm vị không còn tuân thủ theo quy ước “đã thỏa thuận với nhau”.

Khi Đức Thế Tôn đi đến, cả năm vị quên mất điều thỏa thuận với nhau, cả năm vị đứng lên đảnh lễ Đức Thế Tôn như trước đây từng làm.

Một vị thỉnh Đức Thế Tôn ngồi vào nơi được soạn sẵn, một vị tiếp rước  y bát, một vị mang nước rữa chân đến, một vị rửa chân Đức Thế Tôn, một vị mang vải sạch đến lau chân của Đức Thế Tôn, rồi đặt chân lên miếng vải sạch khác khi chân của D9ức Thế Tôn được lau khô.

Tuy vẫn cung kỉnh Đức Thế Tôn như trước đây, nhưng “nhóm năm KiềuTrầnNhư” vẫn gọi Đức Thế Tôn bằng “āvuso” (Hiền giả).

Đức Phật dạy:

– Này các Đạo sĩ, không nên gọi Như Lai là “āvuso”. Như Lai là bậc ALaHán Chánh giác, hãy lắng tai nghe, Như Lai sẽ giảng pháp Bất tử mà Như Lai đã chứng đạt được.

Hãy thực hành pháp ấy, chẳng bao lâu các thầy sẽ thành tựu Thắng trí, tự mình chứng đạt an lạc tối thượng của đời sống Phạm hạnh.

Khi nghe vậy, nhóm KiềuTrầnNhư đã nói:

– Thưa hiền giả Gotama, trước kia với sự nỗ lực thực hành pháp khổ hạnh, nhưng hiền giả không thành đạt trí tuệ Siêu việt.

Giờ đây, với nếp sống lợi dưỡng, từ bỏ sự nỗ lực khổ hạnh, thì làm sao hiền giả có thể chứng đạt trí tuệ siêu việt.

Nghe vậy, Đức Thế Tôn đáp rằng:

– Này các Đạo sĩ, Như Lai không từ bỏ sự nỗ lực, Như Lai không rơi vào lợi dưỡng.

Này các đạo sĩ, Như Lai là bậc ALaHán Chánh giác, hãy lắng tai nghe NhưLai sẽ giảng pháp Bất tử mà Như Lai chứng đạt được.

Hãy thực hành pháp ấy, chẳng bao lâu các thầy sẽ thành tựu Thắng trí, tự mình chứng đạt an lạc tối thượng của đời sống Phạm hạnh.

Lần thứ hai … lần thứ ba …

Đức Thế Tôn phán hỏi năm thầy KiềuTrầnNhư rằng:

– Này các Đạo sĩ, trước đây có lần nào “Như Lai tuyên bố thành đạt pháp Bất tử” với các thầy không?

– Thưa hiền giả, quả thật không.

– Vậy này các Đạo sĩ, hãy lắng tai nghe, Như Lai sẽ thuyết giảng bất tử pháp mà Như Lai chứng đạt được.

Năm thầy KiềuTrầnNhư suy nghĩ: “Quả thật, từ khi phục vụ Samôn Gotama cho đến khi chúng ta rời bỏ Samôn Gotama, chúng ta không hề nghe Samôn Gotama dối trá.

Nay Samôn Gotama tuyên bố “đạt được pháp Bất tử”, điều này chắc chắn là sự thật. Như vậy, Samôn Gotama đã đạt được pháp Bất tử rồi”.

Lại nữa, “vào lúc Samôn Gotama thực hành tinh tấn khổ hạnh, nếu như vị ấy nói “Ta đã chứng đạt ALaHán”, chúng ta sẵn sàng tin ngay, nhưng Samôn Gotama không dối gạt chúng ta như vậy.

Giờ đây, Samôn Gotama chỉ nói đến “trạng thái  Bất tử” mà vị ấy đạt được, như vậy thật sự vị ấy đạt đến “trạng thái Bất tử”.

Chỉ một lời hỏi, Đức Thế Tôn mang niềm tin cùng với sự kính trọng đến “nhóm năm KiềuTrầnNhư”.

Và năm thầy KiềuTrầnNhư ngồi yên lặng lắng tai nghe Đức Thế Tôn “khai mở cửa Bất tử” qua bài kinh “Dhammacakkappavattana” (Chuyển Pháp Luân)([22]).

Kinh Chuyển Pháp Luân.

(Dhammacakkappavattanasuttaṃ).

Tatra kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói với nhóm năm vị Tỳkhưu rằng.

Dve me bhikkhave antā pabbajitena na sevitabbā. Katame dve?

Này các Tỳkhưu, đây là hai cực đoan mà bậc xuất gia không nên thực hành. Thế nào là hai?

Yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno, gammo, pothujjaniko, anariyo, anatthasañhito.

Đây là sự say đắm về dục lạc trong các dục, kém cỏi, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, không đem đến lợi ích.

Yo cāyaṃ attakilamathānuyogo dukkho, anariyo, anatthasañhito.

Đây là sự với việc hành hạ bản thân, đau khổ, không cao thượng, không đem đến lợi ích.

Ete te kho bhikkhave ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhaa cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.

Này các Tỳkhưu, sau khi từ bỏ hai cực đoan ấy, con đường giữa được Đấng Như Lai tự mình giác ngộ, khiến cho mắt được thấy, trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ Nípbàn.

Katamā ca sā bhikkhave majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhaa cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī  upasamāya sambodhāya nibbānāya saṃvatti.

Này các Tỳkhưu, thế nào là con đường giữa được Đấng Như Lai tự mình giác ngộ, khiến cho mắt được thấy, trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ Nípbàn?

Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathīdaṃ?

Đó là con đường cao quý có 8 chi phần, là thế nào?

Sammādiṭṭhi, sammasaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, samma-ājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.

Là “thấy đúng”, “suy nghĩ đúng”, “nói đúng”, “làm đúng”, “nuôi mạng đúng”, “nỗ lực đúng”, “ghi nhận đúng” và “định tâm đúng”.

Ayaṃ kho sā bhikkhave majjhimā paṭipadā Tathāgatean abhisambuddhaa cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.

Này các Tỳkhưu, con đường giữa ấy đã được Đấng Như Lai tự mình giác ngộ, khiến cho mắt được thấy, trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ Nípbàn.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhaṃ ariyasaccaṃ jātipi dukkhā jarāpi dukkhā byādhipi dukkhā maraṇampi dukkhaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā appiyehi sampayogo dukkho piyehi vippayogo dukkho yampicchaṃ nalabhati. Tampi dukkhaṃ saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.

Này các Tỳkhưu, đây là “ sự thật cao quý” về khổ là: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu-bi-khổ-ưu-ai cũng khổ, gắn bó với những gì không ưa thích là khổ, chia lìa với những gì ưa thích là khổ, không đạt được điều mong nuốn là khổ. Tóm lại, “nắm giữ năm uẩn là khổ”.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhasamudayo ariyasaccaṃ yāyaṃ taṅhā ponobhavikā nandirāgasahagatā. Tatrā tatrābhinandinī seyyathīdaṃ kāmataṅhā bhavataṅhā vibhavataṅhā.

Này các Tỳkhưu, đây là “sự thật cao quý” về “sự hội hợp sinh khổ”, đó là “ái ” đưa đến tái sinh, liên kết với khoái lạc và đắm nhiễm. Có sự thỏa thích ờ nơi này nơi khác, tức là: “ái dục”, “ái hữu”, “ái phi hữu”.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodho ariyasaccaṃ yo tassāyeva taṅhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.

Này các Tỳkhưu, đây là “sự thật cao quý” về “sự diệt khổ”. Đó là sự dứt bỏ, sự dứt ra khỏi, sự giải thoát, sự không còn chỗ nương tựa, sự diệt tận và dứt bỏ lòng say đắm không còn dư sót của chính ái ấy.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathīdaṃ?

Này các Tỳkhưu, đây là “sự thật cao quý” về sự thực hành theo con đường đưa đến sự diệt khổ, là thế nào?

Sammādiṭṭhi, sammasaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, samma-ājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.

Là “thấy đúng”, “suy nghĩ đúng”, “nói đúng”, “làm đúng”, “nuôi mạng đúng”, “nỗ lực đúng”, “ghi nhận đúng” và “định tâm đúng”.

* Idaṃ dukkhaṃ ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ upapādi ñānaṃ upapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự khổ.

Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyyanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe:Đây là “sự thật cao quý” về sự khổ được hiểu rõ.

Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññatanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe:Đây là “sự thật cao quý” về sự khổ đã được hiểu rõ.

* Idaṃ dukkhasamudayo ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ upapādi ñānaṃ upapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự “hội hợp sinh lên khổ”.

Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự “hội hợp để sinh lên khổ” cần phải dứt bỏ.

Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahīnanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự “hội hợp để sinh lên khổ”đã được dứt bỏ.

* Idaṃ dukkhanirodho ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ upapādi ñānaṃ upapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe:Đây là “sự thật cao quý” về sự diệt khổ.

Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo ariyasaccaṃ sacchikātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự diệt khổ  cần được chứng ngộ.

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ sacchikatanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự diệt khổ đã được chứng ngộ.

* Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ upapādi ñānaṃ upapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự “thực hành con đường đưa đến diệt khổ”.

Taṃ kho panidaṃ dukkhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabbanti  me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự “thực hành con đường đưa đến diệt khổ” cần phải tu tập.

Taṃ kho panidaṃ dukkhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvitanti  me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ  udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā upapādi vijjā upapādi āloko udapādi.

Này các Tỳkhưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: Đây là “sự thật cao quý” về sự “thực hành cin đường đưa đến sự diệt khổ” đã được tu tập.

Yāvakīvañcame bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evantiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ nasuvisuddhaṃ ahosi.

Này các Tỳkhưu cho đến khi nào tri kiến thấy đúng thực chất của ta về ba luân (ba vòng xoay tròn) và mười hai thể (tính chất) trong bốn “sự thật cao quý” này chưa được thật sự thanh tịnh.

Neva tāvāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake sassamanabrāhmaṇiyā pajāya sadeva manussāya anuttaraṃ sammāsambōdhiṃ abhisambuddho paccaññāsiṃ

Này các Tỳkhưu, cho đến khi ấy ta chưa công bố về sự tối thượng Chánh giác: “Ta đã hoàn toàn giác ngộ” ở thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma vương, cõi Phạm thiên, các Samôn – Bàlamôn, các hạng chư thiên và loài người.

Yato ca kho me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evantiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassan suvisuddhaṃ ahosi.

Và này các Tỳkhưu, bởi vì tri kiến thấy đúng thực chất của ta về ba luân và mười hai thể trong bốn “sự thật cao quý” đã được thật sự thanh tịnh.

Athāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussaaya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho paccaññāsiṃ.

Này các Tỳkhưu, khi ấy ta công bố về sự tối thượng Chánh giác: “Ta đã hoàn toàn giác ngộ” trong thế gian, tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma vương, cõi Phạm thiên,  các Samôn – Bàlamôn, các hạng chư thiên và loài người.

Ñāṇañca  pana me dassanaṃ udapādi akuppā me vimutti ayamantimā jāti natthidāni punabbhavoti.

Hơn nữa trí tuệ và sự thấy biết của ta đã sinh khởi: “sự giải thoát của ta không thể thay đổi, đây là kiếp sống cuối cùng, từ nay không có sự tái sinh nữa”.

Idamavoca bhagavā attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinanduṃti.

Đức Thế Tôn giảng thuyết như vậy, nhóm năm Kiều Trần Như phát sinh hoan hỷ với lời dạy của Đức thế Tôn.

Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne āyasmato Koṇḍaññassa virajaṃ vītamalaṃ dhammaccakkhuṃ udapādi yaṅkiñci samudayadhammaṃ sabbantaṃ nirodhammanti.

Trong khi bài kinh này được thuyết giảng, pháp nhãn không nhiễm bụi, không vết nhơ đã sinh khởi đếnNgài KiềuTrầnNhư: “Điều gì có bản chất được sinh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tính hoại diệt”.

Pavattite ca bhagavatā dhammacakke bhummā devā saddamanussāvesuṃ etaṃ bhagavatā Bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ samaṇena vā brahmaṇena vā devena vā mārana vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.

Khi bánh xe Pháp được vận chuyển bởi Đức Thế Tôn, chư thiên ở địa cầu đã tán thán rằng:

“Bánh xe Pháp tối thượng đã được Đức thế Tôn vận chuyển ở BaLaNại, tại Isipatana trong rừng Nai, không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Samôn, bàlamôn, thiên nhân, Ma vương, Phạm thiên hoặc bất cứ ai ở trên đời”.

Bhummānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā cātummahārājikā devā saddamanussāvesuṃ.

Chư thiên cõi Tứ Đại vương nghe chư thiên ở Địa cầu tán thán, đồng nhau tán thán theo lời tán thán ấy.

Catummahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā tāvatiṃsā devā saddamanussāvesuṃ.

Chư thiên cõi ĐạoLơị  nghe chư thiên ở cõi Tứ Đại vương tán thán, đồng nhau tán thán theo lời tán thán ấy.

Tāvatiṃsānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā yāmā devā saddamanussāvesuṃ.

Chư thiên cõi DạMa nghe chư thiên ở cỏi ĐạoLợi tán thán, đồng nhau tán thán theo lời tán thán ấy.

Yāmānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā tusitā devā saddamanussāvesuṃ.

Chư thiên cõi ĐẩuSuất nghe chư thiên cõi DạMa tán thán, đồng nhau tán thán theo lời tán thán ấy.

Tusitānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā nimmānaratī devā saddamanussāvesuṃ.

Chư thiên cõi Hóa Lạc nghe chư thiên cõi ĐẩuSuất tán thán, đồng nhau tán thán theo lời tán thán ấy.

Nimmānaratīnaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā paranimmittavasavattī devā saddamanussāvesuṃ.

Chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại nghe chư thiên ở Hóa Lạc tán thán, đồng nhau tán thán theo lời tán thán ấy.

Paranimmittavasavattīnaṃ saddaṃ sutvā brahmakāyikā devā saddaṃmanussavesuṃ etaṃ bhagavatā bārāṇasiyaṃ isipatane migādāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appativattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brāhmunā vā kenaci vā lokasminti.

Chư Phạm thiên nghe tiếng tán thán của chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại, cùng nhau tán thán rằng:

“Bánh xe Pháp tối thượng đã được Đức thế Tôn vận chuyển ở BaLaNại, tại Isipatana trong rừng Nai, không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Samôn, bàlamôn, thiên nhân, Ma vương, Phạm thiên hoặc bất cứ ai ở trên đời”.

Itiha tena khaṇena tean muhuttena yāva brahmalokea saddo abbhuggaccī ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampi sampakampi sampavedhi.

Vào thời khắc ấy, vào giây phút ấy, lời tán thán đã lan khắp cõi trời Phạm Thiên. Cả mười ngàn thế giới đã bị lay chuyển, rung động, chấn động.

Appamāno ca uḷāro obhāso loke pāturahosi atikkammeva devānaṃ devānubhāvanti.

Ánh sáng kỳ diệu không thể do lường được đã hiện ra trong thế gian, vượt thắng hơn hào quang siêu phàm của chư thiên.

Athakho bhagavā udānaṃ udānesi aññāsi vata bho koṇḍañño aññāsi vata bho koṇḍaññoti.

Khi ấy Đức Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng rằng: “Koṇḍañña đã hiễu được, Koṇḍañña đã hiểu được”.

Itihidaṃ  āyamato Koṇḍaññassa aññakoṇḍañño tveva nāmaṃ ahosīti.

Do vậy, Đức KiềuTrầnNhư được gọi là ANhãKiềuTrầnNhư ([23]).

Khi dứt bài kinh “Chuyển Pháp luân”, Ngài Kiều Trần Như chứng đạt Thánh quả Dự Lưu.

Và Đức KiềưTrần Như đã bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, con có thể xuất gia trong Giáo pháp này không? Con có thể tu lên bậc trên với Đức Thế Tôn không?.

Đức Thế Tôn đưa bàn tay phải ra bảo rằng:

“Ehi bhikkhu svākhāto dhammo cara brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāya.

“Hãy đến đây Tỳkhưu” (ehi bhikkhu), pháp đã được khéo thuyết, hãy thực hành phạm hạnh đúng đắn để chấm dứt khổ đau” ([24]).

Theo bản Sớ Giải Phật Tông: Khi Đức Thế Tôn thuyết giảng kinh Chuyển Pháp Luân vừa dứt, quả địa cầu rung chuyển và 32 điều kỳ diệu phát sinh lên, tương tự như khi Bồtát nhập thai bào.

Theo bản Sớ giải kinh Chuyển Pháp luân: Khi Đức Thế Tôn vừa dứt câu “Dve me bhikkhave antā” âm thanh giảng pháp của Đức Thế Tôn vang rộng khắp 10.000 thế giới, thấu đến cõi Phạm Thiên Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭhā), Chư thiên và Phạm thiên chứng quả là 180 triệu vị.

Thời điểm Đức KiềuTrầnNhư chứng đắc Thánh Đạo Dự Lưu, khi ấy “Tăng bảo” (saṅgharatana) khời lên và hiển lộ vào thời điểm Đức Phật đưa tay gọi “ehi bhikkhu” đối với Ngài KiềuTrầnNhư.

Bấy giờ “Tam bảo” (Tiratana) đã hiển lộ trọn vẹn trên thế  gian.

* Tóm lược những ý chính trong kinh Chuyển Pháp Luân.

a- Hai cực đoan (dve antā).

Bậc xuất gia cần phải từ bỏ hai “thái quá” hay “cực đoan” là: “Đắm nhiễm trong dục lạc” và “khổ hạnh tự hành hạ xác thân”.

Danh từ antā được Đức Phật nhấn mạnh, để chỉ rõ ra “sự thái quá”.

Đối với năm dục lạc. Đó là sự luyến ái “khắn khít” với năm dục lạc. Và “cực đoan” này là  thấp hèn, kém cỏi, phàm tục, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc xuất gia, không xứng đáng tư cách của bậc Thánh.

Nói thế, không nên hiểu lầm “Đức Phật dạy môn đệ phải từ bỏ thọ dụng 5 dục: Sắc, thinh, hương, vị xúc”.

Điều được nhấn mạnh ở đây là “không đắm nhiễm trong dục ”, riêng bậc xuất gia thì càng giữ “tâm cho an tịnh” ở mức độ cao, dứt khoát phải  “từ bỏ quan hệ tình dục”.

Đối với các Thánh cư sĩ, các Ngài vẫn có gia đình như bà Visākhā, vua BìnhSa …

Đối với khổ hạnh. Tuy không phải “thấp kém”, “kém cỏi”, “phàm tục” như “đắm nhiễm trong dục lạc”; nhưng sự tự hành hạ thân xác cũng không mang lại lợi ích gì.

Vì ác-bất thiện pháp không phải do “bên ngoài”, nó nằm trong tâm. Tẩy rửa tội lỗi không phải “tẩy rửa thân xác”, mà “tẩy rửa” trong nội tâm.

b- Lý Tứ Đế. Nhìn chung “đây là lý nhân quả”.

Trước khi Đức Phật thuyết giảng kinh Chuyển Pháp Luân, “lý nhân quả” là điều không hiện khởi trên thế gian, Đức Phật đi từ quả để tìm nhân.

Vì sao? Vì “cái khổ” (quả) dễ dàng nhận thấy.

Đức Phật dẫn dắt chúng sinh đi từ “cái dễ nhận thức” đến “nhận thức điều vi tế, nhận thức được điều chưa từng biết.

Sự thật về khổquả, nó xuất phát từ nhân ái, tức là “sự thật về nhân sinh khổ”.

Đã có khổ tất phải có sự diệt khổ, “sự thật về sự diệt khổ” lại là quả. Và làm thế nào để “diệt khổ”? “Con đường dẫn đến diệt khổ” do chính Đức Phật tìm thấy, là nhân.

Nói cách khác: “xuyên suốt con đường bát chánh sẽ diệt được khổ”, tuy có thể nói “Diệt khổ là quả, con đường Bát chánh là nhân”, nhưng không nên hiểu “con đường Bát chánh sinh ra diệt khổ”.

Cần hiểu là “xuyên suốt con đường Bát chánh thì “sự diệt khổ hiển lộ”. Ví như xuyên suốt con đường thì thành phố hiện ra, không nên hiểu “con đường sinh ra thành phố”.

* Sự thật về khổ.

Khổ phổ biến là: Sinh, già, bệnh, chết. Bốn loại khổ này thường có đối với tất cả chúng sinh, tuy các chư thiên hay Phạm thiên không có “già bịnh” hiển lộ như nhân loại, nhưng các Ngài vẫn có “già bịnh” tiềm ẩn.

Khổ cá biệt. Không thích thú mà phải gắn bó, thích thú lại phải xa lìa và ước muốn mà không  được.

Khổ luân hồi. Là do “nắm giữ lấy năm uẩn”.

* Sự thật về “nhân sinh khổ. Đó là do ái (taṅhā).

Ái dục (kāmataṅhā). Là thích thú, dính mắc với sắc, thinh, hương, vị xúc.

Ái hữu (bhavataṅhā). Là tích thú dính mắc với “cái có”.

Ái phi hữu (bhavataṅhā). Là dính mắc vào “cái không có”.

Một số Giáo Thọ sư giải thích: “Ái hữu là chỉ cho thường kiến, ái phi hữu chỉ cho đoạn kiến”.

Một số Giáo thọ sư khác giải thích: “Ái hữu là “dính mắc vào cõi sắc”, gọi là sắc ái (rūpataṅhā); ái phi hữu là “dính mắc vào cõi Vô sắc”.

Các vị Giáo thọ sư này giải thích: Bậc Thánh Dự Lưu đã diệt trừ tất cả tà kiến (micchādiṭṭhi). Bậc Thánh ANaHàm đã diệt trừ toàn bộ “tham dục”. Nếu “ái hữu và ái phi hữu là tà kiến, thì bậc ANaHàm đã giải thoát khỏi sinh tử luân hồi (vì ba loại ái là: Ái dục, cùng hai loại ái: Ái hữu (chỉ cho thường kiến), ái phi hữu (chỉ cho đoạn kiến) đã bị sát trừ).

Nhưng thật tế bậc ANaHàm vẫn còn tái sinh, do vậy, ái hữu chỉ cho “ái sắc”, ái phi hữu chỉ cho “ái vô sắc”.

* Sự thật về sự diệt khổ.

Là chỉ cho Nípbàn (nibbāna). Nípbàn là trạng thái “chấm dứt hoàn hoàn và điều bị diệt ấy không còn sinh khởi lên được”.

Một định nghĩa khác về Nípbàn được Đức Thế Tôn dạy là:

Yo kho, bhikkhu rāgakkhayo dosa mohakkhayo idaṃ vuccati amataṃ:

 “Này Tỳkhưu, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, được gọi là bất tử. ([25]). (Bất tử (amata) là tên gọi khác chỉ cho Nípbàn).

Và:

Katamañca, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ?  Yo tassāyeva taṅhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.

Này các Tỳkhưu, thế nào là “sự thật cao quý về khổ diệt”? Chính là sự chấm dứt ô nhiễm, ái không có dư tàn” ([26]).

Như vậy, Nípbàn không phải là “cõi”,  không phải là “nơi trú của ngũ uẩn”, Nípbàn chỉ là “trạng thái chấm dứt ô nhiễm”.

Ví như người mù mắt bẩm sinh, người ấy tin tưởng vào vị Lương y đại tài, tìm những loại thuốc do vị lương y ấy chỉ bảo, thực hành những điều kiêng cử do vị ấy chỉ dạy.

Thời gian sau, người ấy sáng mắt, người ấy “biết rõ”: Ta không còn bị mù và bệnh mù này không còn cơ hội sinh lên nữa.

Cũng vậy, vị đệ tử vâng theo lời dạy của Đức Thế Tôn, thực hành Giới – Định – Tuệ, chứng được Nípbàn, vị ấy “biết rõ”: “Những ô nhiễm này đã bị diệt, những ô nhiễm này không còn sinh lại trong tương lai”. Đó là Nípbàn.

Như bậc Thánh Dự Lưu đã diệt trừ tà kiến và hoài nghi, cho dù có luân lưu trong tam giới lâu đến hàng ngàn kiếp trái đất thì tà kiến và hoài nghi không hề sinh khởi trong tâm vị Thánh Dự lưu ấy.

Tương tự như thế với bậc Nhất Lai, những phiền não thô là tham dục và sân không còn sinh khởi cho vị ấy, dù trong tâm của vị ấy đôi khi còn “tư tưởng hưởng dục lạc”, nhưng thân vị ấy không “quan hệ tình dục”, ngữ không nói “những lời tình tứ, trêu ghẹo với ẩn ý “quan hệ nhục cảm”.

Dù đôi khi trong tâm của vị Thánh Nhất Lai có khởi lên “bất bình, khó chịu”, nhưng thân của các Ngài không “tàn hại chúng sinh”, ngữ không “mắng nhiếc, thô lỗ với chúng sinh”. Những phiền não sân và ái dục thô ấy không hề sinh lại cho vị Thánh Nhất lai, cho dù vị ấy còn lăn trôi trong dục giới một kiếp.

Với Bậc Thánh ANaHàm đã diệt trừ “tham dục và sân”, dù cho có trôi nổi trong cõi Sắc giới hay cõi Vô sắc giới hàng ngàn kiếp trái đất, tham dục và sân không hề sinh khởi lại trong tâm của vị Thánh Bất Lai ấy.

Với vị Thánh ALaHán thì mọi ô nhiễm đã tận diệt, sau đời sống này, vị ấy sẽ viên tịch, không còn tái sinh dù với hình thức nào.

* Sự thật về “con đường diệt khổ”.

Đây là con đường tự Đức Thế Tôn tìm thấy, con đường này chư Phật Chánh Giác trong quá khứ  đã đi qua.

Ví như người trong rừng , tìm thấy con đường mà “người trước đã đ”, con đường ấy dẫn ra khỏi rừng. Cũng vậy, “con đường Bát chánh” này, chư Phật quá khứ đã từng đi qua, nói rộng hơn là “các Bậc Thánh đã từng đi qua”, như Đức Độc Giác, Đức ALaHán trong quá khứ … Con đường ấy, được Bồtát SĩĐạtTa tìm thấy.

Trong tương lai, chư Bồtát Chánh giác cũng tự mình tìm thấy con đường này, thực hành và trở thành bậc Chánh giác.

Như lời dạy của Đức Phật:

Ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ arahanto sammāsambuddhā yathābhūtaṃ abhisambujjhiṃsu, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ

“Này các Tỳkhưu, những bậc ALaHán Chánh Giác nào trong quá khứ như thật Chánh giác,  tất cả đã như thật Chánh giác bốn “sự thật cao quý” ([27]).

Con đường ấy gồm có 8 chi phần là:

1’- Chánh kiến (sammādiṭṭhi).

Là sự hiểu đúng, thấy đúng.

Nói về trí, trí có hai loại là:

Tùy giác trí (anubodhañāṇa). Là loại trí do nghe, do suy gẫm, do thực hành nhưng chưa chứng đắc Nípbàn. Tùy giác trí là “trí hiệp thế”.

Thông đạt trí (paṭivedhañāṇa). Là trí chứng đạt được Nípbàn, thông suốt cà “bốn sự thật cao quý”. Thông đạt trí là “trí siêu thế”.

Chánh kiến chính là trí thông đạt.

Như vậy chánh kiến có hai loại: Chánh kiếp hiệp thế và chánh kiến Siêu thế

Chánh kiến hiệp thế là loại trí:

– Hiểu biết nhân quả.

– Hiểu biết nghiệp báo.

– Thấy được một trong tam tướng.

Như bản kinh văn Kinh Chuyển Pháp Luân nêu: “Điều gì có bản chất được sinh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tính hoại diệt”.

Trong sátna chứng Đạo – quả Siêu thế, chánh kiến là trí nhận thức rõ Nípbàn, diệt trừ “Vô minh ngủ ngầm” ( avijjānusaya) và “thấu suốt bốn sự thật cao quý”. Như Phật ngôn:

“Yo, bhikkhave, dukkhaṃ passati dukkhasamudayampi so passati. Dukkhanirodhampi  passati, dukkhanirodhagāminim paṭipadampi passati.

“Này các Tỳkhưu, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy khổ tập, cũng thấy khổ diệt, cũng thấy con đường dẫn đến khổ diệt” ([28]).

Trạng thái: Là thấy đúng (sammādassanalakkhaṇā).

Phận sự: là hiểu biết rõ ràng (tathappakāsanarasā).

Thành tựu: Là diệt bóng tối vô minh (avijjandhakāraviddhaṃ sana paccupaṭṭhāṇā).

2’- Chánh tư duy (sammāsaṅkappa).

Chánh tư duy là “suy gẫm, tìm kiếm đúng”.

Trong đời sống thường nhật, “chánh tư duy” là: “Ly dục tầm” (nekkhammavitakka), “ly sân tầm” (asosavitakka) và “ly hại tầm” (ahiṃsavitakka).

Nói cách khác, chánh tư duy bao gồm : Vô tham , tâm từ và tâm bi.

Trong sátna chứng Đạo – quả Siêu thế, “tìm kiếm đúng” là đưa tâm cùng với những tânm sở đồng sinh “tiếp cận với Nípbàn” và trừ diệt tà tư duy.

Trạng thái: Là “tìm kiếm “đúng” (sammācittādhiniropanalakkhaṇo).

Phận sự: Là kiên định (appanāraso).

Thành tựu: Là đoạn trừ tà tư duy (micchāsaṅkappapahānapaccupaṭṭhāno).

3’Chánh ngữ (sammāvācā).

Là “nói đúng”. Trong đời sống thường nhật là lánh xa: Nói dối, nói ác, nói chia rẻ và nói vô ích.

Ngoài ra còn: Nói đúng sự thật, nói có lợi ích và nói hợp thời.

Trong sátna chứng đạo và quả Siêu thế thì chánh ngữ phối hợp cùng chánh tư duy để “ngăn ngừa hư ngụy” và diệt trừ tà ngữ.

Trạng thái: Là “thu nhận các pháp” (paṭiggahalakkhaṇā).

Phận sự: Là “gìn giữ” (vinamaṇarasā).

Thành tựu: Là diệt trừ tà ngữ (micchāvācāppahānapaccupaṭṭhānā).

4’- Chánh nghiệp (sammākammanta).

Là “làm đúng”. Trong đời sống thường nhật, “làm đúng” là lánh xa ba thân ác hạnh là: Không sát sinh, không lấy của không cho, không tà hạnh trong các dục.

Không hành năm nghề như: Buôn bán người, buôn bán thú, buôn bán vũ khí, buôn bán chất độc, buôn bán chất say.

Ngoài ra còn “dùng thân” để tạo phước như : Bố thí, cung kỉnh, phục vụ, làm lợi ích đến người khác bằng thân …

Trong sátna chứng Đạo và quả Siêu thế, “làm đúng” là phối hợp với chánh tư duy “hướng dẫn các pháp đồng sinh  đến đúng đối tượng là Nípbàn”, đồng thời diệt trừ ba tà nghiệp về thân.

– Trạng thái: Là “làm việc đáng làm” (samuṭṭhāpanalakkhaṇo).

– Phận sự: Là “gìn giữ” (vinamaṇarasā).

– Thành tựu: Là “diệt trừ làm sái quấy” (micchākammantappahānapaccupaṭṭhāna).

5’- Chánh mạng (sammā ājiva).

Là “nuôi mạng đúng”. Trong đời sống thường nhật thì “lánh xa sự nuôi mạng sái quấy”, như không hành 5 nghề ở trên để nuôi mạng sống, không lừa đảo, không gian trá …

Ngoài ra còn sống theo cách của bậc Thánh là “biết đủ và ít ham muốn”.

Trong sátna đắc Đạo, quả Siêu thế, cháng mạng mang ý nghĩa “thuần khiết”, phối hợp với chánh tư duy diệt trừ “tà mạng”.

– Trạng thái: Là “trong sạch” (vodānalakkhaṇaṃ).

– Phận sự: Là “nuôi mạng đúng” (ñāyājīvapavattiraso).

– Thành tựu: Là “diệt trừ tà mạng” (micchājīvappahānapaccupaṭṭhāno).

6’- Chánh cần (sammāvāyāma).

Là “nỗ lực, cố gắng đúng”. Trong đời sống thường nhật chánh cần là:

– Cố gắng làm cho những pháp bất thiện chưa sinh, không sinh khởi.

– Cố gắng làm cho những pháp bất thiện đang có, bị tiêu diệt.

– Cố gắng làm cho những pháp thiện chưa sinh, được sinh khởi.

– Cố gắng làm cho những pháp thiện đang có, được tăng trưởng.

Ngoài ra còn nổ lực để “chịu đựng” những nghịch cảnh, những quả ác nghiệp đang sinh khởi và “diệt trừ sự biếng nhác” do:  Nóng quá, lạnh quá, đót quá, khát quá, vừa chớm bịnh, bịnh vừa khỏi, sắp đi xa, đi xa mới về.

Trong sátna chứng Đạ0, quả Siêu thế, chánh cần “nổ lực quét sạch các chướng ngại”, phối hợp với “chánh mạng”, cố gắng “thanh khiết hóa” các pháp đồng sinh, đồng thời diệt trừ “cố gắng sái quấy” (tà tinh tấn).

Trạng thái: Là “vươn lên” (paggahalakkhaṇo).

– Phận sự: Là “không cho bất thiện khởi lên” (anuppanna akusalānuppādanādiraso).

– Thành tựu: Là “trừ diệt nổ lực sái quấy”. (micchāvāyāmappahānapaccupaṭṭhāno).

7’- Chánh niệm (sammāsati).

Là “ghi nhận hay ghi nhớ đúng”. Trong đời sống thường nhật, khi “ghi nhận ” danh sắc theo hai khía cạnh “định danh” và “thực tướng”.

– Đinh danh như: Đất, nước, lửa gió, đi đứng, nằm, ngồi …

– Thực tướng là “danh hay sắc”, như: tâm tham, tâm sân, sắc cảnh sắc, sắc cảnh thinh …

Đây chỉ là “ghi nhận” hay “ghi nhớ” (sati).

Khi “ghi nhận” được tướng vô thường, tướng khổ, tướng vô ngã. Khi ấy là “ghi nhận đúng” (sammāsati – chánh niệm).

Trong sátna chứng đạt Đạo, quả Siêu thế, chánh niệm phối hợp với chánh cần, giúp cho tâm không nhầm lẫn khi tiếp cận với Nípbàn, đồng thời chánh niệm diệt trừ tà niệm.

Trạng thái: Là “ghi nhớ” hay “chú ý” (upaṭṭhānalakkhanā).

Phận sự: Là “không quên lảng”(asammussanarasā).

Trạng thái: Là “diệt trừ ghi nhận sai” (micchāsatippahānapaccupaṭṭhānā).

8’- Chánh định (sammāsamādhi).

Là “vững trú đúng”. Trong đời sống thường nhận, khi an trú tâm vững chắc vào một cảnh, gọi là định.

Có hai loại định là: Định thiền cảnh và định thiền tướng.

Định thiền cảnh. Là an trú tâm vững chắc vào cảnh chế định như “đất, nước, lửa, gió, hơi thở …”.

Định thiền tướng. Là an trú tâm vững chắc vào một trong ba tướng là: Tướng vô thường, tướng khổ hay tướng vô ngã.

Định thiền tướng gọi là chánh định.

Trong sátna chứng đạt Đạo, quả Siêu thế, chánh định gom những danh pháp đồng sinh cùng an trú vào cảnh Nípbàn, đồng thời chánh định diệt trừ tà định.

– Trạng thái: Là “không tán loạn” (avikkhepalakkhaṇo)

– Phận sự. Là “tập trung” (samādhānaraso).

– Thành tựu: Là “diệt trừ tà định” (micchāsamādhippahānapaccupaṭṭhāno).

c- Ba luân, mười hai thể (tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ).

Ba luân. Là ba sự xoay chuyển như vòng tròn, đó là:

– Trí hiểu sự thật (saccaññāṇa).

– Trí hiểu phận sự phải thực hành (kiccaññāṇa).

– Trí hiểu phận sự đã làm xong (kataññāna).

Ví như vị Tỳkhưu trong pháp Luật của Đức Thế Tôn có hai phận sự là: Học pháp và hành pháp.

Vị ấy hiểu rõ “phải học pháp”, “học pháp” và “đã học pháp xong”.

Hiểu rằng “phải thực hành pháp”, “thực hành pháp” và “đã thực hành pháp xong”.

* Trí hiểu rõ về sự thật. Là chỉ cho trí quán

Mỗi “sự thật” có ba”vòng quay” (pavatta), nhân bốn “sự thật” thành mười hai thể.

“Sự thật về khổ”có ba là: Hiểu biết “về khổ”, “hiểu rõ về khổ”, và “đã hiểu rõ về khổ”.

“Sự thật về nhân sinh khổ” có ba là: Hiểu biết “về nhân sinh khổ”, “nhân sinh khổ ấy cần phải đoạn trừ” và “Đã đoạn trừ được nhân sinh khổ ấy”.

“Sự thật về diệt khổ”có ba là: “Hiểu rõ sự diệt khổ”, “sự diệt khổ cần  chứng đắc” và “đã chứng đắc sự diệt khổ”.

“Sự thật về con đường dẫn đến diệt khổ” có ba là: “Hiểu rõ con đường dẫn đến diệt khổ”, “tu tiến về con đường dẫn đến diệt khổ” và “đã tu tiến xong”.

“Sự thật về  khổ”phải hiểu như thế nào? Là hiểu rõ:

Trạng thái. Là “phiền muộn, đau khổ” (badhānalakkhaṇaṃ)

– Phận sự. Là “nóng bức”(santāpanarasaṃ).

Thành tựu. Là “hiện bày ra” (pavattipaccupaṭṭhānaṃ).

“Sự thật về hội hợp của khổ” phải hiểu như thế nào?  Là hiểu rõ:

Trạng thái. Là “sinh ra” (pabhavalakkhaṇaṃ).

– Phận sự. Là “không gián đoạn” (anupacchedakaraṇarasaṃ).

– Thành tựu. Là “cản trở” (palibodhapaccupaṭṭhānaṃ).

“Sự thật về diệt khổ phải hiểu như thế nào? Là hiểu rõ:

– Trạng thái. Là “an tịnh” (santilakkhaṇaṃ).

– Phận sự. Là “bất tử” (accutirasaṃ)

– Thành tựu. Là “không có dấu vết”(năm uẩn) (animittapaccupaṭṭhānaṃ).

“Sự thật về con đường dẫn đến diệt khổ”, phải hiểu như thế nào? Là hiểu rõ:

– Trạng thái. Là “lối thoát ra” (niyyānalakkhaṇaṃ).

– Phận sự. Là “diệt trừ nhơ bẩn” (kilesapahānarasaṃ).

– Thành tựu. Là “thoát ra” (vuṭṭhānapaccupaṭṭhānaṃ).

Có câu hỏi rằng: Đức Thế Tôn gọi “này các Tỳkhưu”, do ý nghĩa nào? Vì sao Đức KiềuTrầnNhư đã là Tỳkhưu rồi lại còn xin xuất gia Tỳkhưu trong Giáo pháp này?

Đáp. Ngài Buddhaghosa (Giác Âm) trong tác phẩm Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) chương giải rộng về Giới ([29]), có giải thích từ Tỳkhưu như sau: Bhikkhūti saṃsare bhayaṃ ikkhanatāya:

Tỳ khưu là người thấy sợ hãi trong luân hồi”.

Vā bhinnapaṭadharāditāya vā evaṃ laddhavohāto saddhāpabbajito kulaputto:

Hoặc: Là người tẩy sạch “nhơ bẩn” hay: Là thiện nam tử xuất gia vì niềm tin .

Ngài Dhammapālā giải thích ([30]):

“Tỳkhưu là người đoạn tận tất cả phiền não (bhinnakilesatāya)”([31]).

Như vậy, Tỳkhưu có 5 nghĩa là:

– Là người có phẩm mạo xuất gia do niềm tin.

– Là người nuôi mạng chân chánh bằng cách đi “xin ăn”.

– Là người có tâm kinh cảm, sợ hãi luân hồi.

– Là người đoạn trừ những ô nhiễm trong tâm.

– Là bậc đã diệt trừ mọi ô nhiễm (chỉ cho bậc Thánh ALaHán).

Do đó, tuy các Ngài trong “nhóm năm KiềuTrầnNhư” chưa được nghe pháp của Đức Thế Tôn, nhưng Đức Thế Tôn vẫn gọi “này các Tỳkhưu”, Tỳkhưu ở đây “chỉ cho bậc xuất gia”.

Sau khi chứng quả Dự Lưu, Đức KiềuTrầnNhư xin xuất gia, là “xuất gia trong giáo pháp của Đức Thế Tôn”.

Nghĩa là nhận Đức Thế Tôn là “Bậc Đạo sư của mình”, vì rằng: “Tuy là bậc xuất gia, không còn phẫm mạo cư sĩ, nhưng có thể xuất gia theo giáo pháp khác”, như Đạo sĩ ATưĐà, nhóm môn đệ của Sañjiva, nhóm môn đệ của Nigantha Nātaputta …

Mặt khác, tuy phục vụ cho Đức Bồtát SĩĐạtTa, nhưng “nhóm năm KiềuTrầnNhư” chỉ xem Bồtát là bạn, do vậy thường gọi là “āvuso”. Các vị ấy suy nghĩ: Bao giờ SĩĐạtTa tìm ra pháp giải thoát, giúp chúng ta giải thoát, khi ấy chúng ta mới tôn vị ấy là “thầy”.

Chính vì thế, khi Đức KiềuTrầnNhư chứng quả Dự Lưu, Ngài xin xuất gia trong Giáo pháp này để tỏ ra “kính trọng Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của mình”.

Hôm sau, trong khi ba vị đi khất thực, hai vị phục vụ cho Đức Thế Tôn, Ngài Vappa được Đức Thế Tôn tế độ chứng quả Dự lưu và Ngài Vappa được xuất gia theo cách “ehi bhikkhu”.

Tiếp theo, ngày hôm sau thì Ngài Bhaddiya chứng quả Dự Lưu và cũng xuất gia theo cách Ehibhikkhu.

Ngày thứ tư đến Ngài Mahānāma chứng quả dự lưu và cũng xuất gia theo cách Ehibhikkhu.

Ngày thứ năm đến Ngài Assaji chứng quả Dự Lưu và cũng xuất gia theo cách Ehibhikkhu.

Vào ngày thứ sáu (tức là vào ngày 20 – 6 âl, theo lịch VN), Đức Thế Tôn thuyết bài kinh Vô ngã tướng (Anattalakkhaṇa suttaṃ) ([32]).

Dứt bài kinh Vô ngã tướng, tâm của năm Ngài KiềuTrầnNhư thoát khỏi mọi ô nhiễm, các Ngài đều chứng quả ALaHán.

Bấy giờ trên thế gian có một vị Chánh Giác và năm vị Thánh ALaHán.

Kinh Vô ngã Tướng.

(Anattalakkhaṇasuttaṃ).

Tatra kho Bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi.

Đức Thế Tôn đã dạy nhóm năm vị Tỳkhưu rằng:

Rūpaṃ bhikkhave anattā.

Này các Tỳkhưu, sắc là vô ngã.

Rūpañca  hidaṃ bhikkhave attā abhavissa na yidaṃ rūpaṃ ābādhāya saṃvatteyya. Labbhetha ca rūpe evaṃ me rūpaṃ hotu evaṃ  me rūpaṃ  mā ahosi.

 Này các Tỳkhưu, nếu sắc này là ngã thì sắc này không thể đi đến bệnh và có thể đạt được sắc (theo ý muốn) rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, sắc của ta đừng trở thành như vầy”.

Yasmā ca kho bhikkhave rūpaṃ anattā tasmā rūpaṃ ābādhāya saṃvattati. Na ca labbhati rūpe evaṃ me rūpaṃ hotu evaṃ me rūpaṃ mā ahosīti.

Này các Tỳkhưu, sắc là vô ngã, do đó sắc đi đến bệnh và không thể đạt được ở sắc (theo ý muốn) rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, sắc của ta đừng trở nên như vầy.

* Vedanā anattā. Thọ là vô ngã.

Vedanā ca hidaṃ bhikkhave attā abhavissa na yidaṃ, vedanā ābādhāya saṃvatteyya. Labbhetha ca vedanāya evaṃ me vedanā hotu evaṃ  me vedanā  mā ahosi.

Này các Tỳkhưu, nếu thọ này là ngã thì thọ này không thể đi đến bệnh và có thể đạt được thọ (theo ý muốn) rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, thọ của ta đừng trở thành như vầy”.

Yasmā ca kho bhikkhave vedanā anattā tasmā vedanā ābādhāya saṃvattati. Na ca labbhati vedanāya evaṃ me vedanā hotu evaṃ me vedanā mā ahosīti.

Này các Tỳkhưu, thọ là vô ngã, do đó thọ đi đến bệnh và không thể đạt được ở thọ (theo ý muốn) rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, thọ của ta đừng trở nên như vầy.

* Saññā anattā.

Tưởng là vô ngã.

Saññā ca hidaṃ bhikkhave attā abhavissa na yidaṃ, vedanā ābādhāya saṃvatteyya. Labbhetha ca saññāya evaṃ me saññā hotu evaṃ  me saññā  mā ahosi.

Này các Tỳkhưu, nếu tưởng này là ngã thì tưởng này không thể đi đến bệnh và có thể đạt được tưởng (theo ý muốn) rằng: “Tưởng của ta hãy là như vầy, tưởng của ta đừng trở thành như vầy”.

Yasmā ca kho bhikkhave saññā anattā tasmā saññā ābādhāya saṃvattati. Na ca labbhati saññāya evaṃ me saññā hotu evaṃ me saññā mā ahosīti.

Này các Tỳkhưu, tưởng là vô ngã, do đó tưởng đi đến bệnh và không thể đạt được ở tưởng (theo ý muốn) rằng: “Tưởng của ta hãy là như vầy, tưởng của ta đừng trở nên như vầy.

* Saṅkhārā anattā.

Hành là vô ngã.

Saṅkhārā ca hidaṃ bhikkhave attā abhavissa na yidaṃ, saṅkhārā ābādhāya saṃvatteyya. Labbhetha ca saṅkhāresu evaṃ me saṅkhārā hotu evaṃ  me saṅkhārā  mā ahosi.

Này các Tỳkhưu, nếu hành này là ngã thì hành này không thể đi đến bệnh và có thể đạt được hành (theo ý muốn) rằng: “Hành của ta hãy là như vầy, hành của ta đừng trở thành như vầy”.

Yasmā ca kho bhikkhave saṅkhārā anattā tasmā saṅkhārā ābādhāya saṃvattati. Na ca labbhati saṅkhāresu evaṃ me saṅkhārā hotu evaṃ me saṅkhārā mā ahosīti.

Này các Tỳkhưu, hành là vô ngã, do đó hành đi đến bệnh và không thể đạt được ở hành (theo ý muốn) rằng: “Hành  của ta hãy là như vầy, hành của ta đừng trở nên như vầy.

* Viññānaṃ anattā.

Thức là vô ngã.

Viññāṇañca hidaṃ bhikkhave attā abhavissa na yidaṃ, viññāṇaṃ ābādhāya saṃvatteyya. Labbhetha ca viññāṇe evaṃ me viññāṇaṃ hotu evaṃ  me viññāṇaṃ mā ahosi.

Này các Tỳkhưu, nếu thức này là ngã thì thức này không thể đi đến bệnh và có thể đạt được thức (theo ý muốn) rằng: “Thức của ta hãy là như vầy, thức của ta đừng trở thành như vầy”.

Yasmā ca kho bhikkhave viññāṇaṃ anattā tasmā viññāṇaṃ ābādhāya saṃvattati. Na ca labbhati viññāṇe evaṃ me viññāṇaṃ hotu evaṃ me viññāṇaṃ mā ahosīti.

Này các Tỳkhưu, thức là vô ngã, do đó thức đi đếnbệnh và không thể đạt được ở thức (theo ý muốn) rằng: “Thức  của ta hãy là như vầy, thức của ta đừng trở nên như vầy.

* Taṃ kiṃ maññatha bhikkhave rūpaṃ nicaṃ vā aniccaṃ vā ti?

Này các Tỳkhưu, các vị nghĩ gì về sắc ấy, thường hay vô thường?

Aniccaṃ bhante.

Bạch Ngài, là vô thường.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā ti?

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?

Dukkhaṃ bhante.

Bạch Ngài, là khổ.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ viparināmadhammaṃ kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama eso hamasmi eso me attāti?

Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có đúng không khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là ta là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?

No hetaṃ bhante.

Bạch Ngài, không đúng.

* Taṃ kiṃ maññatha bhikkhave vedanā nicaṃ vā aniccaṃ vā ti?

Này các Tỳkhưu, các vị nghĩ gì về thọ ấy, thường hay vô thường?

Aniccaṃ bhante.

Bạch Ngài, là vô thường.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā ti?

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?

Dukkhaṃ bhante.

Bạch Ngài, là khổ.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ viparināmadhammaṃ kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama eso hamasmi eso me attāti?

Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có đúng không khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là ta là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?

No hetaṃ bhante.

Bạch Ngài, không đúng.

* Taṃ kiṃ maññatha bhikkhave saññā nicaṃ vā aniccaṃ vā ti?

Này các Tỳkhưu, các vị nghĩ gì về tưởng ấy, thường hay vô thường?

Aniccaṃ bhante.

Bạch Ngài, là vô thường.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā ti?

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?

Dukkhaṃ bhante.

Bạch Ngài, là khổ.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ viparināmadhammaṃ kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama eso hamasmi eso me attāti?

Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có đúng không khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là ta là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?

No hetaṃ bhante.

Bạch Ngài, không đúng.

* Taṃ kiṃ maññatha bhikkhave saṅkhārā nicaṃ vā aniccaṃ vā ti?

Này các Tỳkhưu, các vị nghĩ gì về hành ấy, thường hay vô thường?

Aniccaṃ bhante.

Bạch Ngài, là vô thường.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā ti?

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?

Dukkhaṃ bhante.

Bạch Ngài, là khổ.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ viparināmadhammaṃ kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama eso hamasmi eso me attāti?

Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có đúng không khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là ta là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?

No hetaṃ bhante.

Bạch Ngài, không đúng.

* Taṃ kiṃ maññatha bhikkhave viññāṇaṃ nicaṃ vā aniccaṃ vā ti?

Này các Tỳkhưu, các vị nghĩ gì về thức ấy, thường hay vô thường?

Aniccaṃ bhante.

Bạch Ngài, là vô thường.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā ti?

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?

Dukkhaṃ bhante.

Bạch Ngài, là khổ.

Yampanāniccaṃ dukkhaṃ viparināmadhammaṃ kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama eso hamasmi eso me attāti?

Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có đúng không khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là ta là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?

No hetaṃ bhante.

Bạch Ngài, không đúng.

* Tasmā tiha bhikkhave yaṅkiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yandūre santike vā sabbaṃ rūpaṃ, netaṃ mamo neso hamasmi na meso attāti evametaṃ  yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.

Này các Tỳkhưu, như thế trong trường hợp này, bất cứ sắc nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân hay ngoài thân, là thô kệch hay vi tế, là kém cỏi hay cao quý, là ở xa hay ở gần, nên thấy toàn bộ sắc ấy là:“Cái này không phải là của ta, không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.

* Yākāci vedanā atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yandūre santike vā sabbā vedanā, netaṃ mamo neso hamasmi na meso attāti evametaṃ  yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.

Trong trường hợp này, bất cứthọ nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân hay ngoài thân, là thô kệch hay vi tế, là kém cỏi hay cao quý, là ở xa hay ở gần, nên thấy toàn bộ thọ ấy là:

“Cái này không phải là của ta, không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.

* Yākāci saññā atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yandūre santike vā sabbā saññā, netaṃ mamo neso hamasmi na meso attāti evametaṃ  yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.

Trong trường hợp này, bất cứ tưởng nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân hay ngoài thân, là thô kệch hay vi tế, là kém cỏi hay cao quý, là ở xa hay ở gần, nên thấy toàn bộ tưởng ấy là: “Cái này không phải là của ta, không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.

* Yākāci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yandūre santike vā sabbe saṅkhārā, netaṃ mamo neso hamasmi na meso attāti evametaṃ  yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.

Trong trường hợp này, bất cứ hành nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân hay ngoài thân, là thô kệch hay vi tế, là kém cỏi hay cao quý, là ở xa hay ở gần, nên thấy toàn bộ hành ấy là:“Cái này không phải là của ta, không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.

* Yaṅkiñci viññāṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yandūre santike vā sabbaṃ viññāṇaṃ, netaṃ mamo neso hamasmi na meso attāti evametaṃ  yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.

Trong trường hợp này, bất cứ thức nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân hay ngoài thân, là thô kệch hay vi tế, là kém cỏi hay cao quý, là ở xa hay ở gần, nên thấy toàn bộ thức ấy là:“Cái này không phải là của ta, không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.

*Evaṃ passaṃ bhikkhave sutvā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati vedanāyapi nibbindati saññāsupi nibbindati saṅkhāresupi nibbindati viññāṇasmimpi nibbindati.

Này các Tỳkhưu, khi đã thấy được như thế, vị Thánh Thinh văn đệ tử không còn thích thú sắc, không còn thích thú thọ, không còn thích thú tưởng, không còn thích thú hành, không còn thích thú thức.

Nibbindaṃ virajjati virāgā vimuccati.

Do không thích thú, vị ấy thoát ra khao khát, được giải thoát.

Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti khīṇā jāti vusitaṃ brahmacariyam. kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ itthattāyāti pajānātīti.

Trong khi giải thoát trí khởi lên rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn phải làm gì nữa”.

Idamavo ca bhagavā. Attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinanduṃ.

Đức Thế Tôn đã giảng về điều ấy. Các Tỳkhưu nhóm năm vị  hoan hỷ thâu nhận lời dạy của Đức Thế Tôn.

Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne pañcavaggiyānaṃ bhikkhūnaṃ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṃsūti.

Và trong khi bài kinh này được thuyết giảng, tâm của năm vị Tỳkhưu không còn chấp thủ, đã được giải thoát tất cả ô nhiễm ([33]).

Có câu hỏi rằng: Năm Ngài nhóm KiềuTrầnNhư đã chứng quả Dự Lưu, diệt trừ tà kiến về “tự ngã” rồi. Vì sao Đức thế Tôn lại thuyết lên kinh Vô ngã tướng?

Đáp. Tuy năm Ngài chứng quả Dự Lưu, đã diệt trừ tất cả tà kiến về “bản ngã”, nhưng “lý vô ngã” các Ngài chưa nắm vững.

Lý vô ngã chỉ hiển lộ trong thời có Giáo pháp của Đức Chánh Giác mà thôi và chính Đức Chánh giác đã làm hiển lộ “lý vô ngã” này.

Trong thời không có Giáo pháp của Đức Chánh Giác, chư Bồtát có thể hiểu “lý vô thường”, “lý khổ ”, nhưng “lý vô ngã” thì các Ngài không hiểu biết. Chư Phật Độc Giác có thể thấu hiểu “lý vô ngã”, nhưng chư Độc Giác Phật không thể làm hiển lộ được.

Mặt khác, tuy năm Ngài KiềuTrầnNhư  biết “năm uẩn là hư ảo”, nhưng vẫn còn thích thú với chúng. Ví như người “biết là vàng giả”, nhưng vẫn thích “mang nữ trang giả để trang điểm”.

Vì còn thích thú với “năm uẩn”, nên vẫn còn bị phiền não chi phối, chưa giải thoát mọi ô nghiễm. Như Đức Phật dạy:

“Yā rupe nandī tadupādānaṃ tassupādā napaccayābhavo, bhavapaccayā jāti; jāti paccayā jarāmaranaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti”

“Do thích thú với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sinh khởi lên. Do duyên sinh, già chết sầu bi khổ ưu não khởi lên” ([34]).

Tương tự với thọ tưởng, hành và thức. Do vậy, Đức Phật dạy:

“Do  không thích thú, vị ấy thoát ra khao khát, được giải thoát.” (Bản kinh Vô ngã tướng).

* Vương quốc Kāsi.

Kāsi là một trong 16 quốc độ thời Đức Phật, kinh đô là Bārāṇasī (BaLaNại). Vào thời Đức Phật, Kāsi là nước chư hầu của vua Pasenadi (PaTưNặc), vua PaTưNặc trị vì cả hai nơi là Kosala (KiềuTấtLa) và Kāsi, nhưng trong Luật Đại phẩm (Mahāvagga) có nói đến “vua xứ Kāsi” ([35]) tặng cho lương y Jīvaka mền len.

Ngài Buddhaghosa (Giác Âm) có giải thích: Đó là một người anh cùng cha với vua PaTưNặc, có lẽ cũng là phó vương của vua PaTưNặc.

Thuở xưa, Kāsi do các lãnh chúa (bhārata) trị vì, vào thời vua Reṇu, Bàlamôn Mahā Govinda phân chia đất Ấn cổ thành 7 phần và vua Dhataraṭṭha được xem là vị vua đầu tiên của quốc độ Kāsi ([36]).

Vương quốc Kāsi rộng 300 dotuần ([37]), kinh đô là BaLaNại.

Giữa Kāsi và KiềuTấtLa thường có chiến tranh, sự thắng bại thay đổi tùy thời. Có lần vua Dīghīti của vương quốc KiềuTấtLa bị vua xứ Kāsi đánh bại, nhưng không bao lâu con của vua Dīghīti là Dīghāyu (Trường Thọ) chiếm lại vương quốc KiềuTấtLa ([38]).

Trong một trận chiến khác, vua Mahāsilava xứ Kāsi bị vua xứ KiềuTấtLa bắt, nhưng sau đó ông được phục hồi vương vị ([39]).

Cácvị vua xứ Kāsi thường lấy danh hiệu là Brahmadatta (Phạm thiên ban cho), danh hiệu này thường thấy xuất hiện trong các câu truyện “tiền thân Đức Phật” (Jātaka), đôi khi cũng được gọi là Kāsirājā.

Vào thời Đức Phật Kassapa (CaDiếp), Kāsi là một đại quốc hùng mạnh, trị vì nước này là vua Kikī ở kinh thành BaLaNại.

Đức vua Kikī có 8 nàng công nương, công nương Uracchadā đắc quả ALaHán lúc 16 tuổi, vị Thánh nữ ALaHán ấy viên tịch ngay trong ngày ấy. Còn 7 công nương còn lại là: Samanī, Samanā, Guttā, Bhikkhudāsikā, Dhammā, Sdhammā và Saṅghadāsī.

Bảy công nương trên, trở thành 6 vị Thánh nữ ALaHán là: Bà Khemā, Uppalavaṇṇā, Dhammadinnā, Patācārā, Kisāgotamī, Kesākuṇḍalī và cô công chúa út Saṅghadāsī là bà Visākhā trong thời Đức Phật Gotama còn hiện tiền (xem tập 1).

Đức vua Kikī có một Hoàng tử là Puthuvindhara (tiền thân của Ngài LaHầuLa), về sau nối vương nghiệp ([40]).

Ngài Buddhaghosa (Giác Âm) trong bản Sớ giải kinh Tăng chi có giải thích: “Đức vua Kikī  là nam cư sĩ tối thắng (aggapaṭṭhāka) về hộ độ chư Tăng của Đức Phật Kassapa” ([41]). Điều này cho thấy Đức vua Kikī là bậc Thánh Dự Lưu.

Khi Đức Phật Kassapa viên tịch, một ngôi bảo tháp tôn thờ Xálợi Phật Kassapa được kiến tạo. Bảo tháp có 4 cổng đi vào, Đức vuaKikī xây dựng một cổng, hoàng tử Puthuvindhara xây dựng một cổng, các đại thần đứng đầu là vị Tướng soái xây dựng một cổng và một cổng do phật tử đứng đầu là một vị đại trưởng giả xây dựng (tiền thân của Đức Jotika trong thời Đức Phật hiện tại) ([42]).

Kāsi nổi tiếng về tơ lụa, một áo choàng bằng lụa Kāsi có khi có giá trị đến 100.000 đồng vàng (kahāpaṇa) ([43]). Ngoài ra hương chiênđàn Kāsi (Kāsi vilepana) cũng rất được ưa chuộng ([44]).

Ngoài những địa danh trên, vương quốc Kāsi còn có các địa danh nổi tiếng trong kinh điển Pāli như: Vāsabhagāma, Macchikāsanda (trú quán của Trưởng giả Citta), Kīṭāgiri và Dhammapālagāma.

* Làng Vāsabha. Trú xứ của Trưởng lão Kassapagotta ([45]). Bên kia là làng Cundaṭṭhila nằm giữa làng Vāsabha với BaLaNại.

*Làng Kītāgiri (Kiṭāgiri). Làng này nằm trên đường đi từ Kāsi đến Sāvatthī (Xávệ). Kiṭāgiri là trú xứ của hai nhóm Tỳkhưu Assaji và Punabbasuka, hai nhóm Tỳkhưu này sống buông lung giới luật, làm hủ hóa cư dân trong làng.

Có vị Tỳkhưu hiền thiện, sau khi an cư mùa mưa ở Kāsi, trên đường về thành XáVệ để yết kiến Đức Thế Tôn, Ngài đi đến làng Kitāgiri trú đêm.

Sáng hôm sau Ngài đi bát trong làng Kitāgiri, dân làng đã chê trách Ngài là “kẻ khù khờ”, “kẻ ngớ ngẩn”, không ai cúng dường đến Ngài chi cả.

Một cận sự nam hiền thiện đã cung thỉnh Ngài về nhà, cúng dường vật thực đến Ngài, rồi tỏ bày mọi sự “hủ hóa giới luật” của hai nhóm Tỳkhưu Assaji và Punabbasuka.

Cận sự nam ấy thỉnh cầu Ngài trình bạch lên Đức Thế Tôn về việc này để cư dân trong làng Kitāgiri có được nếp sống hiền thiện, vì nơi đây các Tỳkhưu tốt đã ra đi, chỉ còn lại những Tỳkhưu hủ hóa.

Đức Thế Tôn dạy hai vị Thượng thủ Thinh Văn là Đức XáLợiPhất và MụcKiềnLiên cùng nhiều vị Tỳkhưu hiền thiện đến làng Kitāgiri tẩn xuất hai nhóm Tỳkhưu Assaji và Punabbasuka ra khỏi làng Kitāgiri.

Hai nhóm Tỳkhưu ấy, sau khi đã mắng chưởi, vu khống chư Tỳkhưu hiền thiện là “thiên vị vì thương, thiên vị vì ghét, thiên vị vì si mê, thiên vị vì ngu dốt”; một số hoàn tục, một số bỏ đi.

Do nhân đó, Đức Thế Tôn chế định “học giới Tăng tàng thứ 13” ([46]).

Ngài Buddhaghosa (Giác Âm) giải thích: “Kīṭāgiri  là tên một thị trấn trù phú, có nhiều trái cây vì có nhiều mưa, nên hai nhóm Tỳkhưu Assaji và Punabbasuka chọn làm nơi sinh sống” ([47]).

Assaji và Punabbasuka là hai trong 6 vị đứng đầu của một nhóm Tỳkhưu, nhóm Tỳkhưu này được gọi là “Nhóm Tỳkhưu Lục sư” (Chabbaggiyā) ([48]).

Sáu vị Tỳkhưu đứng đầu của nhóm này theo lần lượt là:

– Paṇḍuka và Lohitaka ở thành XáVệ.

– Mettiya và Bhummajaka ở thành Vương Xá.

– Assaji và Punabbasuka ở làng Kitāgiri.

Sáu vị Tỳkhưu đứng đầu nhóm này là đệ tử của Đức XáLợiPhất và Đức Mục KiềnLiên. Sáu vị này sống nương nhờ với Tế độ sư tròn đủ 5 năm và có học thuộc lòng các mẫu đề (Mātikā) (sđd).

Theo bàn Sớ giải Luật Tạng (Samantapasādikā), Đức Buddhaghosa (Giác Âm) giải thích ([49]): Chư Tỳ khưu Lục sư đều là cư dân thành XáVệ, từng quen biết nhau, vì khó khăn trong cuộc sống nên cùng nhau gia nhập Tăng đoàn, thọ giới Tỳkhưu từ hai vị Thượng thủ thinh văn là XáLợiPhất và MụcKiềnLiên.

Sau năm năm theo Tế độ sư học tập, nhóm Tỳkhưu này quyết định chia thành ba nhóm, mỗi nhóm có 500 Tỳkhưu đệ tử, ngoài ra nhóm “Tỳkhưu Lục sư” còn có hội chúng Tỳkhưu ni.

“Nhóm Tỳkhưu Lục sư” thường được mô tả là “vi phạm Giới luật”, cả hội chúng Tỳkhưu ni cũng thế.

Trong ba nhóm, nhóm của Paṇḍuka và Lohitaka ở thành XáVệ được xem như “có phạm hạnh nhất”, không đi quá giới hạn của Luật như hai nhóm kia, vì nhóm này sống gần với Đức thế Tôn và thường tháp tùng theo Đức Thế Tôn đi du hành nhiều lần.

Nhóm của Assaji và Punabbasuka được xem là “tệ hại nhất”.

*Làng Dhammapāla.

Là một ngôi làng trong xứ Kāsi, Dhammapāla là tên của một gia đình “giữ gìn giới luật”, về sau làng được gọi tên theo tên gia tộc ấy. Bồtát có kiếp sinh vào trong gia tộc này ([50]).

* Thành Bārāṇasī (BaLaNại).

BaLaNại là kinh đô của vương quốc Kāsi, ở gần rừng Nai (Migadāya) trong vùng Isipatana.

Đây là một trong bốn điểm được xem là “Thánh địa” trong Phật giáo, vì là nơi Đức Phật “khai giảng pháp bất tử” lần đầu tiên (ba địa điểm kia là: Kapilavatthu; Bodhigayā và Kusinārā).

Tín đồ Phật giáo thường đến những Thánh địa này để hành hương.

Được gọi là Bārāṇasī (BaLaNại) vì nằm giữa hai con sông Bārāṇa (nay là sôngBarna) và Asi ([51]).

BaLaNại từng là trung tâm thương mại phồn thịnh, vì giao thương trực tiếp với kinh thành XáVệ.

Một con đường nối liền giữa hai kinh thành đi ngang qua thị trấn Bhaddiya ([52]) và đến thành Takkasilā ([53]).

Tuy BaLaNại có nhiều trường học lớn và cổ xưa ([54]), nhưng các thanh niên vương tử thường đến Takasilā để học tập nghệ thuật.

Cũng có vài trường hợp người thành Takkasilā đến thành BaLaNại để học tập, như nhạc sĩ Musila (tiền thân ĐềBàĐạtĐa) đến thành BaLaNại học đàn nơi nhạc sĩ Guttila (tiền thân Đức Phật Gotama) ([55]).

Từ thành BaLaNại có hai con đường đến xứ Verañja; một con đường vòng đi ngang qua kinh thành Soreyya, một con đường thẳng đến sông Hằng ở Pāvāgatittha, rồi tiếp tục dẫn thẳng đến kinh thành Vesāli ([56]).

Từ BaLaNại có con đường dẫn đến thành Vương Xá sau khi đi ngang qua làng Andhakavinda ([57]).

Từ thành BaLaNại, theo đường thủy đến thành KiêuThưởngDi dài 30 dotuần ([58]).

Thành BaLaNại do Bàlamôn Govinda xây dựng cho dân xứ Kāsi ([59]).

Đức vua đầu tiên của vương quốc Kāsi là Dhataraṭṭha, cùng thời với vua Reṇu (sđd).

Thành BaLaNại trong giai đoạn phồn vinh, được nới rộng đến 12 dotuần (tính cả vùng ngoại thành) ([60]).

Trong quá khứ, vương quốc Kāsi có nhiều vị vua trị vì như: Brahmadatta, Aṅga, Uggasena, Udaya, Kikī ([61]), Dhanañjaya, Mahāsīlava, Vissasena và Saṃyama ([62]).

Trong số đó Đức vua Brahmadatta được đề cập nhiều hơn, có lẽ đó là “danh hiệu chung của các vị vua trị vì vương quốc Kāsi, trú tại kinh đô BaLaNại”.

Thành BaLaNại được đổi tên nhiều lần như: Surundhana (trong Udayajātaka), Sudassana (trong Sutasomajātaka), Brahmavaddhana (trong Soṇanaṇḍajātaka), Pupphavatī (trong Khaṇḍahālajātaka), Rammanagara (trong Yuvañjayajātaka), Molinī (trong Saṅkhajātaka), Kāsinagara và Kāsipura (khi là kinh đô của vương quốc Kāsi) ([63]).

Không một Đức vua xứ KiềuTấtLa nào không thèm muốn kinh thànhBaLaNại ([64]).

Các vị vua quốc độ KiềuTấtLa như Vaṅka, Dabbasena và Kaṃsa đã đánh chiếm Kāsi nhiều lần; chiến thắng của Kaṃsa được in dấu trong từ Bārāṇasīggaha (người chiến thắng BaLaNại) ([65]).

Có thời vương quốc Kāsi hùng mạnh, vua Brahmadatta đã chiếm trọn quốc độ KiềuTấtLa ([66]).

Trong quá khứ, BaLaNại là sinh quán của Đức Phật Kassapa ([67]).

Vào thời Đức Phật Gotama, kinh thành BaLaNại không còn hưng thịnh như trước về quyền lực, vương quốc Kāsi trở thành nước chư hầu của vua PaTưNặc xứ KiềuTấtLa.

Một ngôi làng của Vương quốc Kāsi là của hồi môn cho bà Hoàng Videhi con vua xứ KiềuTấtLa, khi bà được gả cho vua BìnhSa.

Được biết vua BìnhSa của quốc độ MaKiệtĐà giao hảo tốt đẹp với vua xứ Kāsi. Có lần vua BìnhSa gửi danh y Jīvaka đến trị bịnh cho con một đại trưởng giả ở thành BaLaNại ([68]).

Về sau, khi vua AXàThế (Ajātasattu) thu được xứ KiềuTấtLa, chinh phục được xứ Vajjī (BạtKỳ), vua AXàThế tóm thu luôn xứ Kāsi.

Vào thời Đức Phật Metteyya (DiLặc), BaLaNại có tên gọi là Ketumatī đứng đầu 84.000 thành phố, trị vì thành phố này là vua Chuyển Luân Saṅkha (sđd), nhưng vua Chuyển luân Saṅkha xuất gia và chứng quả ALaHán.

Gần thành BaLaNại có vườn cây với 7 cây Sirīsaka (cây keo hay xiêm gai), tại đây Đức Phật tế độ thanh niên Uttara, an trú thanh niên Uttara vào quả dự Lưu bằng cách dạy thanh niên Uttara trả lời những câu hỏi của Long vương Erakapatta.

Nghe xong câu giải đáp của Đức Phật về các câu đố của long vương Erakapatta, thanh niên Uttara chứng quả Dự Lưu ([69]).

Gần thành BaLaNại có một vườn xoài, nơi đây Bàlamôn Goṭamukkha gặp Tôn giả Udena ([70]).

Bên kia sông, đối diện với thành BaLaNại là làng Vāsabha trú xứ của Trưởng lão Kassapagotta([71]).

BaLaNại là một trong những địa điểm được Đức Ānanda đề nghị là nơi “Đức Phật viên tịch” ([72]).

Trong lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng MahāThūpa (Đại Bảo tháp), BaLaNại có đến 12.000 vị Tỳkhưu tham dự, dưới sự hướng dẫn của Đại Trưởng lão Dhammasena ([73]).

* Isipatana (Tiên nhân rơi xuống).

Chữ Isipatana = Isi (đạo sĩ, tiên nhân) + patana (rơi rụng).

Gọi là Ispatana vì các đạo sĩ (isi) có thần lực thường từ Tuyết Sơn theo đường hư không đến nơi này, “hạ xuống” để đi vào kinh thành BaLaNại.

Ngài Buddhaghosa có giải thích:

“Isayo ettha nipatanti uppatanti cāti Isipatananaṃ”

“Nơi đây, các Tiên nhân  (isi) rơi xuống, từ trên rớt xuống, gọi là Isipatana”.

Chư Phật Độc Giác sau khi an trú trong định Diệt thọ tưởng 7 ngày ở Gandhamadāna (Hương Sơn), khi xuất khỏi định Diệt thọ tưởng, các Ngài đến hồ Anotatta (Vô Nhiệt) tắm rửa, rồi theo đường hư không đến thành BaLaNại để khất thực, các Ngài thường hạ xuống nơi này. Nên nơi đây được gọi là “Isipatana” ([74]).

Thỉnh thoảng, chư Phật Độc Giác từ Nandamūlakapabbhāra đi đến Isipatana ([75]).

Theo Sớ giải kinh Tăng chi, các đạo sĩ trú ngụ tại Isipatana thường hành lễ Bốtát vào những ngày Bốtát, đồng thời thọ trì Bốtát giới (uposathasīla) ([76]).

Bốtát giới của các Đạo sĩ gồm 6 giới là: Không sát sinh, không lấy của không cho, không quan hệ tình dục, không nói dối, không uống các chất say và không ăn phi thời.

Nandamūlakapabbhāra là nơi trú ngụ của chư Độc giác, số lượng nơi đây không quá 500 vị Phật Độc Giác.

Thông thường khi vừa chứng quả Độc Giác, vị Tân Độc Giác Phật sẽ dùng thần thông đi đến núi Gandhamadāna để hội ngộ các vị Độc Giác.

Chư Phật Độc giác sẽ tề tựu đến gốc cây Mañjusaka để chúc mừng vị Tân Độc giác Phật và nghe vị ấy thuật lại nhân duyên giúp vị ấy chứng đạt quả vị Độc Giác.

Trong số các lời dạy của Phật Độc Giác, Khaggavisāṇa Sutta (Kinh Tê Ngưu một sừng) ([77]) được xem như quan trọng nhứt.

Nếu trong Nandamūlakapabbhāra có số lượng dưới 500 vị thì vị Tân Độc Giác sẽ được cư ngụ nơi ấy và được chỉ định một sàng tọa.

Nếu trong Nandamūlakapabbhāra đủ số lượng là 500 vị, vị Tân Độc Giác Phật sẽ tìm chỗ trú ngụ khác.

Như trường hợp 500 vị Phật Độc giác trú ngụ tại núi Isigili gần thành Vương Xá ([78]).

Thuở xưa 500 vị Độc Giác Phật sống tại đây trong một thời gian dài, cư dân thường thấy các Ngài đi ra, đi vào. Rồi bổng dưng không thấy các Ngài ra nữa, nên chúng dân bảo nhau:

“Ime isī gilatīti: Núi đã nuốt các đạo sĩ”.

Và núi có tên gọi là Isigili cho đến thời Đức Phật Gotama.

Trong bản kinh, Đức Phật Gotama nêu ra danh tự của 13 vị Độc Giác Phật, vị Trưởng đoàn là Đức Phật Độc Giác Mahāpaduma (Đại Liên Hoa).

Theo Ngài Buddhaghosa (Giác Âm): Đó là 500 vi hoàng tử con bà Hoàng hậu Padumavatī, về sau trở thành 500 vị Độc Giác Phật ([79]).

Ngài Buddhaghosa có nêu ra danh sách 500 vị Phật Độc giác ấy, nhưng bản danh sách không đầy đủ 500 vị. Và Ngài Buddhaghosa giải thích là: “Do có 12 vị trùng tên”.

Không thấy kinh điển nói đến “giới hạn số lượng chư Phật Độc giác xuất hiện trên thế gian”.

Đức Phật Độc Giác khi viên tịch, khi ngọn lửa trà tỳ thiêu nhục thân của Ngài lịm tắt thì Xálợi của Ngài cũng tan biến (do đó không có Xálợi Phật Độc Giác).

Nandamūlakapabbhāra có ba hang động là: Kim động (Suvaṇṇaguhā), Ngọc động (Maṇiguhā) và ngân động (Rajataguhā).

* Gọi là Kim đông vì toàn bộ hang động bằng vàng.

* Gọi là Ngọc động vì toàn bộ hang động là ngọc Maṇi.

* Gọi là Ngân động vì toàn bộ hang động là bạc.

Chư Phật Độc giác trú ngụ trong Ngọc động, trước Ngọc động có cây Mañjusaka ([80]). Cây cao một dotuần ([81]), có chu vi là 1 dotuần, cây Mañjusaka có khả năng trổ hoa trên đất, dưới đất ([82]) và dưới nước.

Chung quanh cội cây Mañjusaka là những tảng ngọc, gọi là Ratanamālaka. Chư Phật Độc Giác tụ hội lại nơi đây để hành lễ Uposatha (Bốtát) ([83]), hay khi có vị Độc giác trong nhóm viên tịch, các Ngài tề tựu lại để tổ chức lễ trà tỳ nhục thân của vị Phật Độc giác viên tịch. Nên còn được gọi là Sabbaratanamāla ([84]).

Kim động (Suvaṇṇaguhā), Ngân động (Rajataguhā) là nơi trú ngụ của Sư tử vương ([85]).

Tương truyền, sư tử vương thuộc loại sư tử thuần chủng, sau khi no mồi đi đến động vàng hay động bạc, hoặc động ngọc (nếu không có vị Độc Giác Phật cư ngụ), nằm ngủ trên tảng đá hồng suốt 7 ngày.

Khi thức dậy, quan sát chung quanh thấy cát bụi văng tung tóe do vẫy tai, hay máy động chân, sư tử vương suy nghĩ:

“Hành vi này không xứng đáng với giòng giống sư tử vương”.

Sư tử vương lại nằm ngủ trở lại, nhịn đói thêm 7 ngày, khi thức giấc không thấy cát bụi văng tung tóe chung quanh, sư tử vương suy nghĩ: “Hành vi này mới xứng đáng chủng tộc Sư tử vương”.

Sư tử vương máy động chân đi ra cửa động, nhìn chung quanh rống lên rống con sư tử ba lần rồi đi tìm mồi.

Tiền thân Trưởng lão Santakāyo (Tịnh Thân) từng là sư tử vương, nên Trưởng lão có thân thật an tịnh ([86]).

Kinh điển Bắc truyền giải thích “Isipatana” như sau:

Tương truyền khi có sự “náo động về Đức Chánh Giác sắp hiện khởi trong thế gian”.

Bấy giờ trên núi Isigili có 500 vị Phật Độc Giác đang trú ngụ (trước khi thành Phật, các Ngài là con của Hoàng hậu Padumavatī).

Đức vua Brahmadatta trị vì xứ Kāsi, ở kinh thành BaLaNại, có lần Đức vua du ngoạn trong vườn Thượng Uyển, đến một lầu cao trong vườn để nghỉ ngơi. Đức vua chợt suy nghĩ: “Trong thế gian này có hay không có  Thánh nhân nhỉ?”.

Để đoạn nghi cho Đức vua, 500 vị Độc Giác từ núi Isigili theo đường hư không ngự đến vườn Thượng Uyển của Đức vua Brahmadatta, đứng giữa hư không.

Thấy vậy, vua Brahmadatta vô cùng hoan hỷ, đảnh lễ chư Phật Độc giác rồi cho sửa soạn nơi an tọa cho các Ngài, cung thỉnh các Ngài ngự vào nơi được soạn sẳn.

Đức vua cúng dường vật thực đến 500 vị Độc Giác Phật, sau khi thọ thực xong rồi, chư Độc giác Phật chúc phúc đến Đức vua Brahmadatta, các Ngài nhận thấy thời gian thích hợp, nên đồng nhau viên tịch tại nơi ấy.

Đức vua Brahmadatta cho làm lễ trà tỳ nhục thân của 500 vị Độc Giác Phật, XáLợi của các Ngài cũng biến mất. Do đó vùng đất này có tên gọi Isipatana (Tiên nhân rơi xuống).

Isipatana là vùng đất rộng gần kinh thành BaLaNại, trong vùng Isipatana có một rừng Nai nổi tiếng là Migadāya.

Rừng Nai cách rừng Uruvelā là 15 dotuần (hay 18 dotuần).

Cũng tại rừng Nai này, ba vị Phật quá khứ là Kakusandha, Konāgamana và Kassapa đã thuyết giảng “pháp Bất tử lần đầu tiên”.

Về sau, Đức Phật Metteyya (DiLặc) cũng thuyết giảng Pháp thoại lần đầu tiên tại nơi này.

Isipatana là Saranath hiện nay, cách Benares sáu dặm Anh.

Ô. Cunningham  cho rằng Migadāya là khu rừng rộng lối nữa dặm, từ mộ vua Dhammek về phía Bắc đến Chaukundi về phía Nam([87]).

Isipatana gắn liền với nhiều sinh hoạt khác trong Tăng đoàn như:

– Đức Yasa cùng 54 người bạn gia nhập Tăng đoàn.

– Cha, mẹ, vợ của Đức Yasa trở thành những cận sự đầu tiên quy ngưỡng Tam Bảo.

– Tại đây, nhóm Tỳkhưu Lục sư đã dùng guốc làm bằng lá thốt nốt (Tāla) và Đức Thế Tôn chế định học giới: “Không được đi guốc bằng lá cây thốt nốt” ([88]).

– Tại đây, Đức Thế Tôn cấm chế dùng 10 loại thịt, trong đó quan trọng nhất là “thịt người”.

Mười loại thịt được Đức Thế Tôn cấm chế là ([89]):

– Thịt người.

– Thịt voi, thịt ngựa (vì voi và ngựa là vật biểu tượng cho vương quyền, các vị vua sẽ không hoan hỷ khi thấy chư Tỳkhưu thọ dụng. Và như thế sẽ có nguy hại đến Tăng đoàn).

– Thịt chó (vì dân Ấn cho “chó là con vật ghê tởm và đáng ghét”).

– Thịt rắn (vua loài rắn là Supassa đã thỉnh cầu Đức Thế Tôn chế định chư Tỳkhưu chớ nên thọ dụng “thịt rắn”, vì có những mãng xà sẽ làm hại đến chư Tỳkhưu. Và Đức Thế Tôn đã nhận lời).

– Thịt sư tử, thịt cọp, thịt beo, thịt gấu, thịt chó sói (vì những loại thú rừng này tấn công các vị Tỳkhưu ngụ trong rừng khi thọ dụng. Chúng ngỡ là loài sư tử khác, con cọp khác… xâm chiếm lãnh thổ của chúng) .

– Cũng tại đây, Ma vương đến quấy nhiễu Đức Thế Tôn nhưng đều thất bại và buồn khổ biến mất tại chỗ.

– Một thời Đức Thế Tôn trú ở Isipatana, trong rừng Nai (Migadāya), đề cập đến người con trai của một nhà đại phú trong thành BaLaNại.

Tương truyền trong thành BaLaNại có hai gia tộc đại phú, mỗi gia tộc có đến 800 triệu đồng vàng.

Gia tộc thứ nhất có độc nhất người con trai, gia tộc thứ hai có độc nhất  người con gái. Và hai gia tộc kết thông gia với nhau.

Sau khi cha mẹ mệnh chung, hai vợ chồng thừa hưởng tài sản là 1.600.000 đồng vàng. Nhưng người chồng vì giao du bạn xấu, lại uống rượu nên đã phung phí hết tài sản, khi tuổi già hai người dẫn nhau đi xin ăn. Đức Phật dạy:

* Nếu như lúc thiếu niên, hai vơ chồng người này siêng năng tạo dựng tài sản sẽ là đệ nhất trưởng giả trong thành BaLaNại. Nếu xuất gia tu tập trong giáo pháp này, người chồng sẽ chứng quả ALaHán, người vợ chứng quả ANaHàm.

* Nếu như lúc trung niên, hai vợ chồng siêng năng tạo dựng tài sản, sẽ là đệ nhị trưởng giả trong thành BaLaNại. Nếu xuất gia trong Giáo pháp này, người chồng chứng quả Bất Lai, người vợ chứng quả Nhất lai.

* Nếu như lúc xế niên, hai vợ chồng siêng năng tạo dựng tài sản, sẽ là đệ tam trưởng giả trong thành BaLaNại. Nếu xuất gia trong giáo pháp này, người chồng chứng quả Nhất lai, người vợ chứng quả Dự Lưu.

Nhưng nay, cả thánh sản lẫn tục sản đều không còn.

Rồi Đức Thế Tôn thuyết lên hai kệ ngôn ([90]):

Acaritvā brahmacariyaṃ; aladdhā yobbane dhanaṃ.

Jiṇṇakoñcāva jhāyanti; khīṇamaccheva pallale.

“Lúc trẻ không phạm hạnh; không tìm kiếnm tài sản.

 Như cò già bên ao; ủ rũ không tôm cá.

Acaritvā brahmacariyaṃ; aladdhā yobbane dhanaṃ.

Senti cāpātikhīṇāva; purāṇāni anutthunaṃ.

“Lúc trẻ không phạm hạnh; không tìm kiếnm tài sản.

Như cây cung bị gẫy; thở than những ngày qua”. (HT. TMC dịch).

Ngoài hai bài kinh “Chuyển Pháp Luân” và kinh “Vô ngã tướng” ([91]) được Đức Thế Tôn thuyết giảng lần đầu tiên tại nơi đây, nhiều bài kinh khác cũng được Đức Thế Tôn thuyết giảng ở Isipatana, như: Pacetana sutta ([92]), Pāsa sutta ([93]), Samaya sutta ([94]), Kaṭiviya sutta ([95]), Pārāyana sutta ([96]), Dhammadinna sutta để tế độ cư sĩ Dhammadinna ([97]).

Nhiều Đại trưởng lão trong Tăng đoàn có đến đây để trú ngụ, nhiều cuộc đàm luận pháp đã khởi lên và được ghi nhận, như:

– Cuộc đàm luận pháp giữa Đức XáLợiPhất và Đức Mahākoṭṭhita ([98]).

– Đức Mahākoṭṭhita khiển trách Đức Cittahatthi Sāriputta ([99]).

– Chư Trưởng lão trợ giúp Trưởng lão Channa (SaNặc) ([100]).

Sách Mahāvaṃsa (Đại sử) cho biết: “Có rất đông Tỳkhưu sống ở Isipatana vào thế kỷ thứ II tTl.

Bằng chứng là có đến 12.000 Tỳkhưu đến tham dự lễ lạc thành MahāThūpa ở Anurādha, do Đại trưởng lão Dhammasena dẫn đầu ([101]).

Ngài Trần Huyền Trang cho biết: Có gặp 1.500 vị Tỳkưu Tiểu thừa (Hīnayana) ở Isipatana ([102]).

Ngài Huyền Trang còn cho biết thêm là: “Có một tự viện cao trên 60 m, rất kiên cố trong vòng đai Saṅghārāma. Giữa chánh điện là kim thân Đức Thế Tôn to như người thật, trong tư thế “Chuyển Pháp Luân”.

Phía Tây nam tự viện là vết tích một bảo tháp do vua ADục kiến tạo ([103]), trước mặt tháp là trụ đá ghi dấu “nơi Đức Thế Tôn giảng pháp lần đầu tiên”; kế bên là một tháp thờ ghi dấu nơi “nhóm năm KiềuTrầnNhư” ngồi thiền, khi nhìn thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến.

Trong Isipatana còn có một tháp ghi dấu nơi 500 vị Phật Độc Giác viên tịch.

* Migadāya (rừng Nai).

Chữ dāya có nghĩa là: “Rừng, khu vườn lớn”, ngoài ra còn có nghĩa là “sự ban cho”. Nơi đây thú rừng tự do sinh hoạt, không bị săn bắn.

Theo Ngài Trần Huyền Trang thì: “Vua Brahmadatta trị vì xứ Kāsi, ở kinh thành BaLaNại, đã ban cho Nai cùng muôn thú ở khu rừng này được an toàn không bị săn bắn”.

Câu chuyện Bổn sanh này có liên quan đến mẹ của Ngài Kumāra Kassapa, tóm lược như sau:

Một cô gái con của một trưởng giả trong thành Vương Xá, thuở nhỏ cô đã có ý muốn xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Cô xin cha mẹ được xuất gia, nhưng cha mẹ cô không đồng ý.

Khi trưởng thành cô được gả cho một thanh niên trong thành Vương Xá, tuy làm tròn phận sự người vợ nhưng nàng không vui thích với đời sống gia đình.

Một lần nọ, thành Vương Xá có mở lễ hội để chúng dân vui chơi 7 ngày, nhưng nàng không trang điểm để đi dự lễ hội.

Chồng nàng ngạc nhiên, hỏi:

– Vì sao nàng không trang điểm để vui chơi lễ hội?”.

Nàng trình bày cho chồng biết cảm nghĩ của nàng về “thân ô trược này”, sự trang điểm thân này, chỉ là trang điểm bên ngoài “chiếc bình”, “bên trong chiếc bình đựng đầy phân và nước tiểu. Như vậy trang điểm thân này có ích lợi gì?”.

Nghe vậy, chồng nàng bảo:

– Nếu nàng có ý nghĩ như thế, sao nàng không xuất gia?

– Nếu chủ đồng ý, hãy cho tôi được xuất gia.

– Lành thay, lành thay, nàng hãy xuất gia theo như ý nguyện đi.

Rồi trưởng giả chồng của nàng đã cúng dường đến chư Tăng ni, tổ chức lễ xuất gia cho nàng thật trọng thể.

Nàng được xuất gia trong Ni đoàn của Tôn giả ĐềBàĐạtĐa (Devadatta), nhưng nàng đã mang thai mà không hề hay biết.

Thời gian sau, thai bào phát triển, chư Tỳkhưu ni mang nàng đến trình lên Tôn giả ĐềBàĐạtĐa. Tôn giả ĐềBàĐạtĐa không suy xét kỹ, đã trục xuất nàng ra khỏi Ni đoàn, nàng thưa với chư Tỳkhưu ni rằng:

– Thưa các nữ Tôn giả, Tôn giả ĐềBàĐạtĐa không phải là Đức Thế Tôn, con xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Hãy mang con đến Đức Thế Tôn để Ngài quyết định, Đức Thế Tôn phán dạy như thế nào con sẽ vâng theo lời Đức Thế Tôn dạy.

Nàng được đưa đến Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn giao cho Tôn giả Upāli giải quyết sự kiện này.

Tôn giả Upāli cho mời nàng Visākhā đến giữa hội chúng, có sự tham dự của Đức vua PaTưNặc (Pasenadi).

Nàng Visākhā cho treo màn kín đáo, sau bức màn nàng Visākhā tìm hiểu về các chi phần thân thể của vị Tỳkhưu ni trẻ.

Sau khi tính toán, nàng Visākhā tuyên bố trước hội chúng: “Vị Tỳkhưu ni đã có mang trước khi xuất gia”.

Và như thế thì “giới hạnh của vị Tỳkhưu ni vẫn trong sạch”.

Hài tử khi sinh ra được vua PaTưNặc nhận làm dưỡng tử có tên là Kumāra Kassapa, về sau Ngài Kumāra Kassapa xuất gia trong Giáo pháp này và trở thành bậc ALaHán, được Đức Thế Tôn ban cho địa vị: “Đệ nhất về thuyết giảng vi diệu trong chư Tỳkhưu” ([104]).

Về sau chư Tỳkhưu nhắc lại sự kiện này trong giảng đường, nhân đó Đức Thế Tôn thuyết lên bổn sự  Nigrodhamiga.

Bổn sanh Nigrodhamiga.

(Nigrodhamigajātaka).

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở BaLaNại, Bồtát sinh làm nai có tên là Nigrodha có 500 con nai tùy tùng, một đàn nai khác do nai Sakha là trưởng cũng có 500 nai tùy tùng.

Thân hình nai Nigrodha có màu vàng, mắt trong sáng như hạt châu, sừng nai màu trắng bạc, miệng nai đỏ hồng như tấm lụa, móng chân trơn láng, thân nai to lớn như con nghé.

Nai chúa Sakha cũng có thân hình xinh đẹp như vậy.

Đức vua Brahmadatta rất thích ăn thịt nai, không có thịt nai thì vua Brahmadatta không dùng cơm, nên hằng ngày cho triệu tập cư dân trong thành lại, tổ chức đi săn nai trong rừng.

Chúng dân suy nghĩ: “Đức vua chỉ vì thích ăn thịt nai, đã đình chỉ mọi công việc của chúng ta, tổ chức đi săn nai, khiến đời sống chúng ta vất vả. Chúng ta hãy xua đuổi nai vào một khu vực tập trung. để Đức vua tự mình săn bắn nai”.

Họ đi vào rừng chăng lưới sắt chung quanh một khu vườn lớn rộng một dotuần. Rồi mang vũ khí đi vào rừng, xua đuổi đàn nai vào khu vườn được vây bởi những tấm lưới sắt, rồi đóng cửa vườn lại. Cả hai đàn nai Nigrodha cùng Sakha đều bị vây vào khu vườn rộng lớn này.

Rồi cư dân trong thành BaLaNại đi đến Đức vua thưa rằng:

– Thưa Đại vương, vì thích ăn thịt nai, Đại vương luôn tổ chức đi săn nai, khiến công việc chúng tôi gặp nhiều trở ngại. Nay chúng tôi xua đuổi đàn nai đi vào khu tập trung trong khu vườn lớn gần kinh thành. Từ nay, Đại vương có thể săn nai một cách dễ dàng.

Nghe vậy, Đức vua Brahmadatta đi đến khu vườn lớn, nhìn thấy đàn nai cùng hai nai chúa xinh đẹp. Đức vua thích thú với thân hình xinh đẹp của hai nai chúa đàn, nên ra lịnh tha chết cho hai nai chúa đàn.

Từ đó về sau, có khi tự Đức vua đi săn nai mang thịt về ăn, có khi người đầu bếp đến vườn săn nai.

Có những con nai bị bắn nhưng chạy thoát được, rồi cũng bị chết vì những vết thương ấy, đàn nai báo lên cho nai chúa Nigrodha về việc này.

Bồtát suy nghĩ: “Chúng ta đã bị giam trong khu vườn lớn này, trước sau gì cũng phải chết. Nhưng đừng làm sự chết đến quá nhanh và vô ích”.

Bồtát thảo luận cùng nai chúa đàn Sakha rằng:

“Này bạn, nhiều nai đã chết vô ích, thế nào chúng ta cũng phải chết vì đã bị giam vào khu vườn lớn, không có lối thoát ra này.

Đừng để các con nai chết vô ích vì những vết thương, hãy để các con nai thay phiên nhau đi đến chỗ chết.

Mỗi ngày một con nai sẽ đến nạp mình cho Đức vua Brahmadatta, mỗi đàn sẽ thay phiên nhau cử nai trong đàn của mình đến nạp mình”.

Nai Sakha chấp thuận, từ ấy trở đi nai trong hai đàn thay phiên nhau đi đến chỗ bị giết, nằm vào đấy. đặt cổ vào chỗ bị giết.

Người đầu bếp chỉ việc đến bắt nai mang về hoàng cung.

Một hôm đến con nai cái trong đàn nai Sakha đến phiên nạp mình, nai cái trình lên “việc mình có mang cho nai Sakha biết”, rồi xin hoản việc nạp mình cho đến khi nai cái sinh nở xong. Nhưng nai Sakha không chấp thuận.

Con nai cái đi đến trình lên nai Nigrodha, nai Nigrodha chấp nhận cho nai cái khỏi phải nạp mình. Tự thân nai Nigrodha đi đến nạp mình.

Người đầu bếp thấy nai chúa đi đến nạp mình, ngạc nhiên hỏi rằng:

– Này nai Nigrodha, ngươi đã được  tha chết, vì sau ngươi lại đến nạp mình?.

Và người đầu bếp không dám sát hại nai Nigrodha, y trình lên vua Brahmadatta, ngạc nhiên Đức vua Brahmadatta đi đến nơi nai Nigrodha nạp mình, hỏi rằng:

– Này nai Nigrodha, ta đã tha chết cho ngươi, vì sao ngươi lại đến đây nạp mình?

Nai Nigrodha trình lên sự kiện trên đến Đức vua Brahmadatta, Đức vua cảm động trước sự hy sinh của nai Nighodha, Đức vua ban sự an toàn đến đàn nai. Nhân đó Bồtát thỉnh cầu Đức vua ban sự an toàn đến toàn bộ thú rừng trong vườn này, Đức vua Brahmadatta chấp thuận.

Do đó rừng này có tên là Migadayā (ban cho Nai)([105]).

Dứt câu chuyện Bổn sanh.

Gần Isipatana có giếng cổ, chư Tỳkhưu thời Đức Phật sống nơi đây, có dùng nước ở giếng này, một con chó rừng đến tiểu làm bẩn nước giếng, chư Tỳkhưu dùng đá ném nó, nó bỏ đi không trở lại.

Chư Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn sự kiện này, Đức Phật xác nhận “giếng này có lâu đời”, thuở xưa khi còn là Bồtát, Ngài có ngụ nơi này, bấy giờ giếng này đã có ([106]).

4- Tế độ dạxoa Sātāgiri và Hemavata.

Khi Đức Thế Tôn khai giảng pháp bất tử qua bài kinh Chuyển Pháp Luân, khi vừa dứt câu “dve me bhikkhave antā”, âm thanh của Đức Phật lan rộng khắp 100.000 x 10 triệu thế giới (một ngàn tỷ thế giới).

Khi dứt bài kinh, quả địa cầu chấn động, đồng thời một luồng ánh sáng đặc biệt khởi lên  xuyên qua vòng đai Cakkavāla (Luân vi) và 32 điều kỳ diệu xuất hiện.

Chư thiên đi đến rừng Nai để nghe pháp đông vô số, trong đó có dạxoa Sātāgiri cùng 500 dạxoa tùy tùng, dạxoa Sātāgiri là một trong 28 dạxoa tướng quân.

Nhưng dạxoa Sātāgiri không chứng chi cả, vì khi Đức Phật đang giảng thuyết kinh Chuyển Pháp, dạxoa Sātāgiri đưa mắt nhìn chung quanh để tìm dạxoa bạn là Hemavata, nhưng không thấy dạxoa Hemavata (cũng là một trong 28 tướng quân dạxoa).

Tâm của dạxoa Sātāgiri không được an tịnh khi nghĩ rằng: “Làm thế nào thông tin cho bạn ta là dạxoa Hemavata biết: “Đức Phật Chánh Giác đã xuất hiện trên thế gian và Ngài đang khai giảng pháp bất tử?”.

Dạ xoa Sātāgiri không chú tâm lắng nghe lời dạy của Đức Phật, vì vậy  dạ xoa Sātāgiri không chứng đắc đạo quả chi cả.

Dạxoa Sātāgiri khởi lên ý nghĩ: “Ta hãy tìm dạxoa Hemavata, rồi cùng bạn đến nghe pháp Đức Thế Tôn”.

Dạxoa Sātāgiri cùng 500 dạxoa tùy tùng theo đường hư không hướng về HyMãLạpSơn để tìm dạxoa Hemavata.

Hỏi: Vì sao dạxoa Sātāgiri lại quan tâm đến dạxoa Hemavata như thế?

Đáp. Vì hai dạxoa có lời giao ước với nhau rằng: “Khi người nào phát hiện “điều kỳ diệu, phi thường” xuất hiện trong thế gian, phải thông báo cho nhau kia biết”.

* Tiền nghiệp của dạxoa Sātāgiri và dạxoa Hemavata.

Trong hiền kiếp này, khi nhân loại có tuổi thọ là 20.000 tuổi, Đức Thế Tôn Kassapa xuất hiện trên thế gian, Ngài trụ thế 16.000 năm rồi viên tịch.

XáLợi của Đức Phật Kassapa kết thành khối lớn không phân tán nhỏ như XáLợi của Đức Thế Tôn Gotama.

Chư Phật có thọ mạng dài, Xálợi Phật kết dính thành khối lớn như vàng ròng kết tinh, không phân tán nhỏ ra.

Vì rằng đa số chúng sinh cùng chư thiên được chiêm bái Phật thân khi Đức Thế Tôn còn tại tiền.

Chư Phật có tuổi thọ ngắn (như Đức Phật Gotama) thì Xálợi Phật phân tán thành những ngôi nhỏ rời rạc.

Vì khi Đức Phật viên tịch, có nhiều chúng sinh cùng chư thiên chưa được diễm phúc chiêm bái Phật thân. Với tâm bi mẫn tế độ nhân thiên, Đức Thế Tôn trước khi viên tịch đã “quyết định”: “Xálợi của Như Lai được phân tán thành nhiều mãnh, được tôn thờ nhiều nơi để chúng sinh hữu duyên đảnh lễ, cúng dường, tạo duyên lành đạo quả trong Giáo pháp của các Đấng Giác ngộ hiện tại hay trong tương lai”.

Nhưng trong sách Sớ giải Phật Tông (Buddhavaṃsa – atthakathā), có ghi nhận: Vào thời Đức Phật Vessabhū, chúng sinh có tuổi thọ là 60.000 năm, nhưng XáLợi của Đức Phật Vessabhū lại phân tán đi khắp nơi ([107]).

Như vậy, điều này không hẳn là một quy luật, vẫn có trường hợp ngoại lệ., hay Ngài Buddhadatta có sự nhầm lẫn?

Khi Đức Thế Tôn Kassapa viên tịch, Xálợi của Ngài được chúng dân tôn thờ trong bảo tháp bằng vàng ròng, mỗi viên gạch có giá trị là 100.000 đồng vàng, thạch tín đỏ hòa với dầu mè thơm là chất liệu kết dính các viên gạch.

Khi Bảo tháp xây dựng xong, vào ngày lễ “lạc thành bảo tháp”, rất đông các thiện gia tử xuất gia trong giáo pháp của Đức Phật Kassapa.

Với Đức Phật có thọ mạng dài, chư Trưởng lão thinh văn trong thời Đức Phật còn tại tiền được phép truyền pháp xuất gia đến cư sĩ.

Sau khi Đức Thế Tôn viên tịch, hậu duệ các vị Trưởng lão thinh văn trong thời Đức Phật Kassapa còn tại tiền, không được phép truyền pháp xuất gia đến cư sĩ.

Trong nhóm đại chúng xuất gia vào ngày “lễ lạc thành bảo tháp thờ Xálợi Đức Phật Kassapa”, có hai vị Tỳkhưu trẻ là bạn thân với nhau khi còn là cư sĩ.

Hai vị Tỳkhưu trẻ bạch hỏi chư Trưởng lão rằng:

– Bạch chư trưởng lão, vị Tỳkhưu trong Giáo pháp này phải thực hành bao nhiêu phận sự?

– Này Tỳkhưu, vị Tỳkhưu trong giáo pháp này phải thực hành hai phận sự là “học pháp” (ganthadhura) và “hành pháp” (vipassanādhura).

Hai vị Tỳkhưu trẻ bàn luận với nhau: “Hiện thời chúng ta còn trẻ, vậy chúng ta hãy thực hiện phận sự “học pháp”, khi chúng ta lớn tuổi chúng ta hãy “hành pháp”.

Với bản chất thông tuệ, hai vị đã học thông suốt Pháp luật của Đức Phật Kassapa đã giáo truyền và trở thành bậc “phán quyết” về Pháp và luật của Đức Thế Tôn Kassapa.

Mỗi vị có 500 tỳkhưu là đệ tử nương nhờ và đông đảo tùy chúng cư sĩ.

Có bốn bậc thầy là:

Thầy Tiếp dẫn (pabbajjācāriya). Là vị thầy cho xuất gia Sadi, hoặc đưa đến cho vị trưởng lão cho xuất gia Tỳkhưu. Hoặc là vị thầy cho người cư sĩ thọ trì “tam quy”, truyền dạy 5 giới.

Thầy Tế độ (upasampadācāriya). Là vị thầy cho xuất gia thọ giới Tỳkhưu.

Thầy nương nhờ (nissayācāriya). Là vị Tỳkhưu chưa đủ 5 hạ, phải xa lìa vị thầy Tế độ, vị ấy tìm đến vị trưởng lão cao hạ, sống nương nhờ để học Luật và pháp từ vị ấy. Vị trưởng lão ấy được gọi là “thầy nương nhờ”.

Thầy dạy pháp (dhammācāriya). Là vị dạy pháp học hay pháp hành.

Nhóm đệ tử của hai vị Trưởng lão ấy là “đệ tử nương nhờ” của hai vị.

Bấy giờ, trong một tự viên có hai vị Tỳkhưu, bất hòa với nhau về Pháp luật, một vị được gọi là “nói theo pháp” (Dhammavādī), một vị được gọi là “nói phi pháp” (Adhammavādī).

Một lần nọ, vị “nói phi pháp” vi phạm vào trọng giới do Đức Thế Tôn Kassapa chế định, vị “nói theo pháp” khiển trách và buộc tội vị “nói phi pháp”. Để vô hiệu hóa sự buộc tội của vị “nói đúng pháp”, vị “nói phi pháp” đã vặn lại rằng:

– Này hiền giả, hiền giả có thấy tôi phạm tội chăng? Hay hiền giả chỉ nghe? Hiền giả hãy suy nghĩ chu đáo trước khi tố cáo người khác.

Vị “nói phi pháp” biện minh là “mình làm đúng theo luật”; cả hai đều giữ vững ý kiến của mình.

Cuối cùng cả hai đi đến quyết định: “Sẽ nhờ hai vị Trưởng lão đa văn phân xử.

Vị “nói phi pháp” suy nghĩ: “Nếu việc này đưa ra giữa chúng Tăng để phán quyết, các vị Trì luật (vinayadhara) phân xử thì chắc chắn ta sẽ không thể sống trong giáo đoàn này”.

Vị ấy nhanh chóng đi đến hai vị Trưởng lão, cúng dường những vật dụng đến hai trưởng lão và xin làm đệ tử hai Ngài.

Vị ấy tỏ ra rất tôn kính và phục vụ hai vị Trưởng lão rất chu đáo. Sau khi chiếm được cảm tình hai vị Trưởng lão, một hôm vị ấy đi đến giảng đường nơi hội họp của chư Tỳkhưu trì luật, bạch rằng:

– Kính bạch hai Ngài, nếu có vị Tỳkhưu nào đến đây tố cáo con vi phạm giới luật, xin hai Ngài đừng xét xử.

– Này Tỳkhưu, không được đâu, bất cứ vấn đề nào được đưa đến để chư Tăng xét xử, nếu không xét xử đúng theo Luật thì không thích hợp.

– Kính bạch các Ngài, con hiểu mình đã vi phạm Luật, nếu xét xử theo Luật thì con không thể sống trong Giáo đoàn. Bạch các Ngài, con sẽ chịu hậu quả của tội lỗi này trong vòng luân hồi, xin hai Ngài hãy im lặng, đừng xét xử chi cả.

Rồi vị “nói phi pháp” cố gắng nài nỉ hai vị Trưởng lão “im lặng”, cuối cùng hai Ngài đành chấp nhận.

Được sự chấp thuận của hai vị Trưởng lão, vị “nói phi pháp” trở về tự viện, tỏ ra kiêu hãnh, ngang ngược với vị “nói đúng pháp”.

Vị “nói theo pháp” suy nghĩ: “Vị Tỳkhưu này quả thật không “hổ thẹn với tội lỗi”, “không ghê sợ tội lỗi”.

Việc làm của Tỳkhưu này sẽ là tiền lệ, để rồi Giáo pháp của Đức Thế Tôn sẽ đi đến hoại diệt, chúng sinh mất đi sự nương nhờ, cửa Bất tử sẽ đóng lại.

Ta hãy trình lên hai vị Trưởng lão về vấn đề này.

Vị “nói đúng pháp” đi đến hai vị Trưởng lão, trình lên hai trưởng lão việc làm của vị “nói phi pháp”, nhờ hai Trưởng lão phân xử.

Nhưng hai trưởng lão im lặng, dù vị “nói đúng pháp” đã thỉnh cầu ba lần. Thấy thế, vị “nói phi pháp” đã nói rằng:

– Này hiền giả, hiền giả đã thỉnh cầu hai vị Trưởng lão phán quyết về việc làm của tôi, lời thỉnh cầu của hiền giả đã nêu lên ba lần.

Nhưng hai Ngài đã im lặng, như vậy hiền giả nên biết “sự tố cáo của mình là không đúng”, vậy hiền giả đừng nên trở lại tự viện nữa.

Nghe vậy, vị “nói đúng pháp” đã bạch với hai vị Trưởng lão rằng:

– Kính bạch hai Ngài, con ngỡ hai Ngài “vì pháp quên người”, không ngờ hai Ngài “vì người quên pháp.

Hai Ngài không bảo vệ Pháp mà bảo vệ “kẻ ác giới, vô sĩ” (alajjī dussīla puggalo), Pháp Luật của Đức Thế Tôn thật sự đang đi đến hư hoại kể từ hôm nay. Hai Ngài đã làm cho Giáo Pháp của Đức Thế Tôn đứng lại.

Kính bạch hai Ngài, hai Ngài hãy suy nghĩ đi, hai Ngài có còn xứng đáng đứng ra để phán quyết về Pháp Luật của Đức Thế Tôn nữa chăng?

Rồi vị “nói đúng pháp” buồn tủi, đảnh lễ hai vị Trưởng lão, từ giả ra đi không trở lại tự viện của mình nữa.

Câu nói của vị Tỳkhưu trẻ “nói đúng pháp” đã làm chấn động tâm của hai vị Trưởng lão, hai Ngài ray rứt (kukucca) vì đã “vì người quên pháp”, đã “bỏ pháp để che chở cho người ác giới”.

Hai vị Trưởng lão suy nghĩ:

– Chúng ta đã ném viên ngọc Giáo pháp vô giá vào hố thẳm đen tối rồi.

Tuy tu tập trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa hơn 10 ngàn năm, khi mệnh chung hai Ngài không được tái sinh lên cảnh giới chư thiên bậc cao. Một vị sinh làm dạxoa thiên (devayakkha) ở vùng núi HyMãLạpSơn nên có tên là Hemavata, một vị sinh làm dạxoa thiên ở núi Sāta (Sātapabbata) thuộc trung quốc độ (majjhima desa), nên có tên gọi là Sātāgiri.

Trong kinh Đại Hội (Mahāsamayasuttanta) trong Trường bộ kinh IV, có ghi nhận: Sáu ngàn dạxoa từ núi Tuyết đến tham dự đại hội này, có ba ngàn dạxoa từ núi Sāta đến tham dự.

Còn 1.000 vị Tỳkhưu tùy tùng của hai vị trưởng lão cũng tái sinh làm dạ xoa tùy tùng của hai dạxoa thiên, vì đã đồng tình “im lặng” với hai vị Trưởng lão.

Hai dạxoa này là bậc có đại thần lực, nằm trong danh sách 28 vị daxoa chúa có đại uy lực trong kinh Atānātiya trong Trường bộ kinh.

Lần đầu tiên khi hai dạxoa đại thần lực này dự đại hội dạxoa ở núi Bhagalavatī (bhagalavatipabbata)  trong một sảnh đường lớn.

Hai dạxoa nhìn thấy nhau, chợt nhớ lại kiếp trước của mình, cả hai than rằng: “Thật tổn hại lớn cho chúng ta, khi xưa nếu chúng ta đừng “vì người quên pháp” thì nay đâu phải tái sinh vào cảnh giới thấp kém như vầy.

Tuy chúng ta đã thực hành samôn pháp hơn 10 ngàn năm trong thời kỳ giáo pháp của Đức Phật Kassapa, nhưng lại tái sinh vào cảnh giới dạxoa chư thiên (devayakkha), trong khi các cư sĩ hộ độ chúng ta lại tái sinh vào những cảnh giới chư thiên cao hơn”.

Rồi hai dạxoa đại uy lực hỏi thăm nhau về kiếp sống hiện tại.

– Này bạn, hiện bạn đang sống ở nơi nào?

– Này bạn, tôi hiện đang sống ở núi HyMãLạpSơn (Hemavata).

– Ồ! Nơi bạn sống được xem là nơi kỳ diệu, khi nào bạn thấy hay nghe “điều lạ thường” nơi ấy, bạn hãy báo tin cho tôi được biết với.

– Này bạn, được thôi. Này bạn, hiện bạn đang sống ở nơi nào?

– Này bạn, nơi tôi đang sống là vùng núi Sāta ở Trung quốc độ.

– Ồ! Bạn đang sống nơi có nhiều bậc Thánh xuất hiện, đó là vùng đất phi thường. Khi bạn thấy hay nghe “điều kỳ diệu phi thường”, bạn hãy báo tin cho tôi biết với.

– Này bạn, điều ấy không có khó khăn với tôi.

Như vậy, hai dạxoa đại uy lực có lời giao ước với nhau như thế.

* Giảng đường Bhagalavati.

Là nơi hội họp của các dạxoa, giảng đường này nằm trong Bắc Cưulư châu (Uttaradīpa).

Trong kinh Ātāyātiya của Trường Bộ kinh, chỉ gọi Bhagalavati là “giảng đường ”.

Theo Ngài Dhammapāla trong bản Sớ giải kinh Tiểu tụng (Suttanipāta) thì đó là “núi Bhagalavati” nằm trong vùng HyMãLạpSơn ([108]).

Theo Ngài Buddhaghosa trong bản Sớ giải kinh Trường bộ (Sumaṅgalavilāsinī) ([109]) thì ghi nhận: “Đó là một sảnh đường bằng ngọc” (ratanamaṇḍapa), rộng 12 do tuần, nằm trên bờ hồ Dharani trong xứ Bắc Cưulư châu (Uttaradīpa).

Mỗi tháng các dạxoa đến họp ở giảng đường này một lần để giải quyết những tranh chấp.

Gọi là Bhagalavati là gọi theo tên của dây leo Bhagalavatī mọc quanh vùng đó.

Hai dạ xoa gặp nhau giữa đường ở giữa hư không.

Khi Đức Phật thuyết giảng kinh Chuyển Pháp Luân, âm thanh như Phạm thiên của Ngài lan rộng khắp một ngàn tỷ thế giới và 32 điều kỳ diệu xảy ra. Bấy giờ tại núi HyMãLạpsơn, tất cả loài hoa đều nở rộ, những loại hoa nở đúng mùa cũng có, loại hoa sái mùa cũng ra hoa rực rỡ.

Dạxoa Hemavata thấy điều kỳ diệu này, chợt nhớ đến lời hứa với dạxoa Sātāgiri, suy nghĩ rằng:

“Ngọn núi chúa này hôm nay trở nên xinh đẹp, thơm ngát lạ thường, điều kỳ diệu đã sinh khởi cho ngọn núi chúa này. Ta hãy đi tìm dạxoa Sātāgiri, mời vị ấy đến nơi đây thưởng ngoạn vùng núi chúa xinh đẹp này”.

Rồi như dạxoa Sātāgiri, dạxoa Hemavata cùng 500 dạ xoa tùy tùng theo đường hư không đi đến vùng Trung quốc độ.

Hai vị dạxoa thiên này gặp nhau giữa hư không trên vùng trời thành Vương Xá. Dạxoa thiên Sātāgiri hỏi dạxoa Hemavata rằng:

– Này bạn, vì sao bạn đến vùng Trrung quốc độ này?

–  Này bạn, hiện nay vùng núi chúa HyMãLạpsơn xuất hiện điều kỳ diệu là: “Tất cả loài hoa đều nở rộ những cánh hoa xinh đẹp, khắp núi rừng Hy MãLạpsơn trở nên xinh đẹp và thơm ngát”. Tôi đến đây mời bạn đến vùng núi chúa của tôi để thưởng ngoạn khung cảnh xinh đẹp lạ thường ấy.

Dạxoa Sātāgiri hỏi rằng:

– Này bạn, bạn có biết vì sao những loài hoa nở rộ sái mùa cũng có, đúng mùa cũng có, như vậy chăng?

– Này bạn, tôi không biết do nguyên nhân nào có sự kiện kỳ diệu này?

– Này bạn Hemavata, vì Đức Phật đã xuất hiện trong thế gian. Đức Thế Tôn hiện đang thuyết kinh Chuyển Pháp Luân tại rừng nai ở Isipatana trong xứ BaLaNại.

Do vậy, trái đất đã rung chuyển, đồng thời 32 điều kỳ diệu cùng một luồng ánh sáng phi thường đã hiện khởi trong thế gian.

Có câu hỏi rằng: Khi Bồtát nhập thai bào, xuất thai bào, Bồtát thành đạo, Đức Phật Chuyển pháp luân thì trái đất rung động cùng với 32 diểu kỳ diệu khởi sinh. Vì sao hai dạ xoa nhất là dạ xoa Hemavata lại không hay biết ?. Lại nữa, khi ấy “âm thanh như Phạm thiên của Đức Phật” lan xa đến một ngàn tỷ thế giới, vì sao dạxoa Hemavata cũng không hay biết?

Đáp. Khi Bồtát nhập thai bào, trái đất rung chuyển nhưng không mạnh lắm, đồng thời 32 điều kỳ diệu xảy ra trong thoáng chốc, hai vị chúa dạ xoa biết những điều này, nhưng vì quá bất ngờ nên không lưu ý đến, nên không để tâm quán xét “vì sao có hiện tượng này”?.

Lần thứ hai, khi Bồtát sinh ra ở vườn LâmTỳNi (Lumbinī) hiện tượng này lại xảy ra, trái đất rung chuyển mạnh hơn, 32 điều kỳ diệu kéo dài hơn, hai dạxoa chúa cũng biết hiện tượng này và cũng cho là “ngẫu nhiên”, nên cũng không lưu tâm đến.

Mặt khác, tuy các loài hoa nở rộ, hoa nở đúng mùa cũng có, hoa nở sái mùa cũng có, nhưng chỉ có  trong rừng LâmTỳNi mà thôi, vì khi ấy phước độ của Bồtát chưa đến thời “chín muồi”.

Lần thứ ba, khi Bồtát chứng quả Vô thượng Chánh giác, quả địa cầu rung chuyển mạnh hơn hai lần trước và 32 điều kỳ diệu lại xuất hiện với thời gian lâu hơn hai lần trước, hai dạxoa chúa cũng biết.

Nhưng cũng như lần trước họ cho là “ngẫu nhiên” nên cũng không lưu tâm lắm.

Lần thứ tư, khi Đức Thế Tôn khai chuyển Pháp luân, bấy giờ quả địa cầu rúng động mạnh và 32 điều kỳ diệu lại xuất hiện khá lâu, dạ xoa Sātāgiri đã lưu ý đến, khi nghe “âm thanh như Phạm thiên của Đức Phật” lan xa, vị ấy biết được “Đức Phật đã xuất hiện trên thế gian” nên đi đến rừng Nai để nghe pháp, vì âm thanh của Đức Phật lan đến vùng Trung Ấn trước tiên.

Cũng từ hiện tượng này, cùng với sự kiện chư thiên, Phạm thiên cùng tề tựu đến rừng Nai để nghe pháp âm cũa Đức Thế Tôn, giúp cho vị ấy “tin chắc” rằng: “Đây  Đức Thế Tôn bậc Vô thượng Chánh Giác”, dù khi ấy dạxoa Sātāgiri không chú ý nghe pháp và chưa đắc Thánh quả.

Riêng dạxoa Hemavata cũng biết hiện tượng trên, nhưng trước khi Đức Phật chuyển Pháp luân, tất cả những loài hoa trên trái đất đều nở rộ, vùng HyMãLạpSơn trở nên xinh đẹp, ngập tràn hương hoa, nên dạxoa không lưu ý đến sự kiện “trái đất rung chuyển mạnh, cùng 32 điều kỳ diệu xuất hiện”, cũng như vị ấy nghe “âm thanh của Đức Phật lan đến”, nhưng tâm vị ấy mãi nghĩ “đến điều kỳ diệu của núi rừng HyMãLạpSơn” và nghĩ đến dạ xoa Sātāgiri, nên không quan tâm đến những điều này.

Dạxoa Satāgiri muốn dạxoa Hemavata cùng với mình đi đến rừng Nai để  nghe pháp của Đức Thế Tôn. Dạ xoa thiên Sātāgiri đã nói rằng:

Ajja pannaraso uposatho; dibbā ratti upaṭṭhitā.

Hôm nay ngày trăng tròn Bốtát; đêm chư thiên đã xuất hiện.

Anoma nāmaṃ Satthāraṃ; handa passāma Gotamaṃ.

Đức Đạo sư vô thượng, hãy đến gặp Đức CồĐàm.

Nghĩa là.

Hôm nay là ngày 15 đêm trăng tròn, là ngày Bốtát (trai giới). Đêm nay xinh đẹp như đêm ở cõi chư thiên, đêm chư thiên ấy đã xuất hiện ở nơi này.

Này bạn Hemavata, bậc Đạo sư tối thượng trong thế gian đã hiện khởi, vị ấy được gọi là CồĐàm (Gotama). Chúng ta hãy đến đảnh lễ Đức Thế Tôn CồĐàm  và nghe Ngài giảng pháp bất tử.

Nghe dạxoa Sātāgiri nói như thế, dạxoa Hemavata suy nghĩ:

“Bạn ta đã tán thán bậc mà vị ấy được gặp, đó là bậc Chánh Giác có tộc họ là CồĐàm. Đức Đạo sư có những hồng danh cao thượng (anoma nāmaṃ Satthāraṃ)  như  ALaHán Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ  …

Những tà sư như Makkhali Gosāla, Pūraṇa Kassapa Ajita Kesakambali, Sañjaya … cũng xưng mình là “Bậc ALaHán Chánh Đẳng Giác”, nhưng những tà sư này đã làm sụp đổ nhiều chúng sinh khi gieo rắc vào tâm của họ “những quan điểm sái quấy, những điều hư ngụy”.

Nếu vị có tộc họ là CồĐàm mà Sātāgiri được gặp là bậc Chánh Giác thật sự, vị ấy phải là bậc có đức độ trước tiên (tādiguṇa), tâm an nhiên tự tại trước những “ngọn gió đời”. Không hân hoan cũng không bất bình đối với sự vật chuyển xoay, dời đổi.

Như vậy, ta phải tìm hiểu Đức CồĐàm ấy có phải “đúng là bậc Chánh giác hay không?”.

Và dạxoa thiên Hemavata đã hỏi rằng:

Kicci mano supanihito; sabbabhūtesu tādino.

Có phải ý vi ấy khéo gìn giữ trọn vẹn; chói sáng nổi bật trong tất cả.

Kacci iṭṭhe aniṭṭhe ca; saṅkappassa vasīkatā.

Có phải hân hoan và không hân hoan;  (vị ấy) khéo điều phục tư duy.

Nghĩa là.

Này bạn Sātāgiri, có phải vị ấy khéo gìn giữ ý trọn vẹn, vị ấy bình thản trước những gì tốt đẹp phát sinh cho mình, bình thản với những gì bất ổn sinh khởi cho vị ấy.

Vị ấy là bậc rực sáng giữa tất cả người, chư thiên và Phạm thiên (chữ bhūta chỉ cho “chúng sinh”, đồng thời cũng có nghĩa là “nổi lên, hiện bày ra”).

Này bạn Sātāgiri, Đức CồĐàm mà bạn được gặp, ý vị ấy có còn rơi vào thương hay ghét không? Vị ấy có khéo điều phục những suy nghĩ của mình, thoát ra ba loại suy tư sái quấy là: “Tìm kiếm những dục lạc (kāmavittakka)”, “tìm kiếm những nóng bức (dosavitakka)”, “tìm kiếm sự nảo hại (hiṃsavitakka) không”?.

Nói cách khác, có phải vị ấy có khéo an trú tâm trong ba loại tầm là: “thoát ra khỏi dục lạc (nekkhamavitakka)”, “thoát ra nóng giận (adosavittakka)”, “thoát ra sự làm hại chúng sinh (ahiṃsavitakka) không”?.

Nghe dạxoa Hemavata hỏi, dạxoa Sātāgiri tin tưởng Đức Thế Tôn là bậc đã chứng đắc “Toàn giác trí” (sabbaññū buddha), đồng thời muốn cho dạxoa Hemavata hiểu biết về những ân đức cao tột của bậc Toàn Giác, tạo niềm tin cho dạxoa Hemavata, nên trả lời rằng:

Mano c’assa supanihito; sabbabhūtesu tādino.

Ý vị ấy khéo gìn giữ trọn vẹn; chói sáng nổi bật trong tất cả.

Atho iṭṭhe aniṭṭhe ca; saṅkappassa vasīkatā.

Như vậy hân hoan và không hân hoan, (vị ấy) khéo điều phục suy tư.

Nghĩa là.

Dạxoa Sātāgiri xác định Đức CồĐàm đã thành tựu “ân đức ấy”. Ngài đã hoàn toàn thoát ra “thương, ghét”.

Bản Sớ giải nêu dẫn: “Trước khi chứng đắc Toàn Giác trí, Bồtát nhiều lần đã thực hành ân đức ấy rồi, như:

– Trong kiếp sinh làm voi chúa Chaddanta, Ngài đã khéo léo nhiếp tâm, không cho rơi vào “hại tầm”. Người thợ săn Soṇutta đã ám hại Ngài, nhưng Ngài vẫn cho gã thợ săn Soṇutta cặp ngà quý của mình, gã không đủ sức cưa cặp ngà quý, Bồtát dùng vòi bẻ gãy hai cặp ngà của chính mình, cho gã thợ săn Soṇuttara ([110]).

– Trong kiếp sinh làm con voi Đức Hạnh (Sīvalināga), Ngài đã cho gã thợ săn cưa ngà của Ngài ba lần. Lần cuối gã thợ săn vô ơn này đã hành hạ Ngài thật đau đớn khi moi móc thịt sát chân ngà, rồi dùng cưa bén cưa tận gốc ngà, nhưng Bồtát vẫn không hề oán giận ([111])

– Trong kiếp sinh làm khỉ chúa, Bồtát đã cứu mạng một Bàlamôn, nhưng Bàlamôn vô ơn này đã tính giết Bồtát để ăn thịt.

Nhưng Bồtát không chút hờn giận, lại tìm cách hướng dẫn gã Bàlamôn bạc ơn ra khỏi rừng ([112]).

– Trong kiếp Ngài là Bồtát Vidhura, đã bị dạxoa Puṇṇaka hành hạ, toan tính giết chết Ngài. Nhưng Ngài vẫn giảng pháp tế độ dạxoa Puṇṇaka, giúp dạxoa cưới được nàng Long nữ ([113]).

Nghe dạxoa Sātāgiri khẳng định “Đức thế Tôn có đức độ tuyệt hảo hư thế”, dạxoa Hemavata hỏi tiếp:

Kacci adinnaṃ nādiyāti; kacci pāṇesu saññato.

Có phải  không lấy của không cho?; có phải không làm hại hữu tình?.

Kacci ārā pamādamhā; kacci jhānaṃ na riñcati.

Có phải đã xa lìa tán loạn?; có phải không phế bỏ thiền tịnh?.

Nghĩa là.

Này bạn Sātāgiri, vị ấy có “lấy của không cho” bằng thân hay ngữ không? Vị ấy có làm hại chúng sinh bằng thân hay ngữ không? Tâm của vị ấy có rơi vào tán loạn, phân tán không? Vị ấy có thực hành thiền hay không thực hành thiền tịnh?

Dạxoa Hemavata trước tiên hỏi về “ý” của bậc Chánh giác mà dạxoa Sātāgiri tán thán, sau khi nghe dạxoa Sātāgiri “khằng định”: “Đức Thế Tôn luôn có tâm an tịnh trước mọi lạc khổ”.

Dạxoa Hamavanta muốn thẩm định lời khẳng định của dạxoa Sātāgiri, bằng cách nêu lên những câu hỏi “về thân, ngữ, ý”của bậc Chánh giác ấy.

Trước tiên là ba ác nghiệp thuộc về thân: “Lấy của không cho”, “làm hại chúng sinh khác” và “quan hệ dục tính”.

– Về thân ngữ, Ngài có từ bỏ “lấy của không cho” không? Có từ bỏ sát sinh, làm hại chúng sinh khác không”?

– Về ý như thế nào? Vị ấy có thường tu tập thiền tịnh không? Có rơi trạng thái tán loạn, quên lãng không?

Khi hỏi đến “thiền” (jhāna), dạxoa Hemavata ngầm hỏi “vị ấy có xa lánh tình dục” không? Vì khi chứng đạt thiền tịnh, nếu “quan hệ tình dục” sẽ bị hoại thiền.

Người chứng đạt được thiền tịnh sẽ cố gắng giữ gìn “thiền”, bằng cách “thường xuyên an trú tâm trong thiền và gìn giữ ý không cho rơi vào đắm nhiễm trong năm trần cảnh”.

Dạxoa Sātāgiri đáp rằng:

Na so adinnaṃ ādiyati; atho pāṇesu saññato.

Vị ấy từ bỏ lấy của không cho; không còn làm hại chúng sinh

Atho ārā pamādamhā; buddho jhānaṃ na riñcati

Đã xa lìa tán loạn; Đức Phật không xao lãng thiền tịnh.

Nghĩa là.

Này bạn Hemavata, Đức Phật đã từ bỏ ba ác hạnh về thân rồi.

Từ khi xuất gia cho đến nay, Ngài luôn an trú tâm trong thiền tịnh, không hề có tư tưởng “quan hệ tình dục”.

Tức là dạxoa Sātāgiri xác nhận: “Những điều dạxoa Hemavata nêu ra, Đức Thế Tôn  đã thành tựu rồi”.

Tiếp theo dạxoa Hemavata hỏi:

Kacci musā na bhanati; kacci na khīṇabyappatho.

Có phải không dối trá?; có phải không còn diệt trừ (lời) ác?.

Kacci vebhūtiyaṃ nāha; kacci samphaṃ na bhāsati.

Có phải không còn vu khống?; có phải sự vô ích không nói?

Nghĩalà.

Dạxoa Hemavata hỏi dạ xoa Sātāgiri  về bốn ác ngữ nghiệp của Đức Phật có còn chăng?

Dạxoa Sātāgiri nghe hỏi, đã đáp rằng:

Musā ca so na bhanati; atho na khīṇabyappatho.

Vị ấy không còn dối trá; thật sự diệt ác ngữ.

Atho vebhūtiyaṃ nātha; mantā atthaṃ subhāsati.

Đúng vậy, không còn vu không; khéo nói lời lợi ích.

Nghĩa là.

Đúng như vậy, này bạn Hemavata, Đức Thế Tôn đã diệt trừ 4 ác ngữ nghiệp là: Lời dối trá, lời ác, lời chia rẽ và lời vô ích.

Đức Thế Tôn nói lên sự lợi ích một cách khéo léo, tức là nói “đúng thời”, nói làm cho tâm người nghe phát sinh hỷ lạc.

(Ngay khi còn là Bồtát, Ngài đã xa lánh bốn ác ngữ nghiệp, nên Ngài có những tướng đại nhân như:

– Mỗi lỗ chân lông chỉ có một sợi lông, sợi lông ấy lại mọc ngược lên như móc câu.

– Một sợi lông trắng mềm mại ở giữa hai lông mày, sợi lông ấy xoắn lại như cục bông mềm mại).

Nghe những lời khẳng định của dạxoa Sātāgiri, tâm dạxoa Hemavata phát sinh niềm tin nơi Đức Phật.

Vị ấy lại muốn tìm hiểu những pháp thượng nhân mà Đức phật đạt được, nên hỏi rằng:

“Kacci na rajjati kāmesu; kacci cittaṃ anāvilaṃ.

Có phải không vui thích trong dục; có phải tâm không vẫn đục?.

Kacci mohaṃ atikkanto; kacci dhammesu cakkhumā.

Có phải mê muội đã diệt trừ; có phải có mắt đối với pháp?

Nghĩa là.

Dạxoa Hemavata muốn tìm hiểu tâm của vị được dạxoa Sātāgiri tán thán là “Đức Thế Tôn” ấy, tâm của Ngài có còn “vui thích trong dục lạc không? Có còn bị vẫn đục bởi những phiền não không? Đã xa lìa si mê do thấy được pháp chưa?”.

Dạxoa Hemavata muốn hỏi: “Vị mà bạn tán thán là bậc Chánh giác ấy, tâm vị ấy có còn tham, sân, si không? Vị ấy đã chứng đạt pháp bằng mắt trí tuệ chưa?”.

Dạxoa Sātāgiri đáp rằng:

Na so rajjati kāmesu; atho cittaṃ anāvilaṃ.

Vị ấy không còn vui thích trong dục; thật vậy, tâm không còn vẫn đục.

Sabbamohaṃ atikkhanito; Buddho dhammesu cakkhumā.

Đã diệt trừ tất cả si mê; Đức Phật có mắt đối với pháp”.

Nghĩa là:

Này bạn Hemavata, Đức Phật mà tôi được diễm phúc chiêm ngưỡng, vị ấy “không còn vui thích trong các dục lạc: Sắc, thinh, hương, vị, xúc”.

Vị ấy đã “lìa bỏ các nhơ bẩn do sân  gây nên, khiến tâm bị vẫn đục”, vị ấy “thoát ra bốn loại si ám” và “vị ấy “có con mắt đối với pháp”.

Bốn loại si ám bị diệt trừ theo tuần tự là:

– Khi chứng đạt Đạo, quả Dự Lưu, tất cả những loại vô minh (avijjā) che lấp “bốn sự thật cao quý” đã bị loại trừ,  tất cả những loại vô minh kết hợp với tà kiến (micchādiṭṭhi), kết hợp với nghi hoặc (vicikicchā), kết hợp với “keo kiệt” (macchāriya), “ganh tị” (issā) và “hối tiếc” (kukucca) đã bị diệt tận.

– Khi chứng đạt Đạo, quả Nhứt Lai, tất cả những loại vô minh kết hợp với tham dục và sân ở dạng thô thiển, gây tác động đến thân và ngữ.

Tất cả những loại vô minh ấy đã bị đoạn tận.

– Khi chứng đạt Đạo, quả Bất Lai, tất cả vô minh kết hợp với tham dục và sân ở dạng vi tế trong tâm, đã bị sát trừ.

– Khi chứng đạt đạo quả ALaHán, tất cả vô minh còn dư sót bị sát tận.

Vì sao dạxoa Hemavata được biết: “Vị được dạxoa Sātāgiri tán thán là Đức Thế Tôn, Ngài đã có tam nghiệp là: Thân nghiệp, ngữ nghiệp và ý nghiệp trong sạch rồi”. Lại còn hỏi về tham, sân, si trong tâm của vị ấy?

Đáp rằng: Bậc ALaHán thì tam nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, nhưng người có tam nghiệp thanh tịnh, chưa hẵn là bậc ALaHán.

Như trường hợp Đạo sư Ālāra Kālāma thường an trú tâm trong thiền tịnh, nên tham, sân và si ít có cơ hội trỗi dậy.

Hoặc như câu chuyện sau đây.

Có 500 vị Tỳkhưu nhận đề mục thiền từ nơi Đức Đạo sư. Các Ngài đi vào rừng để hành pháp, với sự nỗ lực thực hành pháp các ngài chứng đạt thiền tịnh. Ngỡ rằng “đã chứng đạt đạo quả” vì tâm các Ngài được an tịnh.

Các Ngài trở về Tịnh xá KỳViên trình lên Đức Thế Tôn pháp mà mình đã chứng đắc.

Khi các Ngài về đến tịnh xá KỳViên đi đến Hương thất của Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn dạy Đức Ānanda rằng:

– Này Ānanda, các vị Tỳkhưu chưa cần gặpNhư Lai vội, hãy bảo các Tỳkhưu ấy ra tha ma mộ địa đi.

Nghe lời dạy của Đức Phật thông qua Đức Ānanda, 500 vị Tỳkhưu ra bãi tha ma mà không hỏi vì sao? Các Ngài suy nghĩ : “Hẵn Đức Thế Tôn  biết được điều kỳ diệu nơi tha ma mộ địa ấy, nên dạy chúng ta đến đó”.

Trong bãi tha ma ấy có những thi hài bỏ nằm trên đất, có một tử thi nữ nhân mới vừa chết, được mang vào nghĩa địa. Các Ngài nhìn tử thi còn tươi ấy để quán tưởng về tử thi, nhưng rồi tâm các Ngài phát sinh cảm dục, các Ngài chợt hiểu rằng: “Ta chưa chứng  đắc quả vị ALaHán”.

Đức Thế Tôn từ trong Hương thất, Ngài phóng hào quang ra như đang xuất hiện trước mặt các vị Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn rằng:

Yānimāni apatthāni; alāpūneva sārade.

Kāpotakāni aṭṭhīni; tāni disvāna kārati.

“Như trái bầu mùa thu, bị vất bỏ quăng đi.

Nhóm xương trắng bồ câu, thấy chúng còn vui gì? (HT. TMC dịch) ([114]).

Do vậy, dạxoa Hemavata hỏi tiếp về trạng thái tâm của vị được dạxoa Sātāgiri tán dương là “Đức Phật”.

Khi nghe dạxoa Sātāgiri trả lời: “Tâm Đức Phật đã tận trừ tham sân si”, dạxoa Hemavata vô cùng hoan hỷ, niềm tin đặt vào Đức Đạo sư đã tăng trưởng.

Vì là bậc đa văn trong thời giáo pháp của Đức Phật Kassapa (CaDiếp), nên dạxoa Hemavata muốn biết thêm những pháp thượng nhân mà một vị Phật đạt được, vì rằng: “Bậc ALaHán đã đoạn tận tham, sân, si. Nhưng vị ALaHán chưa hẵn là Bậc Chánh Giác”.

Do đó, dạxoa Hemavata hỏi tiếp:

Kacci vijjāya sampanno; kacci samsuddhacāraṇo

Có phải tròn đủ minh; có phải hạnh thanh tịnh.

Kaccissa āsavā khīṇā; kacci n’atthi punabbhavo.

Có phải diệt trừ mọi ô nhiễm; có phải không còn phải tái sinh?

Nghĩa là.

Này bạn Sātāgiri, vị mà bạn tán dương là Đức Phật, vị ấy có tròn đủ các “minh” (vijjā) không, tức là có đạt được tám trí không? Tám trí đó là:

1’- Túc mạng trí (pubbenivāsānussatiñṇa). Là trí biết được tiền kiếp của mình lẫn của người.

2’- Sinh tử trí (cutūpapātaññāṇa). Là trí thấy rõ chúng sinh tái sinh về nhàn cảnh do có hạnh lành, chúng sinh tái sinh về cõi khổ do có ác hạnh.

3’- Lậu tận trí (āsavakkhayaññāṇa). Là trí biết và thấy rõ các ô nhiễm đã bị diệt trừ trọn vẹn.

4’- Minh sát trí (vipassanā ñāṇa). Là trí biết tất cả các pháp quán xét, như quán xét về danh sắc, về 5 uẩn, về 12 xứ, về 18 giới, về 22 quyền, về “bốn sự thật” …

5’- Hóa tâm trí (manomayiddhi ñāṇa). Là tâm muốn hóa ra bao nhiêu giả thân đều như ý (như trường hợp Ngài Cūḷa Paṇṭhaka hóa ra 1.000 vị Tỳkhưu giống như Ngài).

6’- Thần thông trí (iddhividhiññāṇa). Là hóa hiện ra nhiều cách.

7’- Thiên nhĩ trí (dibbasotaññāṇa). Là trí nhận biết được các loại âm thanh, hay nghe được tất cả âm thanh dù là xa hay gần, trong hay ngoài, thô tháo hay vi tế, tốt đẹp hay xấu xa.

8’- Tha tâm trí (cetopariññāṇa). Là trí biết được tâm người khác.

Nói gọn hơn “Minh” tròn đủ là chỉ cho “ba minh” là: Túc mạng minh, Sanh tử minh và Lậu tận minh.

Vị ấy có đầy đủ các hạnh lành không? Tức là chỉ cho 15 hạnh là:

1’- Giới được gìn giữ (sīlasaṃvara). Là gìn giữ thân, ngữ, ý không cho rơi vào ác pháp.

Thân từ bỏ ba ác nghiệp: Sát sinh, lấy của không cho và tà hạnh trong dục lạc.

Ngữ từ bỏ bốn ác nghiệp: Nói dối, nói ác, nói chia rẽ và nói vô ích.

Ý từ bỏ ba ác pháp là: Tham ác, sân ác và tà kiến ác.

2’- Các quyền được gìn giữ (indriyasaṃvara). Là “gìn giữ” mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý không cho rơi vào bất thiện pháp.

3’-Biết vừa đủ trong vật thực (bhojanemataññūtā). Là thọ dụng vật thực vừa đủ no, khi còn bốn hay năm vắt cơm nữa là no thì dừng lại, uống nước vào là vừa.

4’- Thường tỉnh thức, không mê ngủ (jāgariyānuyoga).

5’- Có niềm tin (saddhā).

6’- Có sự hổ thẹn với tội lỗi (hiri).

7’- Có sự ghê sợ với tội lỗi (ottappa).

8’- Nghe nhiều (bāhusacca).

9’- Có sự ghi nhớ (sati).

10’- Có sự cố gắng (vīriya).

11’- Có trí tuệ sáng suốt (paññā).

12’- Chứng đắc Sơ thiền (pathamajhāna).

13’- Chứng đắc nhị thiền (dutiyajhāna).

14’- Chứng đắc Tam thiền (tatiyajhāna).

15’- Chứng đắc Tứ thiền (catutthajhāna).

Vị ấy có diệt trừ trọn vẹn mọi ô nhiễm không? Vị ấy đã chấm dứt tái sinh chưa?.

Dạxoa Sātāgiri tuy chưa chứng đắc quả vị chi, nhưng có niềm tin “Đức CồĐàm là bậc Chánh giác”, nên đáp rằng:

Vijjāya c’eva sampanno; atho samsuddhacārano.

Vị ấy trí tròn đủ; các hạnh lành trọn vẹn.

Sabbassa āsava khīṇa; natthi tassa punabbhavo.

Mọi ô nhiễm đã diệt trừ; không còn phải tái sinh.

Nghĩa là.

Dạxoa Sātāgiri xác nhận điều mà dạxoa Hemavata hỏỉ, Đức Thế Tôn có đầy đủ.

Có câu hỏi rằng: Vì sao dạxoa Sātāgiri chưa chứng đắc Đạo quả, lại khẳng định Đức Thế Tôn có những đức tính siêu việt như lời dạxoa Hemavata hỏi?

Đáp. Thật ra dạxoa Sātāgiri không thật sự biết” những đức tính siêu việt ấy, Đức Thế Tôn có tròn đủ hay không?”.

Nhưng vị ấy vẫn xác nhận những điều ấy là “có”, vì:

– Chứng kiến vô số thiên nhân cao cấp lẫn Phạm thiên đến rừng Nai để nghe pháp. Từ đó dạxoa Sātāgiri có niềm tin “Đức CồĐàm là bậc Chánh Giác”.

– Là bậc đa văn trong kiếp trước vào thời Giáo pháp của Đức Phật Kassapa. Vị ấy hiểu rằng “vị Chánh giác là bậc có tròn đủ các đặc tính siêu việt ấy”.

Nghe dạxoa Sātāgiri xác nhận: “Đức CồĐàm có những đức tính siêu việt ấy”, tâm dạxoa Hemavata ngập tràn niềm hỷ lạc, không còn hoài nghi về ân đức của vị Chánh giác CồĐàm mà dạxoa Sātāgiri tán dương.

Dạxoa Hemavata nói lên kệ ngôn tán dương ân đức của Đức Chánh giác CồĐàm rằng:

Sampannaṃ munino cittaṃ; kammunā vyappathena ca.

Tâm vị ẩn sĩ viên mãn; và các hạnh hành trọn vẹn.

Vijjācaraṇa sampannāṃ; dhammato naṃ pasaṃsasi.

Minh và hạnh đầy đủ; tán thán  đúng theo pháp.

Nghĩa là.

Tán thán vị ẩn sĩ có tâm an tịnh trọn vẹn, các hạnh lành đã thành tựu đầy đủ, bậc có Minh và Hạnh đủ đầy.

Sự tán thán vị ấy là tán thán đúng theo pháp.

Dạxoa Sātāgiri nghe kệ tán thán Đức Phật CồĐàm, tâm dạ xoa Sātāgiri cũng hân hoan.

Ví như người thuyết phục được người khác đồng ý với quan điểm của mình, tâm người ấy hân hoan.

Cũng vậy, khi nghe dạxoa Hevavanta hết hoài nghi về ân đức của Đức Thế Tôn, đã nói lên lời tán thán ân đức của Đức Thế Tôn, tâm của dạxoa Sātāgiri cũng hân hoan lập lại kệ ngôn của dạxoa Hemavata với hai ý:

– Chấp nhận lời tán thán của dạxoa Hemavata là lời tán thán “đúng theo pháp”. Như ngầm nói rằng: “Này bạn Hemavata, trước đây chúng ta “vì người bỏ pháp” nên phải tái sinh vào cảnh giới dạxoa thấp kém này.

Nay bạn đã “theo pháp quên người”, không vội tin lời tôi nói, đã tìm hiểu rõ ràng, đó là điều tốt đẹp cho bạn vậy”.

– Khích lệ, làm tăng trưởng sự hoan hỷ trong tâm của dạxoa Hemavata.

Thế rồi, cả hai dạxoa đồng nói lên kệ ngôn trên, để tán thán ân đức Đức Thế Tôn.

Với tâm ngập tràn hoan hỷ, như người vừa thoát ra khỏi gánh nặng “vì người bỏ pháp”, dạxoa Hemavata muốn đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, đồng thời muốn dạxoa Sātāgiri cùng đi với mình, nên nói lên hai kệ ngôn:

a- Eṇijaṅghaṃ kisaṃ vīraṃ; appāhāraṃ alolupaṃ.

 Như chân nai, vững chắc, bền bỉ; vật thực chỉ chút ít, không đắm nhiễm điều chi.

Muniṃ vanasmiṃ jhāyantaṃ; ehi passāma Gotamaṃ.

Vị ẩn sĩ trong rừng, thực hành thiền tịnh; hãy đến gặp Đức CồĐàm.

Nghĩa là.

Này bạn Sātāgiri, chúng ta hãy đến đảnh lễ Đức CồĐàm, bậc có chân như chân nai, vững chắc và bền bỉ.

Vị ẩn sĩ ấy đang sống trong rừng, thực hành thiền tịnh, vị ấy là bậc không đắm nhiễm thế gian, thọ dụng nhu cầu cho đời sống minh thật giản dị.

b- Sīhaṃ v’ekacaraṃ nāgaṃ; kāmesu anapekkhinaṃ.

Như sư tử, nai trong rừng; không ước mong trong dục.

Upasaṅkamma pucchāma; maccupāsappamocaram.

Thân cận  để hỏi (pháp), thoát ra bẩy tử thần.

Nghĩa là.

Vị ấy như sư tử chúa, như nai chúa trong rừng, rất khó gặp được (ám chỉ Đức Chánh Giác là bậc hy hữu rất khó xuất hiện trên thế gian), rất khó thân cận. Đức Thế Tôn là bậc đã xa lìa mọi dục vọng, chúng ta hãy đến nơi Đức Thế Tôn ngự, để hỏi pháp từ nơi Ngài, pháp  ấy sẽ dẫn chúng ta thoát ra những cạm bẩy của thần chết.

Và hai dạxoa hoan hỷ  dẫn theo đoàn tùy tùng là 1.000 dạxoa theo đường hư không, đến rừng Nai yết kiến Đức Thế Tôn.

Nhưng Ngài Đại luận sư Buddhaghosa (Giác Âm) cho rằng:“Hai dạxoa thiên Sātāgiri và Hemavata không phải gặp nhau trong buổi thuyết pháp đầu tiên của Đức Thế Tôn, mà hai vị dạxoa này gặp nhau khi Đức Phật an ngự tại Gotāmaka” ([115]).

Hai dạxoa thiên Sātāgiri và Hemavata cùng một ngàn tùy chúng dạxoa theo đường hư không đi đến rừng Nai, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi ấy Đức Thế Tôn vẫn ngồi trong tư thế “tréo chân” (pallaṅka) đang thuyết giảng kinh Chuyển Pháp Luân.

Sau khi Đức Thế Tôn thuyết giảng xong kinh Chuyển Pháp Luân, dạxoa Hemavata đọc lên bài kệ tán dương ân đức Phật và xinh bạch hỏi:

Akkhātāraṃ pavattāraṃ; sabbadhammāna pāraguṃ.

Bậc tuyên thuyết vận hành; tất cả pháp đến bờ kia.

Buddhaṃ verabhayātītaṃ; mayaṃ pucchama Gotamaṃ.

Giác ngộ tất cả, thoát khỏi sợ hãi hận thù; chúng con xin hỏi Đức CồĐàm.

Nghĩa là.

Kính bạch Đức CồĐàm, Ngài tuyên thuyết và vận chuyển pháp đi đến “bờ kia”. Ngài là bậc có trí tuệ tròn đủ, hiểu và thấy rõ các pháp qua sáu cách: Hiểu biết cao tột (abhiññā), hiểu biết rộng rãi (pariññā), dứt bỏ ác pháp (pahāna), phát triển thiện pháp (bhāvanā), chứng đạt (sacchikiriyā) và thành tựu chân chánh (samāpatti).

Ngài là bậc đã giác ngộ trọn vẹn, diệt trừ tất cả vô minh.

Chúng con xin hỏi Đức CồĐàm về những pháp mà chúng con chưa được biết.

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời, sau khi biết Đức Thế Tôn nhận lời. Dạxoa Hemavata hỏi rằng:

Kismiṃ loko samuppanno; kismiṃ kubbati santhavaṃ.

Do gì thế gian hiện khởi; do vì làm cho thân cận (santhavā).

Kissa loko upādāya; kismiṃ loko vihaññati.

Do gì thế gian nắm giữ; do gì thế gian hoại vong?.

Nghĩa là.

* Do pháp nào mà thế gian hiện khởi.

“Thế gian” có ba loại thế gian là: Hư không thế gian (ākāsaloka), chúng sinh thế gian (sattaloka) và pháp hành thế gian (saṅkhāraloka).

– Hư không thế gian. Là chỉ cho “những khoảng trống, đồng thời chỉ cho “cảnh giới tái sinh”.

Chúng sinh thế gian. Là bao gồm: Chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ (peta – ma đói), người, chư thiên, Phạm thiên (Atula được xem  là chư thiên hoặc ngạ quỷ). Đó là thế gian theo “nghĩa chế định”.

Pháp hành thế gian. Là danh sắc, hoặc danh, hoặc sắc. Đó là chúng sinh được nhìn theo chân đế (paramattha sacca).

Thế gian trong kệ ngôn này là chỉ cho hai loại thế gian: “Chúng sinh thế gian” và “pháp hành thế gian”.

* Do pháp nào khiến thế gian thân cận với nhau. “Thân cận” ở đây ám chỉ cho “ái dục” và “tà kiến”.

Khi có tà kiến về “bản ngã” (atta), sẽ dẫn đến quan điểm “có cái ta”, khi có “cái ta” sẽ dẫn đến quan điểm “của ta”.

“Dính mắc” đến hai điều trên, đó chính là “tham ái”.

* Do gì thế gian nắm giữ. Là thế gian thường nắm giữ pháp nào?

* Do gì thế gian hoại vong. Hoại vong ở đây chỉ cho “khổ”.

Đức Thế Tôn trả lời rằng:

Chasu loko samuppanno; chasu kubbati santhavaṃ.

Do sáu thế gian hiện khởi; do sáu làm cho thân cận.

Channameva upādāya; chasu loko vihaññati.

Do sáu thế gian nắm giữ; do sáu thế gian hoại vong.

Nghĩa là.

Sáu ở đây chỉ cho “sáu nội xứ” và “sáu ngoại xứ”.

Sáu nội xứ là: Mắt, tai, mũi, lưỡi , thân và ý.

Sáu ngoại xứ là: Sắc, thinh, mùi, vị, xúc và pháp.

Đức Thế Tôn trả lời rằng:

– Này dạxoa Hemavata, vì có 6 nội xứ cùng 6 ngoại xứ nên hai loại thế gian hiện khởi, nếu không có 12 xứ này thì  “chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ, người, chư thiên, phạm thiên” không hiện khởi được.

Cũng vậy, theo cái nhìn chân đế thì “danh sắc hữu tình”, tức “pháp hành thế gian” cũng không hiện bày.

– Này dạxoa Hemavata, cũng do sáu nội xứ cùng sáu ngoại xứ mà “thế gian chúng sinh” rơi vào tà kiến và tham ái.

– Này dạxoa Hemavata, cũng do có 6 nội xứ cùng 6 ngoại xứ, khiến “chúng sinh thế gian” rơi vào “nắm giữ”, như: Mắt của tôi, tai của tôi …

– Này dạxoa Hemavata, cũng do 6 nội xứ cùng 6 ngoại xứ, “chúng sinh thế gian” rơi vào “khổ”, là sự nóng bức do 12 xứ này bị biến đổi theo luật vô thường.

Như trong bài kinh Ādittapariyāya sutta (Kinh giải về lửa), Đức Phật có dạy: “Này các Tỳkhưu, mắt là lửa, sắc là lửa, nhãn thức là lửa …”.

Đồng thời do có 6 nội xứ cùng 6 ngoại xứ nên “chúng sinh thế gian” rơi vào “khổ luân hồi”.

Dạxoa Hemavata không thể hiểu rộng rãi câu kệ ngôn giải đáp vắn tắt của Đức Thế Tôn về 12 xứ.

Dạxoa Hemavata muốn hiểu rõ về 12 xứ xoay quanh luân hồi (vatta), đồng thời xuất ra khỏi luân hồi (vivatta), nên hỏi về chi tiết của 12 xứ:

Katamaṃ taṃ  upādānaṃ; yattha loko vihaññati.

Thế nào điều “nắm giữ”, nơi nào đời hoại vong?

Niyānaṃ pucchito brūhi; kathaṃ dukkhā pamuccati.

Xin trả lời câu hỏi; thế nào thoát đau khổ?

Nghĩa là.

 * Thế nào điều “nắm giữ”. Dạxoa Hemavata muốn hỏi: “sáu” mà Đức Thế Tôn dạy “đó là gì?”, sáu đó đang “nắm giữ” cái gì?.

*Nơi nào đời họai vong. Dạxoa Hemavata muốn hỏii về “khổ đế”, và ngầm hỏi đến “nguyên nhân sinh khổ”.

*Xin trả lời câu hỏi. Là: Bach Thế Tôn con muốn tìm hiểu về “khổ, nhân sinh khổ”, xin Ngài hãy giải thích cho con được rõ về những điều này.

* Thế nào thoát đau khổ. Là “bạch Thế Tôn, làm cách nào để thoát ra đau khổ”.

Dạxoa Hemavata hỏi đến “sự diệt khổ” và ngầm hỏi đến “con đường diệt khổ”.

Đức Thế Tôn đáp rằng:

Pañca kāmaguṇa loke;  manochattha paveditā.

Năm dục tăng trưởng nơi thế gian; Ta tuyên bố ý là thứ sáu.

Ettha chandaṃ virājetvā; evaṃ dukkhā pamuccati.

Đã lìa bỏ sáu này; như vậy thoát khỏi khổ.

Nghĩa là.

Này dạxoa Hemavata, Như Lai chỉ ra 6 pháp là: Năm dục tăng trưởng cùng với ý là thứ sáu. Chính ý đang “nắm giữ” năm dục tăng trưởng.

Vấn đề này cần hiểu rộng như sau:

Năm dục tăng trưởng. Là chỉ cho sắc, thinh, hương, vị và xúc tốt đẹp, thù diệu, đáng hài lòng, đáng mong muốn.

Khi nói đến năm dục tăng trưởng, Đức Thế Tôn ngầm đế cập đến năm nội xứ là: Mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, đồng thời ngầm đề cập đến “năm nội-ngoại xứ” là: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân thức.

Ý là thứ sáu. Đức Thế Tôn nêu rõ nội xứ là “ý xứ”, Ngài ngầm đề cập đến ngoại xứ là “pháp xứ”, ngầm đề cập đến nội-ngoại xứ là “ý thức”.

 Chính do “ý thức”  nắm giữ “năm dục tăng trưởng cùng với các pháp đáng hài lòng, đáng thích thú theo khuynh hướng tham đắm”, nên thế gian (chỉ cho năm uẩn) rơi vào “khổ”.

– Này dạxoa Hemavata, ngươi hãy lìa bỏ “sáu” ấy (tức là lìa bỏ tham đắm 6 ngoại xứ), ngươi sẽ  “thoát ra đau khổ”.

Lại nữa, khi Đức Thế Tôn trả lời câu hỏi của dạxoa Hemavata, hai câu đầu Đức Thế Tôn nêu ra “khổ” đồng thời ngầm đề cập đến “nguyên nhân sinh khổ” đó là ái dục. Sự “nắm giữ”, sự “đắm nhiễm”, sự “thích thú” … đối với 12 xứ  là hình thức của “ái” (taṅhā).

Đức Thế Tôn thuyết lên hai câu sau, Ngài nêu ra sự diệt khổ”, là diệt trừ ái đối với 12 xứ, đồng thời Ngài ngầm nêu ra “con đường dẫn đến diệt khổ”.

Đức Thế Tôn với tâm mình nhận thấy trí của một số dạxoa trong nhóm hội chúng dạxoa của Hemavata và Sātāgiri chưa nắm bắt được “ẩn nghĩa” của kệ ngôn bốn câu ở trên.

Để tế độ chúng dạxoa ấy, Ngài thuyết tiếp kệ ngôn bốn câu là:

Etaṃ lokassa niyyaṃ; akkhātaṃ vo yathātathaṃ.

Đây là ra khỏi đời; nói lên điều như thật đến ngươi.

Evaṃ vo ahaṃ akkhāmi; evaṃ dukkhā pamuccati.

Ta nói với ngươi như vậy; như vậy là thoát khỏi khổ”.

Nghĩa là.

* Đây là ra khỏi đời. Là trong thế gian có sự “ra khỏi” (niyyā) thế gian, như Đức Phật dạy: “Này Rohitassa, ta tuyên bố trong tấm thân một tầm này (byāmamate) , với những tư tưởng, với những tư duy của nó. Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới chấm dứt, về con đường đưa đến thế giới chấm dứt”. (HT. TMC dịch) ([116]).

* Nói lên điều như thật đến ngươi. Là “điều Ngài vừa nói lên là “như thật, như chân”, không hể có sự sai khác.

Nghĩa là: Này Hemavata, chính Bát chánh đạo là con đường dẫn ra khỏi thế gian, ra khỏi tam giới (tedhātu) là: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

“Như thật như chân” (yathātathaṃ),nghĩa là: “Chỉ có Bát chánh đạo là con đường duy nhất, dẫn thoát ra khỏi thế gian”.

Này dạxoa Hemavata, cho dù ngươi có hỏi Như Lai cả ngàn lần, với ngàn pháp môn sai biệt, nhằm mục đích “thoát ra khỏi thế gian”.

Này dạxoa Hemavata, Như Lai cũng chỉ có duy nhất một câu trả lời “đó là Bát chánh đạo”, không hề có “con đường nào khác để dẫn ra khỏi thế gian”, ‘con đường duy nhất” này đã được Đấng Như Lai tự mình giác ngộ.

Dạxoa Hemavata muốn nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa, đồng thời tìm hiểu “con đường dẫn ra khỏi khổ”. Vì “Bát chánh đạo” chỉ được Đức Thế Tôn ngầm nói đến trong kệ ngôn trên, nên dạxoa Hemavanta lại hỏi.

Ko sūdha tarati oghaṃ; ko’dha tarati annavaṃ.

Ai thoát khỏi “nước xoáy” (ogha); ở đây, ai vượt biển lớn (annavaṃ).

Appaṭiṭhe anālampe; ko gambhīre na sīdati.

Không bám níu, không chỗ đứng; ai không chìm vào sâu thẳm?

Nghĩa là.

“Nước xoáy” (ogha). Chỉ cho bốn giòng nước mạnh “cuốn trôi, xoáy và nhận chìm”; bốn dòng nước mạnh đó là:

Dòng nước mạnh của dục (kāmogha). Là “năm dục tăng trưởng đã nói ở trên”.

Chính năm dục này “lôi kéo tâm chúng sinh, nhận chìm tâm chúng sinh rơi vào trong đó”, nên chúng sinh này không thể thoát ra khỏi luân hồi.

Dòng nước mạnh của hữu (bhacvogha). Là những cảnh giới tái sinh, “lôi kéo tâm chúng sinh rơi vào đó, rồi nhận chìm chúng sinh trong luân hồi”.

– Dòng nước mạnh của tà kiến (diṭṭhogha). Là những quan điểm sai lệch, lôi kéo tâm chúng sinh vào nơi ấy, khiến tâm trí chúng sinh này không chấp nhận chân lý, để rồi phải rơi vào sự tái sinh vào khổ cảnh.

– Dòng nước mạnh của vô minh (avijjodha). Là sự ngăn che “trạng thái tịch lặng” ám chỉ Nípbàn.

Chính vô minh bao phủ “trạng thái tịch lặng”, nên trí không thể thấy rõ, hiểu rõ Nípbàn, nên chúng sinh cứ mãi “quây quần”, chìm đắm trong tam giới.

Hỏi. Các vị Thánh Hữu học đã chứng đạt Nípbàn, vì sao còn vô minh bao phủ?

Đáp. Tuy các vị Thánh Hữu học chứng đạt được Nípbàn, nhưng chỉ “vẹt được màn vô minh”, chưa thể diệt trừ được vô minh.

Ví như có tấm màn che, người trong phòng không nhìn thấy khung cảnh bên ngoài, một ngọn gió thứ nhất thổi qua, cuốn lên một góc màn, người trong phòng nhìn thấy “cảnh bên ngoài”, rồi tấm màn lại phủ xuống.

Ngọn gió thứ hai mạnh hơn thổi qua, vén lên nửa tấm màn, người trong phòng thấy được khung cảnh bên ngoài rõ hơn và rộng hơn, rồi tấm màn lại phủ xuống.

Ngọn gió thứ ba mạnh hơn thổi qua, vén lên hai phần ba tấm màn, người trong phòng nhìn thấy cảnh bên ngoài càng rõ ràng và rộng hơn hai lần trước, rồi tấm màn lại phủ xuống.

Ngọn gió thứ tư thổi mạnh qua, làm đứt tấm màn rơi xuống, người trong phòng nhìn thấy cảnh bên ngoài trọn vẹn.

Bốn ngọn gió ví như bốn Thánh Đạo, ngọn gió thứ tư là Thánh đạo ALaHán, Thánh Đạo này đã diệt trừ trọn vẹn vô minh, ví như ngọn gió thứ tư làm “rơi rụng bức màn”.

Bức màn ví như vô minh, người trong phòng ví như tâm – trí, trong phòng ví như “thế gian”, khung cảnh bên ngoài ví như Nípbàn.

Hay có ví dụ khác là: Có một người bị nhốt trong hang động hẹp, tối tăm. Một tia chớp lóe sáng, người ấy thấy được “cửa ra khỏi động” và một phần cảnh bên ngoài.

Một tia chớp lóe lên sáng rực hơn tia chớo trước, người ấy thấy rõ cảnh bên ngoài hơn lần trước.

Một tia chớp thứ ba lại lóe lên, ánh sáng càng rực sáng, người ấy thấy cảnh bên ngoài càng rõ hơn.

Rồi sấm nổ vang phá tan hang động, người ấy thoát ra bóng tối trọn vẹn, thấy rõ cảnh bên ngoài trọn vẹn.

Ba tia chớp đầu ví như ba Thánh Đạo hữu học, tiếng sấm nổ vang động ví như Thánh Đạo ALaHán. Như Đức Phật có dạy:

“Tất cả pháp như điển chớp. Tất cả pháp như sấm động” ([117]).

* Ai thoát khỏi nước xoáy. Nghĩa là: “Bậc an tịnh nào có khả năng vượt ra bốn dòng nước xoáy”?

* Ai vượt khỏi biển lớn. Nghĩa là “Bậc an tịnh nào  có khả năng vượt qua “biển lớn” của luân hồi.

Hai kệ ngôn trên, dạxoa Hemavata muốn hỏi về  lãnh vực bậc hữu học (sekkhabhūmi).

*Không bám víu, không  chỗ đứng. Là “bậc an tịnh nào an ổn, không phải rơi vào nơi mà bên trên không chỗ bám lấy, bên dưới không có chổ đặt chân?”.

*Ai không chìm vào sâu thẳm. Là “Bậc an tịnh nào không còn rơi vào thối đọa trong vực thẳm luân hồi”.

Hai kệ ngôn này dạxoa Hemavanta muốn đề cập đến lãnh vực bậc vô học (Asekkhabhūmi)

Đức Thế Tôn đáp rằng:

Sabbadā sīlasampanno; paññāvā susamāhito.

Luôn tròn đủ giới hạnh; có trí khéo tỉnh lặng.

Ajjhattacintī  satimā; oghaṃ tarati duttaraṃ.

Nội tâm luôn ghi nhận; thoát ra “nước mạnh” khó thoát.

Nghĩa là.

Này dạxoa Hemavata, chỉ có Giới – định -tuệ , tâm luôn ghi nhận với các pháp.

Này dạxoa Hemavata, đó là cách “duy nhất” để thoát ra “bốn dòng nước mạnh”. Này dạxoa Hemavata, bốn dòng “nước mạnh” này rất khó thoát ra, chỉ có thể thoát ra chúng theo cách thức được Đức Như Lai đã dạy ở trên.

– Vượt ra “dòng nước xoáy của tà kiến” nhờ vào Giới được tròn đủ. Chỉ cho bậc Thánh Dự Lưu và Thánh Nhất Lai.

– Vượt ra “dòng nước xoáy của dục lạc” nhở và0 Định. Chỉ cho bậc Thánh ANaHàm.

– Vượt ra “dòng nước xoáy của hữu và vô minh” nhờ vào tuệ tròn đủ. Chỉ cho bậc Thánh ALaHán.

Này dạxoa Hemavata, để thành tựu được Giới – Định – Tuệ được Đức Như Lai tuyên thuyết dẫn ra khỏi luân hồi, trước tiên phải thực hành pháp “ghi nhận” (niệm) . Với người nào thành tựu được Giới – Định – Tuệ người ấy sẽ thoát khỏi luân hồi.

Khi đề cập đến “ghi nhân” (sati – niệm), Đức Thế Tôn giải đáp câu hỏi về “lãnh vực hữu học”. Kế tiếp Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn:

Virato kāmasaññāya; sabbasaṃyojanātigo.

Không thích thú với dục tưởng; thoát ra mọi “trói buộc” (saṃyojanā).

Nandībhavaparikkhīno; so gambhīre na sīdati.

Diệt tận hân hoan với hữu; vị ấy không rơi vào sâu thẳm.

Nghĩa là.

Tiền kiếp dạxoa Hemavata là bậc đa văn trong thời Giáo pháp của Đức Phật Kassapa. Bấy giờ tâm của dạxoa Hemavata đang nhớ lại các dục tưởng mà vị ấy bị dính nắc trong đời trước, có ý định hỏi về những điều này cùng với những sợi dây “trói buộc”.

Đức Thế Tôn biết được tâm của dạxoa Hemavata, nên Ngài nói lên kệ ngôn trên dù rằng dạxoa Hemavata chưa hỏi đến.

Tất cả “những dây trói buộc ấy” do có nhân là “thích thú với các dục tưởng, hân hoan với những cảnh giới tái sinh nhiều an lạc thân tâm”.

Đức Thế Tôn chỉ ra nhân, giúp “trí nhớ”(sati) cho dạxoa Hemavata cùng chúng dạxoa, nhớ lại “cách đoạn trừ mọi kiết sử” đã được học tập trong thời Giáo pháp của Đức Chánh Giác Kassapa.

“Không thích thú với dục tưởng”. Là “không còn mơ ước đến năm dục tăng trưởng”. Đức Thế Tôn dạy:

– Này dạxoa Hemavata, người nào hoàn toàn “xa lìa các dục tưởng”, chính “dục tưởng là nhân  là sợi dây trói buộc chúng sinh trong luân hồi”.

“Thoát ra mọi trói buôc”. Là thoát ra “1o sợi dây cột chúng sinh trong luân hồi”.

Mười sợi dây có 5 sợi dây cột trói chúng sinh trong cõi Dục, được gọi là “năm sợ dây trói buộc vào cảnh giới thấp”, đó là: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, sân và dục lạc.

Năm sợi dây trói buộc vào cảnh giới cao (chỉ cho cõi Sắc và cõi Vô sắc), đó là: Sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, phóng dật và vô minh.

Cắt đứt được 10 dây “trói buộc” này là Bốn đạo trí.

Trí Sơ đạo cắt được ba dây trói buộc là: Thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.

– Trí Nhị đạo cắt được sân và tham dục phần thô.

– Trí Tam đạo cắt được sân và tham dục phần vi tế.

– Trí Tứ đạo cắt được năm sợi dây trói buộc còn lại.

* Diệt tận hân hoan với hữu. Là diện trừ ba loại ái là “ái dục, ái hữu và ái phi hữu”, hay diệt trừ ba loại ái “ái dục, ái sắc và ái vô sắc”.

*Vị ấy không còn rơi vào sâu thẳm. Vị đã diệt trừ ba loại ái, vị ấy an toàn, không còn rơi vào “vực thẳm” của luân hồi.

Nghe dứt kệ ngôn của Đức Thế Tôn, hai chúa dạxoa là Hetavana và Sātāgiri cùng một ngàn tùy chúng dạ xoa, tất cả đều chứng đạt Thánh quả Dự Lưu. Hân hoan với Thánh quả đã đạt được, dạ xoa Hemavata nói lên bốn kệ ngôn tán dương Đức Phật là:

a’- Gabbhīra paññaṃ nipunatthadassiṃ; akiñcanaṃ kāmabhave asattaṃ.

Bậc trí tuệ  thâm sâu, hiểu thông suốt nghĩa lý;  không sở hữu, không dính líu dục hữu.

Taṃ passattha sabbadhi vippamuttaṃ; dibbe pathe kamamāṇaṃ mahesiṃ.

Vị ấy vượt tất cả, giải thoát trọn vẹn; bậc đại trí thuyết tuần tự về đường sáng (dibbe pathe) quý báu”.

b’- Anomanāmaṃ nipuṇatthadasiṃ; paññādadaṃ kāmālaye asattaṃ.

Bậc gọi là cao thượng, hiểu thông suốt nghĩa lý; không dính líu dục ngủ ngầm nhờ có trí.

Taṃ passatha sabbaviduṃ sumedhaṃ; ariye pathe kamamānaṃ mahesiṃ

Vị ấy vượt lên tất cả bậc hiền trí;  thuyết tuần tự Thánh đạo.

c’-  Sudiṭṭhaṃ vata no ajja; suppabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ.

Hôm nay chúng con thấy tốt đep; buổi bình minh rực sáng.

Yaṃ addasāma sambuddhaṃ; oghatiṇṇamanāsavaṃ.

Chúng con được thấy bậc Chánh Giác; thoát khỏi “nước xoáy” cùng ô nhiễm”.

d’- Ime dasasatā yakkhā; iddhimanto yasassino

Nơi đây ngàn dạxoa; có thần lực với danh xưng.

Sabbe taṃ saraṇaṃ yanti; tvaṃ no satthā anuttaro.

Tất cả đến nương nhờ Ngài; Bậc Thiện thệ là đạo sư của chúng con.

Rồi dạxoa Hemavata nói lên kệ ngôn thứ năm rằng:

So ahaṃ vicarissāmi; gāmā gāmaṃ purā puraṃ.

Namassamāno sambuddhaṃ; dhammassa ca sudhammatan’ti.

“Chúng con sẽ bộ hành, làng này qua làng khác.

Thành này qua thành khác, đảnh lễ Đấng Chánh Giác.

Đảnh lễ thiện pháp tánh, của Chánh pháp vi diệu” (HT.TMC dịch) ([118]).

Rồi các dạxoa đảnh lễ Đức Thế Tiôn trở về trú xứ của mình.

Giải thích về Dạxoa (yakkha).

Yakkha có ngữ căn là yaj nghĩa là “tế lễ”. Có Pāli như sau:

– Yajanti tattha baliṃ upaharantī’ti yakkha:

“Nơi lễ bái, cúng dường bằng những lễ vật, là dạxoa([119]).

Hay: Pūjāniyabhārato yakkho ti vuccati:

“Cúng dường lễ vật trọng hậu, gọi là dạxoa([120]).

Như vậy, cho thấy “ban đầu” chỉ là “nơi tế lễ, cúng bái”. Chính nơi tế lễ cúng bái này có nhiều lễ vật (tức thực phẩm), một số chúng sinh đói khát mà mắt người không thấy trông thấy được đã đến dùng những loại thực phẩm đó, trong số những chúng sinh “vô hình” đến để ăn những thực phẩm, chúng sinh nào “mạnh và hung bao hơn” sẽ chiến ưu thế, đồng thời sẽ ngự trị nơi đó thường xuyên để “nhận lễ vật”. Và người ta gọi “chúng sinh ấy là Dạxoa” (yakkha).

Như vậy, từ ngữ yakkha (daxoa) xuất phát từ nguyên nhân này.

Ngoài những nơi tế lễ, chúng sinh dạxoa còn đến các tha ma mộ địa để ăn xác chết.

Tuy có bản chất “hung bạo”, nhưng các dạxoa cũng có “uy lực”, hộ trì cho “những người tế lễ”, nên chữ yakha (dạxoa) mang ý nghĩa là “quyền lực” hay “sức mạnh”, dạxoa có thể hộ trì con người đồng thời cũng có khả năng sát hại con người.

Trong kinh sách cổ  từ yakkha (dạxoa) hay Nāga (rồng, voi) chỉ cho “những chúng sinh cao cấp” có sức mạnh, có uy lực. Như Vua Trời ĐếThích([121]), Thiên tử Kakudha ([122]) … cũng được gọi là “dạxoa”; Đức Phật  cũng được gọi là “Bậc Long tượng” ([123]).

Như vậy chữ yakkha (dạxoa) ngoài ý nghĩa “hung ác”, còn có nghĩa ;à “uy lực, quyền lực”. Như một số Cànthátbà (gandhabba) cũng được gọi là dạxoa (xem kinh Ātānātiya trong Trường bộ kinh).

Sự sùng bái dạxoa, thoạt tiên là do các “người thợ rừng”, những người này thường “cúng tế thần Rừng”, đồng thời đó cũng là hình thức cổ sơ nhất, về sau  “sự cúng tế” này lan đến “những người đi biển” cúng tế long vương, nữ thần đại dương, hay những loại vemānikapeta ([124]) trên những hoang đảo.

Theo Sớ giải kinh Bổn sanh, một thiên nữ là Maṇimekhalā được Tứ Đại vương giao cho cai trị “vùng biển”, để hộ trì những người hiền thiện đi biển được an toàn, hoặc khi bị đắm tàu, vị thiên nữ này sẽ đưa những người hiển thiện tấp vào những hoang đảo ([125]).

Dạxoa là một hạng phi nhân (amanussā) thường được liệt kê chung với chư thiên (deva), Lasát (rakkhasa), Hương thần (gandhabba), chim thần nhân điểu (kinnara), rồng hóa sinh (opapātikanāgarāja).

* Chư thiên (deva). Chỉ cho hạng chư thiên hóa sinh (xem tập 1).

* Lasát (rakkhita). Là tùy chúng của  Tăng trưởng Thiên vương (Virūḷhaka (vị này trú ở hướng Nam núi Tudi). Còn được gọi là Kumbhaṇḍa (Thế Quỷ), đó là hạng chư thiên “bụng to, mắt đỏ, ngọc hành lớn như cái nồi”.

Lasát có hai chỗ trú: Trú ở cõi người và trú nơi địa ngục.

Trú ở cõi người. Có nhiệm vụ bảo vệ “rừng, núi, hồ, sông, đền tháp, cây thuốc quý, ngọc báu…” và có quyền bắt ai xâm nhập vào lãnh địa được giao cho gìn giữ để ăn thịt.

Trú ở cõi địa ngục. Chính là các “quỷ sứ cai ngục” (nirayapāla) hành hạ tội nhân, hoặc hóa ra “ác quỷ quạ, ác quỷ chó, ác quỷ kên kên …”, có nhiệm vụ hành hạ chúng sinh trong địa ngục và ăn thịt tội nhân.

* Nhân điểu (kinnara).

Có câu giải tự là: Kucchito nara = kinnaro nara sadisatta.

“Chúng sanh đáng ghét nhưng giống người, gọi là kinnara”.

Nhân điểu giống như người, chỉ khác vài điểm là: Hai cánh tay giống người, nhưng hai bàn tay giống cánh chim; móng chân giống như móng chim, môi rộng đến tận cổ, miệng dài như miệng con ngựa.

Nhân điểu ở đây chỉ cho Devakinnarā (chim thần nhân điểu), thông thường nhân điểu rất sợ nước, trong bổn sanh Ballātiya  có ghi nhận: “Nhân điểu có tuổi thọ là 1.000 năm” (sđd – Về nhân điểu.).

*Rồng (nāga). Ở dưới sự cai quản của Quảng Mục Thiên vương (Viruupakkha, vị này ở phía Tây núi TuDi).

Có tất cả 1.024 loài rắn (hay rồng) là:

Bốn loại rắn chúa (nāgarāja) ([126]):

Kaṭṭahamukha: Là loại  rắn có nọc độc mạnh, khi cắn trúng người nào, toàn thân người ấy sẽ cứng đơ. Các bộ phận như tay, chân … muốn co vào hay duỗi ra đều không được, rất nhức nhối.

Pūtimukha. Là loại rắn có nọc độc, khi cắn vào thì chỗ vết thương sẽ thối và chảy nước vàng.

Aggimukha. Là loại rắn có nọc độc, người bị loại rắn này cắn trúng thì vết thương giống như “bị lửa cháy nám”, toàn thân nóng sốt.

Satthamukha. Là loại rắn có nọc độc như điện, khi bị cắn trúng giống như bị sét đánh trúng.

Mỗi loại có 4 cách “chạy nọc độc”.

– Có loại khi cắn trúng nọc độc mới tiết ra.

– Có loại có nọc độc toàn thân, khi cọ chạm nọc độc tiết ra.

– Có loại phun nọc bằng mắt.

– Có loại phun nọc độc theo hơi thở rồi lan rộng ra.

Như vậy có 16 loại ( 4×4).

Trong 16 loại ấy có bốn cách “nọc chạy”.

– Chạy nọc nhanh nhưng không ác liệt.

– Chạy nọc chậm và ác liệt.

– Chạy nọc nhanh nhưng không ác liệt.

– Chạy nọc nhanh và ác liệt.

Như vậy có 64 loại (16×4).

Mỗi loại lại có 4 cách sinh ra là: Sinh ra từ trứng, sinh ra trong thai bào, sinh ra nơi ẩm thấp và hóa sinh. Như vậy có 256 loại (64 x4).

Trong 256 loại lại chia làm hai là:

-Loại sinh trong nước và loại sinh trên đất. Thành ra 512 loại.

Lại chia làm hai loại:

– Thọ hưởng ngũ dục và không thọ hưởng ngũ dục, thành ra 1024 loại.

“Rắn chúa”  được đề cập trong phần này là loại “ rắn hóa sinh”.

Những “rắn chúa” có thần lực, có thể hóa thân thành người hay hóa thân thành loại khác như chim … Tuy vậy, vẫn có năm trường hợp không thể thoát khỏi trạng thái (lakkhaṇa) “rắn”, đó là:

1’- Khi tục sinh phải hiển lộ là “loài rắn”.

2’- Khi lột da phải hiện rõ là “thân rắn”.

3’- Khi giao phối phải hiện thân rắn.

4’- Khi ngủ nếu thất niệm thì hiện thân rắn.

5’- Khi chết thì trở lại thân rắn ([127]).

Giải về Hương thần (gandhabba).

* Hương thần (gandhabba). Là hạng chư thiên tùy tùng của Trì Quốc thiên vương (Dhatarattha, vị Thiên vương này trú ở Hướng Đông núi TuDi). Hương thần là hạng chư thiên được sinh ra và ngụ nơi cây có mùi thơm, cũng được gọi là “thiên thần nhạc sĩ”.

Có 10 loại Hương thần sinh ra từ cây có mùi hương là:

1’- Hương thần sinh ra từ rễ cây có mùi hương (mūlagandhabba).

2’- Hương thần sinh ra từ gốc cây có mùi hương (kandagandhabba).

3’- Hương thần sinh ra từ lõi cây có mùi hương (sāragandhabba).

4’- Hương thần sinh ra giác cây có mùi hương (pheggugandhabba).

5’- Hương thần sinh ra từ vỏ trong có mùi hương (tacagandhabba).

6’- Hương thần sinh ra từ vỏ ngoài có mùi hương (papatikagandhabba).

7’- Hương thần sinh ra nước thơm (saragandhabba).

8’- Hương thần sinh ra từ lá thơm (dannagandhabba).

9’- Hương thần sinh ra từ hoa thơm (pupphagandhabba).

10’- Hương thần sinh ra trái có mùi thơm (phalagandhabba) ([128]).

Trong bản Sớ giải “Người và cõi”, có nêu thêm là:

Hương thần trú ngụ nơi cây khác với thọ thần (rukkhadeva) như sau:

Tuy thọ thần nương ngụ nơi cây, nhưng nếu cây ấy bị đốn hay bị gió lớn thổi ngã thì vị “thần cây “ ấy lìa bỏ cây ấy, đi đến cây khác để trú ngụ. Còn Hương thần thì không từ bỏ, sẽ quấy nhiễu người dùng cây đó.

Hương thần ngụ trong cây, là loại Hương thần sinh ra tại nơi cây đó và trú ngụ ở đấy, như có Pāli giải thích:

Patisandhi vasena gandharukkhesu appenti upagacchantīti gandhabbā

“Gọi là Hương thần (gandhabba) do sinh ra từ cây có mùi thơm và ngụ tại cây ấy” (sđd).

Hương thần không lìa bỏ chỗ ngụ, thậm chí cây ấy đã hư mục hay bị người đốn mang về làm nhà, làm thuyền …

Vì thế, nhà nào hay tàu thuyền có cây gỗ mà Hương thần trú ngụ, Hương thần này sẽ quấy nhiễu, hoặc mang đến tai họa cho nhà, thuyền ấy, gây ra tật bịnh, tổn hại tài sản, hoặc hiện hình “ma quái” để hù dọa …

Cũng có loại Hương thần trú trong thân người nữ, dân gian gọi là “ma nhập” hay “đồng cốt”.

Đây là hạng Hương thần tạo nghiệp bất thiện trong quá khứ nên trú trong thân nữ nhân.

Hạng Hương thần trú trong thân nữ nhân có hai loại:

– Người bị Hương thần nhập vào trong lúc còn trong thai bào.

Nữ nhân này khi lớn khôn, có thể sai khiến Hương thần đang trú trong thân, đi hại người kẻ thù của minh khi có cơ hội thuận tiện.

Trong kinh PhệĐà (Veda) của Bàlamôn giáo gọi là Yoginī.

– Người nữ bị Hương thần nhập vào thân sau khi ra khỏi thai bào. Nếu bị Hương thẫn nhập vào đêm trăng tròn, nửa đêm nữ nhân ấy đi tìm vật thực, thân nữ nhân này tỏa sáng do thần lực của Hương thần.

Hạng này được gọi là Junhā, nghĩa là “có ánh sáng”.

Còn như bị Hương thần nhập vào thời điểm khác thì thân không tỏa ra ánh sáng khi đi tìm vật thực vào ban đêm,. Hạng này gọi là bị “ma nhập”.

Cả ba từ Yoginī, Junhā và “ma nhập” đều đồng nghĩa” (sđd).

Lại nữa, những nữ nhân nào thường thoa xức hương thơm “nồng nặc”, sẽ hấp dẫn hương thần tương ứng (những hương thần thích những hương thơm khác nhau), khi có cơ hội thích hợp, hương thần sẽ “đi vào” thân nữ nhân ấy để hưởng thụ hương thơm và xem như “bị ma nhập” (lên đồng).

Khi bị “hương thần nhập”, dùng “lá cây có mùi hôi” nấu nước để tắm, hương thần trong thân sẽ đi ra khỏi thân nữ nhân ấy.

Vì sao sinh làm hương thần?

Đáp. Trong Tương ưng bộ kinh (Saṃyuttanikāya), phẩm Tương ưng Gandhabba (Gandhabbasam.yutta), Đức Phật có dạy: “Một số chúng sinh sau khi tạo thiện nghiệp về thân, thiện nghiệp về ngữ, thiện nghiệp về ý. Chúng sinh ấy ao ước được tái sinh làm Hương thần, do ý muốn ấy chúng sinh ấy được như ý”.

Nếu muốn tái sinh từ  “hương lõi cây” thì sẽ “sinh ra từ  “lõi cây có mùi hương”, nếu muốn tái sinh từ “hương rễ cây” thỉ sinh ra từ “rễ cây có mùi hương” v..v..

Hoặc bố thí “hương rễ cây” rồi ước muốn được sinh làm “Hương thần”, sẽ sinh ra từ “hương rễ cây”, nếu bố thí “lá cây có mùi hương”, ước nguyện sinh làm “hương thần” sẽ sinh ra từ “lá cây có mùi hương” v..v…

Ngoài ra, tuy chúng sinh tạo thiện nghiệp nhưng hành trì giới bậc thấp, khi mệnh chung tái sinh làm Hương thần. Vị Tỳkhưu nào phải tái sinh làm Hương thần, được xem như là một bất hạnh.

Trong kinh Sakkapañhā (ĐếThích hỏi đạo) trong trong Trường bộ kinh có ghi nhận: “Có ba vị Tỳkhưu tu tập trong giáo pháp của Đức Phật Kassapa, ba vị được một bà cư sĩ trong thành Kapilavatthu tên là Gopakā hộ độ. Mệnh chung, bà nữ cư sĩ tái sinh làm một thiên tử trong cõi ĐạoLợi, là con của vua Trời ĐếThích, ba vị Tỳkhưu tái sinh làm ba Hương thần, phải phục vụ âm nhạc để giúp vui cho vị Thiên tử.

Nhớ lại được tiền kiếp, vị thiên tử Gopakā đã khiển trách ba vị “thiên thần nhạc sĩ”, một vị xúc động tâm nổ lực hành pháp chứng đắc Sơ thiên, tái sinh về cõi Phạm thiên”.

Hương thần là hạng chư thiên thấp nhất trong nhóm chư thiên ở Cõi Tứ Đại vương ([129]), được xếp chung với Atula (Asura) và rồng (nāga). Như chúa Atula Pahārāda bạch với Đức thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, biển lớn là nơi trú của các loại chúng sinh lớn như cá Timi, Timingalā, Timiramingalā, những loại Atula, rồng, các loại hương thần (gandhabba) ([130]).

Bản Sớ giải giải thích: Đây là ba loại kình ngư chúa trong đại dương sâu thẳm và rộng mênh mông. Ngư vương lớn nhất là Timiramingalā, cá chúa này có thể nuốt hai loại cá kia, cá Timi là nhỏ nhất trong ba loại đại kình ngư chúa, cá Timigalā có thể nuốt cá Timi.

“Hương thần ở biển”, có thể hiểu “đây là những nhạc sĩ Atula, có nhiệm vụ phục vụ cho những Atula Thiên”, vì cõi Atula thiên cũng xinh đẹp không khác gì cõi ĐạoLợi.

Các Hương thần cao cấp là: Panāda, Opamañña, Mātali (thiên thần Xaphu của vua Trời ĐếThích), Nala và Janasabha ([131]).

Hương thần đôi khi được mô tả “có thần thông đi giữa hư không như loài chim” (vihaṅgamā). Đức Phật dạy Bàlamôn Dona rằng ([132]):

“Với lậu chưa đoạn tận; Ta có thể là tiên.

Có thể là Cànthátbà; như chim giữa hư không.

Hương thần đi trong không trung là chỉ cho “Hương thần chư thiên” (Gandhabbadeva).

Có một quan niệm sai lầm về Gandhabba (Hương thần) là: Gandhabba  được xem là “người chịu trách nhiệm về việc thụ thai”, nghĩa là:  “Hương thần được xem là vị thần có thể ban cho người hiếm muộn con, có được đứa con, nếu người này thành tâm cầu xin”.

Hỏi: Vì sao có sự hiểu lầm này?

Đáp rằng. Do hai lý do:

1’- Vì rằng: “Chữ Ghandhabbā đã bị đọc thành gandhabbā”.

Chữ Ghandhabba, bản Sớ giải ([133]) có giải thích:

“Tatrūpakasatta – tasmiṃ okāse nibbatanako satto”

Nghĩa là: “Một chúng sinh thích hợp và sẵn sàng nhập thai bào với cha mẹ có liên hệ với chúng sinh ấy”.

Nhưng trong Ṭīkā lại cho rằng “chữ ghandhabbā là cách viết khác của từ gandhabbā”.

2’- Do hiểu lầm danh từ Gandhabarāja (chúa Hương thần).

Thật ra đây là một danh hiệu khác của vua Trời ĐếThích. Với những người có đức độ, hiếm muộn con, khi thỉnh cầu vua Trời ban cho “một người con”.

Vua Trời ĐếThích tìm xem vị Thiên tử nào sắp mệnh chung, lại có nghiệp tương thích với  cha mẹ vị ấy, sẽ cung thỉnh vị thiên tử sắp mệnh chung “giáng sinh vào thai bào của nữ nhân đức độ ấy”.

Như vua Trời Đế Thích thỉnh Bồtát sinh vào thai bào của Hoàng hậu Phusatī, Bồtát sinh ra có tên gọi là Vessantara ([134]); yêu cầu đạo sĩ Dukūlaka rờ vào rún của nữ đạo sĩ Pārikā khi bà vừa mãn kinh nguyệt, để Bồtát có cơ hội  sinh vào lòng của nữ đạo sĩ Parikā ([135]), Bồtát sinh ra có tên gọi là Sama; vua Trời Đế Thích thỉnh Đấng Đại sĩ Santusita giáng sinh vào lòng của Hoàng hậu Māyā ….

Từ những sự kiện này, người ta cho rằng: “ChúaHương thần” là vị thần có thể “mang lại cho họ những hài tử tốt đẹp theo sự cầu xin”.

Hỏi: Vì sao vua Trời Đế Thích biết được vị thiên tử sắp mệnh chung, để cung thỉnh vị ấy “nhập thai bào”?.

Đáp. Những vị chư thiên có đại uy lực, trước khi sắp mệnh chung, xuất hiện năm tiền tướng (pubba nimitta) là:

1’- Thiên hoa héo úa. Khi vị Thiên tử có đại uy lực sinh ra, một vòng thiên hoa sinh theo trên thân vị ấy. Vòng thiên hoa này là vật trang điểm cho vị thiên nhân, chúng không bao giờ héo úa trong gần suốt tuổi thọ của vị ấy, khi vòng thiên hoa này héo úa là điềm báo “thiên tử ấy sắp mệnh chung”.

2’- Thiên y cùng thiên trang sức bị mờ nhạt.

Thiên y cùng thiên trang sức này đồng hiện khởi với vị thiên tử ấy. Trong gần suốt tuổi thọ, thiên y lẫn thiên trang sức luôn luôn sáng rực hào quang, khi sắp mệnh chung thiên y cùng thiên trang sức ấy trở nên mờ nhạt. Đây là điềm báo thứ hai cho vị thiên tử ấy biết “sắp mệnh chng”.

3’- Mồ hôi từ hai nách chảy ra. Thân chư thiên không hề có chất bợn nhơ tiết ra trong cuộc sống ở thiên giới. Mồ hôi từ hai nách chảy ra, báo hiệu rằng: “Còn 7 hôm nữasẽ mệnh chung”.

4’- Thiên quang mờ nhạt. Hào quang từ thân vị Thiên tử luôn tỏa sáng, sức mạnh của thiên quang do nương vào uy lực của vị ấy.

Hào quang từ thân của vị thiên nhân nào át hào quang tỏa ra từ thân của vị thiên nhân khác, vị thiên nhân có hào quang kém phải lui bước nhường cho vị có uy lực hơn mình ngồi hoặc đứng trước.

Khi hào quang từ thân trở nên mờ nhạt, là điềm báo “thiên tử ấy sắp mệnh chung”.

5’- Tâm trở nên phiền muộn. Tâm những vị chư thiên đại uy lực luôn vui thích hân hoan, không hề cảm thấy buồn chán cảnh sống ở cõi chư thiên. Nhưng khi tâm trạng trở nên chán nản, phiền muộn, đó là điềm báo vị thiên nhân ấy sắp mệnh chung.

Khi vị thiên tử thấy được năm hiện tượng “báo tử”, vị ấy đi vào khu rừng khả ái Nandavana để thưởng ngoạn, quên đi cái chết “gần kề”, vì sao? Vì lo ngại “mệnh chung trong lúc tâm phiền muộn sẽ dẫn xuống khổ cảnh”, bấy giờ các thiên nhân tùy tùng sẽ nhắc nhở vị ấy các phước thiện mà vị ấy đã tạo, để tâm vị ấy hướng về “việc lành”, khi mệnh chung có khả năng sinh lại cõi ấy hay sinh về cõi người.

Năm điềm “báo tử” này không phải vị thiên nhân nào cũng có. Năm điềm “báo tử” này chỉ có cho những thiên nhân có đại uy lực.

Tương tự như trong nhân loại, bậc Đại phước sinh ra sẽ xuất hiện điều kỳ diệu như Bồtát sinh ra, quả địa cầu rúng động; Jotika (vị giàu nhất trong  xứ Ấn Độ thời Đức Phật) sinh ra, tất cả kho vàng ngọc trong kinh thành Vương Xá đều rực sáng; khi Ngài Vô hại (Ahiṃsa) sinh ra, kho vũ khí rực sáng; khi trưởng giả Citta sinh ra, một trận mưa hoa rơi xuống ngập đến tận đầu gối …

Người thường thì không có những điều kỳ diệu này.

Cũng vậy, chỉ có những thiên nhân có đại uy lực mới có “năm điềm báo tử” mà thôi.

Như trường hợp một thiên nữ đang leo lên cây hái những cánh hoa để làm vòng hoa trang sức cho vị thiên tử là chồng của nàng, bất ngờ nàng mệnh chung tái sinh về nhân loại ([136]).

Do thấy được năm điềm “báo tử” của vị thiên tử, nên vua Trời ĐếThích thỉnh vị thiên tử ấy nhập vào thai bào của nữ nhân có đại phước.

Một “nhạc sĩ thiên thần” nổi tiếng được đề cập trong kinh điển Pāli, đó là Pañcasikha. Nhờ nhạc sĩ Pañcasikha khảy đàn Beluvapaṇḍuvīnā hát lên khúc hát “tình ca” tán thán ân đức Tam Bảo dẫn lối, nên vua trời ĐếThích có cơ hội hỏi đạo Đức Thế Tôn, nghe xong thời pháp thoại vua trời ĐếThích chứng quả Dự Lưu, đồng thời cũng vừa mệnh chung.

Vừa mệnh chung, lập tức vua Trời tái sinh lại làm vua Trời ĐếThích như trước, sự kiện này chỉ có Đức ThếTôn cùng vua Trời ĐếThích biết ([137]).

Thiên thần nhạc sĩ Pañcasikha.

Vị thiên thần nhạc sĩ này được Đức Phật thương mến, nên khi đến hang Indasāla để yết kiến Đức Phật, vua Trời Đế Thích cử nhạc sĩ Pañcasikha đi xin phép trước (sđd).

Thiên thần nhạc sĩ Pāñcasikha với cây đàn Tỳ bà (vīnā) Beluva màu vàng xinh đẹp, khảy và hát lên khúc tình ca liên hệ đến ân Đức Tam Bảo để cúng dường đến Đức Phật được Đức Phật khen ngợi, tạo điều kiện thuận lợi cho vua Trời ĐếThích đến hỏi đạo.

Cây đàn 7 dây Beluva là cây đàn của Ma vương, sau 7 năm theo sát Bồtát SĩĐạtTa để tìm lỗi, nhưng không thấy một lầm lỗi nào của Bồtát. Vào trận chiến tranh đoạt bảo tọa chiến thắng, tất cả quân tướng của Ma vương đã bị năng lực pháp Balamật của Đức Bồtát nhiếp phục, Ma vương phải bỏ voi Grimekhala chạy trốn.

Khi đến điểm an toàn, Ma vương buồn nản đến thẩn thờ, buông rơi “cây đàn Beluva trong nách” rơi xuống, chẳng buồn nhặt lên.

Vua trời Đế Thích nhặt được chiếc đàn Beluva này, tặng cho thiên thần nhạc sĩ Pañcsikha.

Đàn Beluva dài  ba gāvuta, nặng tương đương với sức mạnh 50 con ngựa kéo xe,  tiếng đàn ngân dài trong bốn tháng. Trong bộ Sumaṅgalavilāsinī có mô tả chi tiết về cây đàn BeluvaPaṇḍuvīnā ([138]).

Bản tình ca này là “tâm tình của Pañcasikha gởi cho nàng thiên nữ kiều diễm Bhaddā Suriyavaccasā con gái của thiên thần nhạc trưởng Timbaru”.

Bản tình ca này được Pañcasikha sáng tác khi Đức Thế Tôn tọa thiền nơi cội cây Ajapāla Nigrodha vào tuần lễ thứ năm, sau khi Ngài thành tựu Vô thượng Chánh giác.

Bấy giờ trong một lễ hội chư thiên, chúa Hương thần Timbaru cùng con gái là thiên nữ Bhaddā Suriyavaccasā đến phục vụ cho thiên vương Đế Thích, và tình yêu nảy sinh trong tâm của Pañcasikha khi nhìn thấy thiên nữ Bhaddā. Nhưng nàng thiên nữ kiều diễm ấy lại yêu thiên tử Sikkhaddhi con của thiên thần Xa phu Mātali.

“Nhạc sĩ thiên thần Pañcasikha” đã mang đàn Beluva đến lầu ngọc của thiên nữ Bhaddā Suriyavaccasā, vừa khảy đàn vừa hát lên bản tình ca này.

Nghe được bản tình ca này, nàng thiên nữ Suriyavaccasā tỏ ra hân hoan, vì nàng được nghe chư thiên tán thán Đức Phật khi Ngài ngự lên cung trời ĐạoLợi ở giảng đường Sudhammā, thuyết lên Tạng Thắng pháp.

Tình yêu nàng thiên nữ kiều diễm Bhaddā Suriyavaccasā bất ngờ chuyển hướng, từ thiên tử Sikkhaḍḍhi chuyển sang cho thiên thần nhạc sĩ Pañcasikha.

Được biết vua Trời ĐếThích cũng tán thành cuộc hôn nhân này, xem như thưởng công cho Pañcasikha “nối nhịp cầu” để vua Trời ĐếThích được hỏi đạo Đức Phật.

Không có tư liệu nào giải thích thỏa đáng về tên gọi Pañcasikha. Ngài Buddhaghosa (Giác Âm) giải thích ([139]):

Pañcasikhoti pañcacūḷo, pañcakuṇḍaliko:

Pañcasikha là “năm búi nhỏ”, “năm tóc xoắn lại”.

Ngài Buddhaghosa giải thích tiếp là:

Tiền kiếp của Pañcasikha là một cậu bé trưởng nhóm mục đồng. Cậu bé này để “tóc năm chòm” , thường kêu gọi và cùng các thành viên trong nhóm làm các việc công ích như “sửa đường”, đào giếng, làm nhà vệ sinh … nhưng cậu chết trẻ, sinh về cõi Tứ Đại vương, là một Hương thần có tên là Pañcasikha, có tuổi thọ là  chín triệu năm nhân lọai, thân cao 3 gāvuta (# 12km), trên người đầy những trang sức phải đến 100 cổ xe chở mới hết, thường thoa xức lên người, mỗi lần là 9 châu hương thơm.

Pañcasikha vận y phục đỏ, quanh trán là chiếc vòng vàng, để tóc “năm chòm” như trẻ con.

Phong tục “trẻ con để tóc năm chòm” vẫn còn thấy ở Tích Lan; nhưng trong bản Sớ giải kinh Trường Bộ, Ngài Buddhaghosa cho rằng: “Đó là cách hạ nhục một người  nam, là cạo đầu và chừa năm chòm (garahāyā ti pañcasikhā muṇḍakaraṇaṃ)  ([140]).

Pañcasikha được xem như “đệ nhất tài hoa, hát hay đàn giỏi trong nhóm thiên thần nhạc sĩ”, rất được các chư thiên ái mộ, nên Phạm thiên Sunaṅkumāra khi đến cõi ĐạoLợi đã hóa thân thành Pañcasikha ([141]) và vua trời ĐếThích tuyển chọn Pañcasikha là “nhạc sĩ riêng của mình”.

Ngài Buddhaghosa giải thích: “Sở dĩ vị Phạm thiên có tên là Sunaṅkumāra (Đồng tử Sunaṅ) vì vị này chứng đạt thiền định khi “tóc còn để năm chòm” (pañcasikhakumārakāle) ([142]).

Pañcasikha là vị thiên thần nhận báo cáo từ Tứ Đại vương cùng các Hoàng tử, Đại thần của Tứ Đại vương sau “những lần tuần du bốn châu trong thiên hạ” trước tiên, rồi chuyển giao qua cho thiên tử Xa phu Mātali, thiên tử Mātali trình lên vua trời ĐếThích ([143]).

Pañcasikha ngoài là tên gọi, còn là một chức vụ. Trong Biḷārakosiya jātaka, tiền thân Đức Ānanda là “Pañcasikha”, giúp Thiên vương ĐếThích cải hóa trưởng giả Biḷārakosiya keo kiệt, trở thành một trưởng giả hào phóng. Tương tự, trong Suddhojana jātaka, tiền kiếp của Đức Anuruddha cũng là “Pañcasikha”.

Rõ ràng “Pañcasikha” là một chức vụ, có thể hiểu là “nhóm trưởng nhạc sĩ ở thiên đình”.

Khi Đức Phật từ cung trời ĐạoLợi ngự về nhân giới sau khi Ngài thuyết xong Tạng Thắng Pháp, Pañcsikha khảy đàn hát lên những bài ca tán thán ân đức Phật để dẫn đường.

Ngoài ra, Pañcasikha còn theo hầu Phật nhiều lần.

Trong kinh Mahāgovinda (thuộc Trường bộ kinh), khi Thiên chủ Đế Thích tán thán Đức Phật rồi, Pañcasikha bạch với Đức Phật “đầy đủ những việc xảy ra trong Đại hội chư thiên”.

Thiên thần Xa phu Mātali.

Trong kinh Đại hội (Mahāsamayāsuttaṃ) trong Trường bộ kinh, thiên tử Mātali được xem như “chúa Hương thần”.

Trong kinh Ātānātiya, thiên tử Mātali được xem như “tướng quân dạxoa”.

Trong kinh điển Pāli, thiên tử Mātali xem như “người đánh xe” cho vua Trời ĐếThích, thực tế là “một người bạn chí thân” của vua Trời Đế Thích hơn là “thân phận tôi tớ”.

Thiên tử Mātali luôn theo sát thiên chủ Đế Thích trong những trận chiến với Atula, là người điều khiển thiên xa Vejayantarattha được kéo bởi ngàn con ngựa Sindhu.

Khi Thiên chủ ĐếThích xuống tận kinh thành của Atula vương Vepacitti, cưới con gái của Atula vương Vepacitti là nàng Sujātā, rồi trốn chạy khỏi kinh thành Atula. Thiên tử Mātali mang cổ thiên xa Vejayanta có ngàn ngựa Sindhu kéo, đến đón vua Trời ĐếThích cùng cô dâu Sujātā trên bờ biển. Cổ thiên xa lao đi vùn vụt, phía sau là quân tướng Atula đang truy đuổi, khi xe chạy ngang qua rừng Simbali, các con chim con Kimxíđiểu (Garuḍa) kinh hoàng, kêu vang inh ỏi. Vua Trời Đế Thích xúc động từ tâm, bảo thiên tử Mātali  quay xe lại, chúng Atula ngỡ có “binh trời” đến tiếp cứu, kinh hải kéo lui trở về thành Atula ([144]).

Mātali là một chức vụ hơn là “tên gọi”, vì tiền thân Đức Ānanda có nhiều kiếp là thiên tử Mātali ([145]), tiền thân của Đức Mahā Kassapa cũng có lần là thiên tử Mātali ([146]).

Trong Culladhanuggahajātaka, thiên tử Mātali cùng với thiên vương ĐếThích xuống cõi nhân loại, Mātali hóa ra con cá.

Trong Mahākaṇhajātaka, Mātali hóa thân làm con chó đen.

Mātali hóa thâsn thành Bàlamôn trong bổn sanh Biḷārakosiyajātaka và Suddhābhojanajātaka, đồng thời được xem là con của thiên tử Suriya.

Ngoài ra, Thiên vương ĐếThích còn bảo thiên tử Mātali mang thiên xa xuống nhân loại rước các bật hiền trí như nhạc sĩ Guttila, vua Nemi, Makkhadeva và Sādhīna lên thiên giới.

Trên đường đi thiên tử Mātali thường giải thích những quang cảnh, mang lại lợi ích đến những vị ấy.

Khi Đức Phật từ cung trời ĐạoLợi ngự về nhân giới sau khi Ngài thuyết giảng xong bộ Thắng pháp. Thiên tử  Mātali đi phía tay trái của Đức Phật, cúng dường hương trời cùng hoa trời đến Đức Phật ([147]).

                   Giải về Dạxoa (yakkha).

Trở lại “vấn đề dạxoa”, trong vài bảng danh sách khác, thường dạxoa được xếp sau “Hương thần” (gandhabba), nhưng đứng trước “người” (manussa). Như Đức Phật dạy Bàlamôn Dona:

– Này Bàlamôn, đối với những người chưa đoạn tận mọi ô nhiễm, Ta có thể là Cànthátbà, Ta có thể là Dạxoa, Ta có thể là người …([148]).

Trong nhiều bản danh sách thì Dạxoa được xếp trên “ma đói” (peta)([149]).

Dạxoa có hai loại là: Dạxoa chư thiên và dạxoa bàng sanh.

Dạxoa chư thiên. Là hạng dạxoa có thân hình xinh đẹp và có hào quang. Dạxoa chư thiên khi có tâm bức hại chúng sinh, liền hóa thành quỷ sứ xuống địa ngục để  hành hạ tội nhân, hoặc hóa ra kên kện, quạ, chó … để ăn thịt chúng sinh trong địa ngục.

Dạxoa bàng sanh. Là hạng dạ xoa có thân hình xấu xí, không có hào quang (sđd – nói về dạxoa).

Dạxoa ở đây chỉ cho “tùy chúng của Đa Văn thiên vương (Vessavana).

Nói chung “dạxoa” là những “chúng sinh có uy lực”, có khả năng “hộ trì hay sát hại nhân loại”, có lúc được gọi là “deva” (chư thiên) ([150]), hoặc devaputta (Thiên tử) ([151]).

Một số dạxoa có khả năng trí tuệ cao, như dạxoa Indaka sống ở trên núi Indakūṭa gần thành Vương xá.

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ ở núi Indakūṭa. dạxoa Indaka  đến bạch hỏi Phật rằng:

“Chư Phật Ngài dạy rằng; sắc không phải sự sống (jīvaṃ).

Vỉ sao sinh mạng (nvayaṃ) này;  lại có trong thân này?

 Từ đâu xương thịt đến?;  trong thân thể hiện tại.

Làm sao sinh mạng này; gá dính trong thai tạng” (HT TMC dịch).

Đức Phật giải thích cho dạxoa Indaka biết “sự hình thành của thai bào theo tuần tự là:

– Bảy ngày đầu hình như dầu mè trong vắt và rất vi tế, gọi là kalala.

– Bảy ngày kế tiếp giống như nước máu dợt dợt, là sự hòa hợp giữa tinh cha và huyết mẹ, gọi là abbuda.

– Bảy ngày kế tiếp trở thành chất thịt mềm mại, gọi là pesi.

– Bảy ngày tiếp trở thành cục thịt bằng nắm tay, gọi là ghana.

– Bảy ngày kế, cục thịt phân thành năm nhánh, gọi là pañcasākhā.

Tiếp theo là “tóc, lông và móng sinh khởi”, rồi thai bào nhận dưỡng tố từ vật thực do người mẹ ăn vào, dần dần phát triển thành thai nhi ([152]).

Có câu hỏi rằng: Có phải khi chứng quả Vô Thượng Chánh Giác, Đức Thế Tôn mới biết rõ điều này chăng?

Đáp rằng. Không phải, chính khi còn là Bồtát kiếp chót nằm trong thai bào, Ngài đã biết rõ như thế. Vì sao?

Vì rằng Bồtát kiếp chót, khi nhập thai bào Ngài biết rõ, khi trú trong thai bào Ngài biết rõ và khi xuất khỏi thai bào Ngài biết rõ.

Không phải chỉ có Bồtát Chánh Giác kiếp chót biết rõ như thế, ngay cả Bồtát Độc Giác kiếp chót và Bồtát Thượng thủ Thinh văn kiếp chót cũng biết rõ như thế.

Một dạxoa khác là Suciloma hỏi đạo Đức Thế Tôn ([153]).

Tất cả dạxoa đều có thần lực, đi từ nơi này sang nơi khác, hóa thân thành nhiều dạng sai khác.

Trú xứ của dạxoa là lâu đài kiên cố ([154]) do họ tự tạo, những lâu đài này nằm trên mặt đất cũng có (bhumattha), trôi nổi giữa hư không (ākasattha) trong cõi Tứ đại vương cũng có, trên cây cũng có …

Có khi nơi trú của dạxoa là cả một thành phố như thành phố Āḷakamandā của Đa Văn thiên vương (Vessavana) trong xứ BắcCưuLưchâu hay thành phố Sirisavatthu, Laṅkāpura ([155])

Ban đầu dạxoa được quan niệm như một vị Thần trú ngụ nơi rừng thiêng, nơi hoang dã.

Nhưng nhiều tư iệu sau này cho thấy “dạxoa được xem như loài quỷ dữ, có mắt đỏ ngầu, chuyên bắt trẻ con để ăn thịt, nữ dạxoa là đáng sợ nhất”.

Ngoài ra dạxoa còn có quyền bắt và ăn thịt những ai xâm phạm vào lãnh thổ của chúng ([156]), hoặc sát hại kẻ thù hoặc ăn thịt cả người lớn lẫn thây ma trong mộ địa. Như câu chuyện của Trưởng lão Bhūta.

Trưởng lão Bhūta ([157]).

Trong thời Đức Phật, Ngài sinh ra tại ngoại thành của thành phố Sāketa, là con út của một đại trưởng giả đồng thời cũng là người con độc nhất còn sống sót. Đại trưởng giả có 4 người con, tất cả đều bị dạxoa bắt ăn thịt.

Gia đình đại trưởng giả cầu xin được một đứa con, khi Ngài sinh ra gia đình mong cầu “mong rằng các hàng phi nhân có lòng từ mẫn, hộ trì cho hài tử này”. Dạxoa thù nghịch với gia tộc Ngài, khi ấy phải đi hầu vua Vessavana và bị giữ lại, không thể trở về nữa, nên Ngài được an toàn.

Do đó, gia tộc đặt tên cho Ngài là Bhūta, Ngài lớn lên trong nhung lụa, có ba tòa lâu đài như Ngài Yasa.

Khi Đức Đạo sư ngự đến thành phố Sāketa, Ngài Bhūta cùng những cư sĩ đến nghe Pháp từ nơi Đức Đạo sư và Ngài xin xuất gia trong giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Sau khi xuất gia, Ngài Bhūta sống  trong một hang động trên bờ sông Ajakaraṇi, trên bờ sông này có tịnh xá Loṇagiri là trú xứ của Trưởng lão Sappaka ([158]). Sông Ajakaraṇi có thể là một nhánh phụ của sông Aciravatī.

Với sự nỗ lực hành pháp, chẳng bao lâu Ngài Bhūta chứng quả ALaHán.

Để tế độ thân quyến, Đức Bhūta trở lại kinh thành Sāketa, thăm thân tộc rồi Ngài trú trong rừng nai Añjanava, nên Ngài được gọi là Añjaniya.

Tương truyền, vào thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài là một cư sĩ đã tán thán Đức Phật Siddhattha bốn kệ ngôn, do phước lành này Ngài thoát khỏi mọi hiểm nguy trong vòng luân hồi. Lần cuối Ngài thoát khỏi tai nạn “bị dạxoa sát hại”.

Vào 14 kiếp trước đó, Ngài là vị vua có vương hiệu là Uggata ([159]), Ngài có thể là Trưởng lão Parappasādaka trong tập Apadāna ([160]).

Bấy giờ gia đình thuyết phục Đức Bhūta quay lại với đời sống thế tục, nhưng Ngài từ chối, trước khi từ biệt thân tộc để viên tịch, Đức Bhūta nói lên 9 kệ ngôn (sđd).

*Rừng nai Añjana. Là khu rừng nai ở thành phố Sāketa, rừng có tên như thế vì được che rậm bởi dây leo añjana có hoa nhiều màu xinh đẹp ([161]), một số người cho Añjana một loại cây mọc lan.

Đức Thế Tôn cũng thường ngự trú ở nơi này, tại nơi đây thiên tử Kakudha đến yết kiến Đức Phật và hỏi đạo ([162].). Thiên tử Kakudha cũng được gọi là “dạxoa”, vị này trú trên cây Kakudha, nên có tên gọi là Kakudha.

Trong rừng nai này cũng là nơi trú ngụ của du sĩ Kuṇḍaliya, ông đến yết kiến Đức Thế Tôn để hỏi pháp, được Đức Thế Tôn tế độ chứng quả Dự Lưu([163]),  Ngài Kuṇḍaliya trở thành Thánh cư sĩ trọn đời quy ngưỡng Tam Bảo.

Khi Đức Ānanda trú ngụ nơi đây, các nữ du sĩ Jātila (tóc bện) có đến viếng Ngài và hỏi về cách thức thiền định (samādhi) ([164]).

Các bài kinh như Sāketa sutta([165]), Sāketajātaka([166]), Jarāsutta (kinh Già)([167]), được Đức Thế Tôn thuyết lên tại nơi đây.

Trưởng lão Jambugāmika khi còn Sadi, Ngài cũng sống nơi này, Ngài sinh trưởng ở xứ Campā, tên Jambugāmika là gọi theo tên người cha.

Khi xuất gia Sadi Ngài sống trong rừng nai Añjana ở thành phố Sāketa.

Cha Ngài sợ Ngài không bền chí tu nên gởi bài kệ để dò ý Ngài:

Con có được thỏa mãn; với y phục mang mặc (vatthapasuto).

Con  có được hoan hỷ; với trang sức điểm tô (bhūsanārato).

Và mùi hương thơm này; do giới con tỏa ra.

Chớ không do người khác (netarā pajā); tạo mùi thơm như vậy” (HT. TMC dịch).

Nhận được bài kệ này, tâm Ngài xúc động vì cha Ngài nghi ngờ Ngài, đồng thời Ngài còn là phàm nhân.

Ngài nỗ lực tu tập, dùng kệ ngôn của cha gửi làm đề mục minh sát không bao lâu Ngài chứng quả ALaHán lục thông.

Để nói lên Thánh trí đã đạt được, đồng thời tán thán người cha, Ngài nói lên kệ ngôn trên ([168]).

Có lần Phật trú ở Añjana với đại chúng Tỳkhưu, nên nhiều Tỳkhưu phải ngủ ngoài bãi cát của sông Sarabhū gần đó.  Về đêm nước dâng cao, Trưởng lão Gavampati dùng thần thông ngăn nước lại ([169]).

Trưởng lão Bhūta trú ở Añjana trong lúc viếng họ hàng ở Sāketa, Trưởng lão phải ngồi suốt cả mùa mưa trên ghế dài tại đây  ([170]).

Tại đây bà Sujātā gặp Phật, nghe pháp và đắc quả Alahán ([171]).

Thông thường dạxoa rất được cung kỉnh như vị hộ pháp, các dạxoa thượng đẳng thường bảo vệ chư Tỳkhưu, hộ trì những người thực hành pháp, ngăn chận không cho các dạxoa trung phẩm, hạ phẩm quấy nhiễu hay sát hại các Tỳkhưu sống trong rừng.

Hạng dạ xoa này nhờ tích lũy nhiều thiện nghiệp nên xinh đẹp như chư thiên. Có nhiều dạxoa chứng đắc Thánh quả như dạxoa Sātāgiri, Hemavata, Suciloma, Khara, Javanasabha (hậu thân của vua BìnhSa).

Dạxoa hạ đẳng gần giống như “ma đói”, mắt đỏ ngầu, không hề nháy mắt cũng không có bóng, hạng này sợ “lá dừa, sắt, thép” ([172]).

Có một kiếp Bồtát là trưởng đoàn lữ hành của đoàn thương buôn, có lần đoàn thương buôn mang thương phẩm sang nơi khác để buôn bán, đoàn lữ hành phải băng qua sa mạc phi nhân do dạxoa cư ngụ.

Có 5 loại samạc là:

– Sa mạc có bọn cướp trú ẩn, gọi là sa mạc trộm cướp.

– Sa mạc có thứ dữ như sư tử, cọp … gọi là sa mạc thú dữ.

– Sa mạc không có nước để tắm hay uống, gọi là sa mạc không nước.

– Sa mạc có phi nhân tr1 ẩn, nhất là dạxoa, gọi là sa mạc phi nhân.

– Sa mạc không tìm thấy sinh vật nơi ấy để có thể tìm lương thực, gọi là sa mạc không có vật thực.

Trong năm loại sa mạc ấy thì: Sa mạc không nước và sa mạc phi nhân là nguy hiểm nhất.

Khi đoàn thương buôn đi sâu vào sa mạc, nhóm dạxoa trú trong thành dạxoa đã hóa ra đoàn lữ hành đi ngược chiều với đoàn lữ hành của Bồtát, đoàn lữ hành của dạxoa với thân hình đẩm ướt nước, miệng nhai những củ sen … chúng dụ dỗ đoàn lữ hành của Bồtát “hãy trút bỏ những nước chứa trong vại cho nhẹ xe, vì phía trước là những ao hồ có nước trong mát …”.

Nhưng Bồtát nhờ quán xét thấy “người khách này “mắt đỏ ngầu, không có bóng chiếu”. Ngài biết là dạxoa ([173]) nên thoát khỏi tai hại, đem lại sự an toàn cho cả đoàn thương buôn.

Có hạng dạxoa tay cầm “lưỡi tầm sét”, có tên gọi là Vajira, như dạxoa Vajira là một trong 7 dạxoa trấn giữ cổng thứ ba tòa lâu đài của gia chủ Jotika, dạxoa Vajira có 3.000 dạxoa tùy tùng ([174]).

Một dạxoa khác trên tay cũng cầm “lưỡi tầm sét”, nhưng có tên là Vajirapāṇi thường theo hầu Đức Phật, dạxoa này thường hiện thân để dọa “ai không trả lời Đức Phật sau ba lần hỏi”, sự hiện thân của dạxoa này chỉ có Đức Phật và người bị dọa trông thấy.

Lôi sấm của dạxoa này nổ to nhất và kinh khiếp nhất ([175]), lôi sấm này không bị bất cứ thứ gì có thể cản trở được và thường trúng ngay mục tiêu, nên được gọi là “avirajjhamaka([176]).

Trong kinh điển ghi nhận: “Có hai lần dạxoa Vajirapāṇi hiện ra để dọa đánh vỡ đầu người ương ngạnh không chịu trả lời Đức Phật, sau khi Ngài đã hỏi ba lần.

Lần nhất dọa thanh niên Ambaṭṭha môn đệ của Bàlamôn Pokkharasādi, khi thanh niên này không chịu trả lời Đức Phật về giòng họ tổ phụ của mình ([177]). Tổ phụ của thanh niên Ambaṭṭha là Kaṇhā, Kaṇhā là con của một nữ nô tỳ của vua Okkāka, do đó thanh niên Ambaṭṭha hổ thẹn khi phải xác nhận tổ phụ dòng họ Kaṅhāyana của mình là “con của nô tỳ” trong dòng họ ThíchCa.

Lần thứ hai dạxoa Vajirapāṇi lại hiện thân dọa du sĩ Saccaka nigaṇṭha([178]).

Đại Luận sư Buddhaghosa trong bản Sớ giải kinh Trường bộ và kinh Trung bộ  ([179]) có giải thích:

“Dạxoa Vajirapāṇi và vua Trời ĐếThích chỉ là một, hình dạng hung tợn là hóa thân của vua Trời ĐếThích. Vua Trời Đế Thích giữ lời hứa của mình trước sự chứng kiến của Đại Phạm thiên Sahampati, khi Đức Phật do dự “không muốn giảng pháp bất tử”.

Vua Trời ĐếThích hứa “sẽ trợ giúp Đức Phật, khi Ngài cho “bánh xe pháp” chuyển động, lăn đi khắp các cõi nhân thiên”.

Có nhiều dạxoa “như thiên thần gẫy cánh”, nhờ đặt niềm tin nơi Đức Phật, nghe được giáo pháp chứng đạt Thánh quả Dự Lưu, như nữ dạxoa Punabbasumātā.

Nữ dạxoa này được xem như “hạng ngạ quỷ nửa lạc nửa khổ”, gọi là vemānikapeta ([180]). Nữ dạxoa này có hai người con: Trai là Punabbasu và gái là Uttarā, nên nữ dạxoa được gọi là Punabbasumātā.

Một lần nọ, vào lúc hoàng hôn nữ dạxoa một tay bồng con gái Uttarā, một tay dẫn Punabbasu theo đường hư không đi tìm vật thực.

Khi đi đến tịnh xá KỳViên , nữ dạxoa không thể đi ngang qua được phải rơi xuống đất, bà nhìn thấy chư Tỳkhưu ngồi im lặng nghe pháp Đức Thế Tôn, nữ dạxoa Punabbasumātā dỗ con gái nhỏ là Uttara nín khóc để bà nghe pháp. Bé Uttarā nghe lời mẹ nín khóc, bà cùng Punabbasu nghe xong thời pháp thoại của Đức Thế Tôn, cả hai mẹ con đều đắc quả Dự Lưu, riêng bé Uttarā  còn nhỏ nên không hiểu gì, nên không chứng đắc Thánh quả.

Từ khi đắc Thánh quả nữ dạxoa Punabbasumātā không còn đọa lạc như loài “ma đói” nữa ([181]).

Một nữ dạxoa ngạ quỷ khác có tên là Piyaṅkaramātā, bà có tên này vì có đứa con tên là Piyaṅkara.

Một lần nọ vào lúc trời hừng sáng, bà ẳm con là dạxoa Piyaṅkara đi tìm vật thực, khi đến tịnh xá KỳViên nghe Đức Anuruddha tụng kinh Pháp cú, bà dừng chân, đứng lại nghe kinh.

Bé Piyaṅkara khóc đòi cơm, bà dỗ con nín khóc để bà nghe kinh. Nghe xong thời kinh bà chứng quả Dự lưu ([182]).

Hằng ngàn dạxoa đến nghe kinh Đại hội (Mahāsamayasuttaṃ), trong bài kinh này nêu ra rất nhiều dạxoa thượng đẳng.

Theo bản Sớ giải kinh Trường bộ ([183]), có hạng dạxoa là nữ nô tỳ (yakkhadāsī), các nữ dạxoa này phải múa hát giúp vui cho  dạxoa chư thiên suốt đêm, rạng sáng họ uống rượu (surā)  rồi đi ngủ, đến tối thức dậy ca múa để phục vụ các dạxoa chư thiên.

Một số  dạ xoa có tên theo “hình tướng” như:

Nữ dạxoa Kuvaṇṇā (sắc xấu). Là nữ dạxoa, vợ của vua Vijaya (vị vua đầu tiên của nước Tích Lan) ([184]). Nhưng khi làm vợ của vua Vijaya, nữ dạxoa hóa thân thành một “tuyệt thế giai nhân”.

Dạxoa Khara. Dạxoa này có da thô nhám dày, cứng và xếp từng lớp như  “lợp mái ngói”. Để dọa kẻ khác, dạxoa Khara “phồng mình lên”, da nổi lên như “vẩy con trúc” hay như “vảy cá”, đây là ác quả của một nghiệp bất thiện trong tiền kiếp.

Trong thời giáo pháp của Đức Phật Kassapa, tiền thân dạxoa Khara là một cư sĩ, cư sĩ này dùng dầu của chư Tăng thoa lên mình mà không xin phép chư Tăng, khi mệnh chung tái sinh làm dạxoa có da dày như thế, nên có tên là Khara, ngoài ra, lông trên thân cũng cứng và nhọn như cây kim nên dạxoa này còn có tên là Kharaloma.

Khi chứng đắc Dự Lưu da trở nên trong sáng như vàng ròng, các lông kim rụng hết ([185]).

Dạxoa Suciloma. (xem những tập sau).

Dạxoa Kharadāṭhika. Có hình tướng hung tợn, xin hai đứa con của Bồtát tiền thân Đức Phật Maṅgala để ăn thịt.

Dạxoa Silesaloma. Hình dạng hung tợn, là tiền thân của Đức Aṅgulimāla ([186]).

Dạxoa Hārita ở kinh thành Kasmir (xem phần trước).

Dạxoa Citta (hoa mỹ), còn có tên gọi là Cittarāja.

Tiền thân của dạxoa này là “người chăn cừu” của Vương tử  Dīghāgāmani.

Nàng Cittā tư thông với vương tử Dīghāgāmini, có thai sinh ra một bé trai (là hoàng tử Paṇḍukābhaya đã nói ở phần trước), biết được tin này các hoàng tử anh nàng Cittā sai người chăn cừu Citta giết chết bé trai, nhưng người chăn cừu giao bé trai cho người khác nuôi dưỡng.

Tức giận, nhóm Hoàng tử ấy đã giết chết người chăn cừu Citta.

Mệnh chung, người chăn cừu tái sinh làm dạxoa theo hộ trì vị Tử hoàng sơ sinh Paṇḍukābhaya.

Về sau Paṇḍukābhaya lên ngôi, đặt dạxoa Citta ngồi cạnh mình, nên dạxoa có tên gọi là Cittarāja.

*Một số dạxoa trú trong rừng như: Dạxoa Āḷavaka, dạ xoa Ajakalāpaka (xem những tập sau).

Ngoài ra dạxoa có chỗ trú khác nhau như:

– Lâu đài của trưởng giả Jotika có 7 lớp cửa, được canh giữ bởi 7 dạxoa:

Cửa thứ nhất do dạxoa Yamakoḷī có 1.000 dạxoa tùy tùng canh giữ.

Cửa thứ hai do dạxoa Uppala có 2.000 dạxoa tùy tùng canh giữ.

Cửa thứ ba do dạxoa Vajira có 3.000  dạxoa tùy tùng canh giữ.

Cửa thứ tư do dạxoa Vajirabāhu có 4.000 dạxoa tùy tùng canh giữ.

Cửa thứ năm do dạxoa Kasakanda có 5.000 dạxoa tùy tùng canh giữ.

Cửa thứ sáu do dạxoa Kaṭattha có 6.000 dạxoa tùy tùng canh giữ.

Cửa thứ 7 do dạxoa Disāpāmukha có 7.000 dạxoa tùy tùng canh giữ ([187]).

– Dạxoa Naḷeru ([188]) trú ở cội cây pucimanda hay nimba trong xứ Verañja. Vào năm thứ 12, Đức Thế Tôn an cư mùa mưa tại nơi đây.

Trong bản kinh Atānātiya ([189]) có nêu ra 28 tướng quân dạxoa cùng các Thiên tử, Hương thần có đại uy lực ( được xếp vào hệ thống dạxoa).

Bản danh sách các tướng quân dạxoa cùng các thiên tử, Hương thần có uy lực (được xếp vào dạxoa) như sau:

Inda, Soma, Varuṇa, Bhāradvāja, Pajāpati, Candana và Kāmaseṭṭha.

Kinnughandu, Nighaṇḍu, panāda, Opamañño, Devasūto và Mātali.

Cittaseno, Naḷo, Janesabha, Sātāgiri, Hemavata, Puṇṇaka và Karatiyo.

Guḷa, Sīvaka, Mucalinda, Vessāmitta, Yugandhara và Gopāla.

Suppagedha, Hirī, Netti, Mandiya, Pañcālacaṇḍa và Āḷāvaka.

Pajjuṇṇa, Sumana, Sumukha, Dadhimukha, Maṇi và Mānicara.

Dīgha và Serissaka.

Hai mươi tám tướng quân dạxoa  trực thuộc Thiên vương Kuvera là:

1’- Inda. Là tên chung chỉ cho 91 hoàng tử con của Thiên vương Kuvera.

Đồng thời Inda cũng là tên chung chỉ cho 91 hoàng tử con Thiên vương Dhatarattha (Trì Quốc), 91 hoàng tử con Thiên vương Virūḷhaka (Tăng Trưởng), 91 Hoàng tử con Thiên vương Virūpakkha (Quảng Mục).

2’- Bhāradvāja. Đây là một trong những giòng họ cao quý thời Ấn cổ. Dạxoa này từ họ tộc này sinh lên, nên gọi theo họ tộc kiếp trước.

3’- Kinnughaṇḍu.

4’- Nighaṇḍu. Dạxoa chúa này có đến dự buổi thuyết kinh Đại Hội (Mahāsamayaṃsuttaṃ).

5’- Devasūta.

6’- Sātāgiri.

7’- Hemavata.

8’-Puṇṇaka. Một dạxoa, chúa cháu của Thiên vương Vessavana (Đa Văn) được ghi nhận trong bổn sanh Vidhura (Vidhurajātaka) ([190]).

Tiền kiếp của dạxoa Puṇṇaka  là một thanh niên thuộc giòng họ Kaccāyana (hay Kaccāna) ở kinh thành Campā trong vương quốc Aṅga ([191]).

Long nữ Iradantī con của long vương Varuṇa, muốn được “trái tim của hiền trí Vidhura” để làm thuốc trị bịnh cho mẹ là Long hậu Vīmālā.

Long nữ Iradantī trang điểm thật xinh đẹp, lên đỉnh núi Hắc Sơn (Kāḷāgiri), hát lên khúc hát “tuyển phu” với lễ vật cầu hôn là “trái tim của hiền trí Vidhura”.

Bấy giờ dạxoa Puṇṇaka trên đường đến nơi họp của các dạxoa, nhìn thấy Long nữ Iradantī xinh đẹp, đã phát sinh luyến ái, nguyên nhân vì đời trước hai người là vợ chồng.

Rồi dạxoa đi đến kinh thành Kuru, nơi ở của hiền trí Vidhura, đánh cuộc bằng một ván cờ với vua Koravya. Vật đánh cược của dạxoa là “thần mã” và  viên bảo ngọc Như ý (Maṇī). Viên bảo ngọc này có khả năng giúp chủ nhân “nhìn thấy tất cả mọi vật trong bốn châu”.

Khi thắng cuộc cờ, dạxoa Puṇṇaka reo lên, tiếng reo của dạxoa là “một trong bốn tiếng mà khắp cõi Ấn Độ đều nghe được” ([192]).

9’- Karatiya. Dạxoa chúa này có đến tham dự buổi  Đức Phật thuyết kinh Đại Hội.

10’- Guḷa.

11’- Sīvaka. Là chúa dạxoa khuyến khích Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) tiến bước đến đảnh lễ Đức Phật khi trưởng giả đi trong rừng Sīta trong đêm tối ([193]).

12’- Mucalinda.

13’- Vessāmitta. Dạxoa chúa này cùng 500 dạxoa tùy tùng, đến dự buổi Đức Phật thuyết kinh Đại Hội. Đức Buddhaghosa có giải thích: “Vì dạxoa chúa này ngụ trên núi Vessamittā, nên có tên gọi theo tên núi” ([194]).

14’- Yugandhara. Chúa dạxoa này trú trên đỉnh núi Yugandhara.

15’- Gopāla.

16’- Suppagedha.

17’- Hīrī.

18- Nettī.

19’- Mandiya.

20’-Pañcalacaṇḍa. Có một thiên tử cũng có tên là Pañcalacaṇḍa.

21’-Āḷāvaka.

22’- Sumana.

23’- Sumukha.

24’- Dadhimukha.

25’- Maṇi.

26’- Māṇicara

27’- Dīgha. Dạxoa chúa, có lần bạch với Đức Phật về sự chứng đắc của các trưởng lão Anuruddha, Nandiya và Kimbila. Đồng thời khen ngợi xứ Vajjī được an lạc khi có ba vị Thánh nhân này trú ngụ ([195]).

Đức Buddhaghosa mô tả vị chúa dạxoa này như một vua chư thiên (devarāja) và một dnah xứng khác của dạxoa này làParajana.

Dạxoa chúa Dīgha có đến yết kiến Đức Phật ờ rừng Gosiṅgasāla, trước khi Ngài ngự đến nơi trú ngụ của Đức Anuruddha ([196]).

28’-Serissaka.

Trong bản danh sách trên có một số thiên tử có đại uy lực như:

Varuṇa. Đây là một Thiên chủ trong số 33 thiên chủ trong cõi Đạo Lợi, thường được kể chung với các Thiên chủ Sakka (ĐếThích), Pajāpati và Isāna. Trong trận chiến với các Atula, các thiên nhân cõi ĐạoLợi thường nhìn ngọn cờ của Thiên chủ Varuṇa để không phải sợ hãi ([197]).

Trong kinh Tam Minh (Tevijjasutta) ([198]), Thiên chủ Varuṇa nằm trong danh sách các thiên vương được các Bàlamôn tế lễ như: Inda, Soma, Isāna, Pajāpati, Yama và Mahiddhi.

Đức Buddhaghosa (Giác Âm) có giải thích:” Trên phương diện uy lực cùng danh tiếng thì Thiên chủ Varuṇa không thua kém Thiên vương ĐếThích, ngồi vào ngai vàng thứ ba trong mỗi lần Đại hội chư thiên ([199]).

Varuṇa trong bản kinh Ātānātiya là nhóm thiên tử tùy tùng của Thiên vương Varuṇa.

– Soma. Là vị Thiên chủ đứng hàng thứ 2 trong 33 vị Thiên chủ cõi ĐạoLợi. Soma trong bài kinh này là “chỉ cho những thiên tử tùy tùng của thiên chủ Soma”.

Pajāpati. Là một trong 33 vị Thiên chủ cõi Đạo Lợi, đôi khi  danh hiệu Pajāpati được dùng để “chỉ cho Phạm thiên”.

Pajāpati trong bản kinh Ātānātiya là chỉ “thiên chúng tùy tùng của vị ấy”.

Candana. Là một thiên tử có uy lực. Theo Đức Buddhaghosa giải thích: Tiền kiếp của thiên tử Candana là một cận sự nam trong thời Đức Phật Kassapa (CaDiếp), có cúng dường tứ sự đến chư Tỳkhưu, mệnh chung được sinh về thiên giới là thiên tử Candina.

Theo Ngài Dhammapāla trong bản Sớ giải kệ Trưởng lão Tăng ([200]) thì: Tiền thân của Candina là vị Tỳkhưu trong Giáo pháp của Đức Phật Kassapa, tiền thân của thiên tử Candana nghe được bài kinh “Nhất dạ hiền giả” (Bhaddekarattasutta), vị ấy đi đến vị Tỳkhưu bạn (tiền thân của Trưởng lão Lomasakaṅgiya) về ý nghĩa bài kinh này.

Vị Tỳkhưu bạn cũng không hiểu được ý nghĩa bài kinh “Nhất dạ hiền giả”, vị ấy hẹn “kiếp sau sẽ giảng”.đến hỏi Ngài về ý nghĩa bài kinh “Nhất dạ hiền” (Bhaddekaratta Sutta) được Đức Thế Tôn Kassapa thuyết giảng, nhưng Ngài không trả lời được, Ngài hẹn “kiếp sau sẽ giảng”.

Trong thời Đức Phật Gotama,  hai vị Tỳkhưu ấy, một vị là thiên tử Candana, một vị là Trưởng lão Lomasakaṅgiya.

Trong bộ Kệ trưởng lão Tăng có ghi nhận: Trưởng lão Lomasakaṅgiya sinh ra tại kinh thành CaTỳLaVệ, thuộc dòng Thích tử. Sau mùa an cư thứ nhất, Đức Phật trở về kinh thành CaTỳLaVệ để tế độ thân bằng quyến thuộc, sau đó dòng Hoàng tộc Thích Ca theo lời giao ước khi Bồtát SĩĐạtTa vừa sinh ra, mỗi gia tộc cử một nam tử xuất gia theo Đức Phật, Ngài không xuất gia vì thân của Ngài yếu đuối.

Sở dĩ Ngài có tên là Lomasakaṅgiya vì Ngài có thân hình mảnh mai, đồng thời có nhiều lông tơ trên thân (kāyassa īsakalomasākāratāya) ([201]).

Khi Đức Phật ngự lên cung Trời Đạo lợi, ngồi trên “tảng đá ngọc màu vàng” (Paṇḍukambala), thuyết lên kệ ngôn về “Nhất dạ hiền giả”. Thiên tử Candana học được bài kinh này, nhưng không hiểu rõ ý nghĩa.

Thiên tử Candana đến tịnh xá Nigrodha cùa dòng ThíchCa cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng, hỏi Ngài ý nghĩa bài kinh “Nhất dạ hiền giả” (Bhaddekarattasutta) mà thiên tử Candana học được, Ngài Lomasakaṅgiya thú nhận “không có thọ trì bài kinh Nhất dạ hiền giả”.

Thiên tử Candana nhắc lại lời “hẹn ước kiếp trước”, Ngài Lomasakaṅgiya xúc động mạnh, đi đến xin Đức Phật được xuất gia.

Đức Thế Tôn bảo “về xin phép cha mẹ”, mẹ Ngài sợ Ngài  yếu đuối không thể chịu đựng nổi với đời sống xuất gia. Ngài nói lên kệ ngôn với mẹ rằng:

Dabbaṃ kusaṃ potakilaṃ; usīraṃ muñjapabbajaṃ.

Urasā panudissāmi; vivekamanubrūhayan’ti.

“Trí như cỏ kusa còn nhỏ; trở thành rễ muñja ([202]).

Ngực này không dời đổi; hạnh viễn ly tăng trưởng”.

Rồi Ngài Lomasakaṅgiya đến tịnh xá Kỳ Viên ở kinh thành XáVệ xuất gia trong Giáo đoàn này. Rồi Trưởng lão Lomasakaṅgiya bạch hỏi Đức Thế Tôn về bài kinh “Nhất dạ hiền giả”. Đức Thế Tôn giảng rộng kệ ngôn “nhất dạ hiền giả” đến Ngài Lomasakaṅgiya ([203]).

Trưởng lão Lomasakaṅgiya đi vào rừng, thực hành Samôn pháp. Chẳng bao lâu Ngài chứng đạt ALaHán lục thông. Và Ngài tuyên bố lên kệ ngôn trên, như nói lên sự thành đạt Thánh quả ALaHán của Ngài.

Tương truyền vào thời Đức Phật Vipassī, tiền thân của Đức Lomasakaṅgiya có cúng dường đến Đức Thế Tôn một đóa hoa “rồng” (Nāgapupphiya) ([204]).

Trong Tương Ưng kinh (Saṃyutta Nikāya) ([205]) có ghi lại cuộc hỏi pháp của thiên tử Candanavới Đức Phật, Thiên tử Candana có đến đảnh lễ Đức Moggallāna (MụcKiềnLiên) ([206]).

Kāmaseṭṭha. Vị thiên tử này rất khôn ngoan, nhiều mưu mẹo, thường hóa thân thành nhiều dạng sai khác.

Panāda. Là vị chúa Hương thần.

– Opamañña. Chúa Hương thần.

Nữ cư sĩ Kāḷī Kuraragharikā.

Nàng Kāḷī  là con gái của một trưởng giả trong thành VươngXá, khi đến tuổi trưởng thành, nàng được gả cho một gia đình tương xứng ờ vùng Kuraraghara do tộc họ Kuraraghara cai quản, thuộc quốc độ Avantī, nên nàng có tên là Kāḷī Kuraragharikā.

Khi gần đến ngày sinh con, theo phong tục lúc bấy giờ: “khi sinh con đầu lòng, nữ nhân ấy sẽ trở về với cha mẹ ruột để sinh con”.

Nàng Kāḷī trờ về kinh thành VươngXá để sinh người con đầu lòng.

Với đêm trăng trong sáng của ngày 15 tháng Āsāḷha (tháng 6 âl VN), nàng Kāḷī bước lên lầu 7 để ngắm trăng, đón những ngọn gió mát từ hư không lan nhẹ đến, tâm nàng vô cùng hân hoan với khung cảnh “trăng thanh gió mát”, đồng thời mong làm giảm cơn đau chuyển bụng khi sắp sinh con. Do phước riêng khi ước nguyện dưới chân của Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa), nàng nghe được cuộc đàm thoại về “ân đức Phật” của hai dạxoa Hemavata và Sātāgiri.

Tương truyền trong thời Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa), một nữ gia chủ được nghe Đức Phật Padumuttara ban cho một nữ Thánh đệ tử cư sĩ địa vị là “đệ nhất niềm tin do nghe lời truyền đạt”.

Nữ gia chủ ấy ao ước đạt được địa vị này trong tương lai.

Bà cung thỉnh Đức Thế Tôn Padumuttara và 68.000 vị Trưởng lão đến tư gia, cúng dường  đến Đức Phật và chư tăng trọn 7 ngày.

Vào ngày thứ 7, sau khi cúng dường vật thực đến Đức Phật cùng chư Tăng. Khi Đức Phật thọ thực xong rồi, nữ gia chủ quỳ đảnh lễ dưới chân Đức Phật Padumuttara, ước nguyện đạt được địa vỉ “nữ cận sự tối thắng về niềm tin do nghe truyền đạt trong giáo pháp của Đức Chánh Giác trong tương lai”.

Đức Phật Padumuttara tiên tri rằng: “Sau trăm ngàn kiếp trái đất, ước nguyện của nữ gia chủ này trở thành sự thật trong thời Đức Phật có hồng danh là CồĐàm”.

Do duyên lành này, nàng nghe trọn vẹn cuộc đàm luận của hai vị chúa dạxoa, tâm nàng phát sinh hỷ lạc, nàng đưa tâm “suy gẫm” về ân đức Phật.

Khi hai dạxoa chúa cùng đoàn dạxoa tùy tùng ra đi, nàng vẫn đứng lặng yên, an trú tâm vào “ân đức Phật”, áp chế các pháp chướng ngại (nīvaraṇā), tâm nàng Kāḷī đạt được c6ạn định (upācārasamādhi), tiếp theo nàng phát triển tuệ quán chứng quả Dự Lưu ngay tại nơi ấy.

Trong đêm ấy nàng sinh ra một hài tử, hài tử được đặt tên là Soṇa. Nàng Kāḷī cho hài tử đeo đôi hoa tai có giá trị là 10 triệu đồng vàng, nên hài tử có tên gọi là Soṇa Kūṭikaṇṇa (Soṇa có tai 10 triệu đồng vàng).

Nếu như “nàng Kāḷī trong đêm trăng tròn tháng  Āsaḷha chứng đắc quả Dự Lưu,  thì nàng là người cư sĩ đầu tiên chứng quả Dự Lưu trong giáo pháp này” (vì Đức Buddhaghosa cho rằng: Hai dạxoa chúa Hemavata và Sātāgiri gặp nhau không phải vào đêm trăng tròn tháng Asāḷha, mà gặp nhau vào thời điểm khác ở tại đền Gotamukha).

Về sau, nàng Kāḷī được Đức Thế Tôn ban cho địa vị “tối thắng trong hàng nữ cư sĩ về tịnh tín qua truyền đạt”, như Đức Thế Tôn dạy:

Etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ paṭhamaṃ anussavappasannānaṃ yadidaṃ Kāḷī upāsikā kulagharikā.

“Này các Tỳkhưu, trong các nữ đệ tử cư sĩ của Như Lai, có lòng tịnh tín d0 nghe “lời truyền đạt”, tối thắng là Kāḷī, nữ cư sĩ ở Kula-gharikā” ([207]).

Nàng Kāḷī là bạn thân của nữ cư sĩ Kātiyānī ([208]), nữ cư sĩ Kātiyānī được Đức Thế Tôn ban cho địa vị tối thắng về “niềm tin bất động” trong hàng nữ cận sư. Như Phật ngôn:

Etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ paṭhamaṃ aveccappasannānaṃ yadidaṃ kātiyānī.

“Này các Tỳkhưu, trong các nữ đệ tử cư sĩ của Như Lai, có lòng tịnh tín bất động tối thắng là Kātiyānī” (sđd).

Khi sinh con được vững mạnh, nàng Kāḷī trở về thị trấn Kuraraghara.

Về sau nghe Đại trưởng lão Mahā Kaccāna trú ngụ ở núi Papāta trong xứ Kuraraghara, bà đi đến đảnh lễ Trưởng lão, cúng dường đến Trưởng lão Mahā Kaccāna và hỏi pháp từ Đức Mahā Kaccāna ([209]).

Thiện gia tử Soṇa Kūṭikaṇṇa được Đại trưởng lão Mahā Kaccāna tế độ xuất gia trong giáo pháp này.

* Quốc độ Avanti.

Là một trong bốn đại quốc trong thời Đức Phật, ba đại quốc kia là: MaKiệtĐà, KiềuTấtLa và Vaṃsa.

Kinh đô nước Avantī  là Ujjenī, nhưng theo tư liệu khác thì Māhissatī là kinh đô của xứ Avantī ([210]).

Rất có thể quốc độ Avantī cổ được chia thành hai miền: Miền Bắc Avantī có kinh đô là Ujjenī, còn miền Nam Avantī (còn được gọi là Avantī Dakkhināpatha) có kinh đô là Māhissatī ([211]).

Giả thuyết này được các học giả nghiên cứu Phật giáo sử công nhận, vì trong sử thi Mahābhārata của giáo hệ Bàlamôn có ghi nhận: “Avanti và Māhissatī là hai xứ riêng biệt” ([212]).

Avantī là một trong 7 phần đất của xứ Ấn cổ do Bàlamôn Govinda ([213]) phân chia theo yêu cầu của vuaReṇu. Bàlamôn Govinda chia lãnh thổ Ấn cổ thành 7 phần đều nhau.

Lãnh thổ của vua Renu ở giữa; vùng Dantapura cho dân Kaliṅga; vùng Potana cho dân Assaka; vùng Māhissati cho dân Avantī; vùng Roruka cho dân Sovīra; vùng Mithilā cho dân Videha và vùng Campā cho dân Aṅga.

Vị vua đầu tiên của xứ Avantī là Vessabhū ([214]).

Xứ Assaka được kể chung với xứ Avantī ([215]), tương tự như xứ Aṅga với xứ MaKiệtĐà. Vị trí của Assaka ở giữa Sūrasena và Avantī, như vậy cho thấy Assaka nằm ngay trên phía Tây Bắc của xứ Avantī khi “các vùng đất” được vua Reṇu phân chia và như vậy cho thấy làng Godāvarī trong Dakkhināpatha “có thể” được thành lập sau này.

Được biết dân Assaka lập nghiệp ở Godāvarī, tự viện kín của Bāvarī nằm trong xứ Assaka, gần Aḷaka hay Muḷaka (quận quanh Paithan) ([216]).

Trong Bổn sanh Assaka jātaka có đề cập đến một vị vua mà xứ này nằm trong vương quốc Kāsī.

Theo chi tiết này có nghĩa là thủ phủ Assaka, hoặc Potana hay Patali không liên quan gì đến làng Godāvarī.

Trong Bổn sanh  Culla Kāliṅga jātaka ([217]), có lần vua Assaka chấp nhận thách thức của vua Kaliṅga ở Dantapura và đã chiến thắng vẻ vang.

Về sau, vua Assaka cưới công chúa của Kaliṅga nên tình giao hảo đôi bên trở nên rất thắm thiết.

Vào thời Đức Phật, vua quốc độ Avantī là Caṇḍa Pajjota, sở dĩ gọi Caṇḍa vì Đức vua có tính tình nóng nảy và thô bạo, “Caṇḍa” được xem như “biệt danh” cònPajjota là tên ([218]).

Khi vua Caṇḍa Pajjota nghe “Đức Phật đã hiện khởi trong thế gian”, Đức vua cho tám vị Đại thần có Đức Mahā Kaccāna là trưởng đoàn, tìm đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và cung thỉnh Đức Thế Tôn ngự đến vương quốc Avantī. Tám vị đều chứng Thánh quả ALaHán khi nghe được pháp thoại từ Đức Thế Tôn, Đức Mahā Kaccāna thỉnh Đức Thế Tôn ngự đến xứ Avantī theo lời thỉnh cầu của vua Caṇḍa Pajjota, nhưng Đức Thế Tôn từ chối và cử 8 vị Thánh ALaHán xứ Avantī trở về kinh thành Ujjenī truyền bá giáo pháp, tế độ vua Caṇḍa Pajjota ([219]).

Và Đức Mahā Kaccāna ở lại xứ Avantī trong một thời gian dài, trú xứ mà Ngài hài lòng là núi Pabbāta (còn gọi là Pavatta) trong vùng Kuraraghara([220]).

Núi này được gọi là Pabbāta (Pavatta), vì trên núi có “một vách đá thẳng đứng” ([221])

Khi nói đến vương quốc Avantī thường được đính kèm theo vương quốc Assaka, tương tự như xứ Aṅga với xứ MaKiệtĐà.

Tuy Avantī là một trung tâm Phật giáo vào thời Đức Phật còn tại tiền (khoảng 10 năm sau cùng của Đức Phật), nhưng giai đoạn đầu Phật giáo chưa được phát triển rộng.

Đức Mahā Kaccāna phải khó khăn khi tìm đủ 10 vị Tỳkhưu để tế độ cho thiện gia tử Soṇa Kūṭikaṇṇa thọ giới Tỳkhưu, mãi ba năm sau Đức Mahā Kaccāna mới tìm đủ 10 vị Tỳkhưu ([222]).

Khi Ngài Soṇa KūṭiKaṇṇa đến yết kiến Đức Phật ở thành XáVệ, Ngài mang theo năm lời thỉnh cầu của Đức Mahākaccāna, xin Đức Thế Tôn ban đặc ân cho những “vùng phụ cận” (pacantima janapadā) trong đó có xứ Avantī lúc bấy giờ, nhưng khi Đức Thế Tôn quy định “vùng phụ cận” thì xứ Avantī lại nằm trong “vùng giữa” .

–  1’- Số Tăng hội để thực hiện Tăng sự cho thọ giới Tỳkhưu chỉ cần 5 vị Tỳkhưu, trong đó có một vị là Luật sư.

2’- Chư Tỳkhưu mang giày có lót đệm dày, vì đất ở Kuraraghara có màu đen, gồ ghề  do trâu bò giẫm đạp.

3’- Chư Tỳkhưu được tắm rửa thường xuyên (vì người xứ Avantī bị nóng bức bởi thời tiết nên rất thích tắm rửa).

4’- Các loại da như da bò, da dê … có dùng để đấp, vì vải ở xứ này rất đắc.

5’- Tỳkhưu được giữ y dư cho vị Tỳkhưu khác khi vị ấy lìa trú xứ, cho đến khi y ấy được trao cho vị Tỳkhưu ấy (trước đó Đức Phật chế định “y dư chỉ được giữ 10 ngày. Vì đường đi trong xứ Avantī khó khăn, 10 ngày sẽ không đến được tay vị Tỳkhưu được giữ y dư).

Đức Thế Tôn chấp thuận 5 điều thỉnh nguyện này ([223]).

Về sau, trong cuộc kết tập Phật ngôn lần II ở kinh thành Vesāli (Quảng Nghiêm), xứ Avantī trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn, vì đã cung cấp cho hội nghi 88 vị Thánh Tăng ALaHán ([224]).

* “Vùng giữa” (Majjhimadesa).

Trong thời Đức Phật “vùng giữa” (Majjhimadesa) chỉ cho Trung Ấn, là chiếc nôi của Phật giáo.

“Vùng giữa” về phía Đông được giới hạn bởi thành phố Kajaṅgala, bên kia là “Đại giảng đường” (Mahāsāla). Từ Mahāsāla trở đi được gọi là “vùng phụ cận”.

Về phía Đông nam, được giới hạn bởi sông Salalavatī. Ngoài sông Salalavatī trở đi là “vùng phụ cận”.

Về phía Tây, được giới hạn bởi làng Bàlamôn Thūpa. Từ làng Bàlamôn Thūpa trở ra xa là “vùng phụ cận”.

Về phía Bắc, được giới hạn bởi núi Usiraddhaja. Từ núi Usiraddhaja trở đi là “vùng phụ cận”.

Theo sách Divyāvadāna (Thiện nghiệp thí dụ), 21f. Phía Đông “vùng giữa” bao gồm cả Puṇḍavardhana, tức là miền Bắc Bengal hiện nay.

Theo kinh điển thời Tiền Bàlamôn thì “vùng Trung Ấn” được mô tả: “Đông giáp với phần đất Sarasvatī bị biến mất, Tây với Kāḷakavana, Bắc với Pāripātra, và Nam với Hy Mã Lạp Sơn. Vùng này không có xứ Magadha ([225]).

Về sau “vùng giữa” được xem như danh từ dùng để chỉ cho “nơi Phật giáo đang hưng thịnh, có nhiều Tăng chúng cộng trú”, như trong Quốc độ Tích Lan thì kinh thành Anurādhapura được xem là “vùng giữa”.

Trong thời Đức Phật, Trung Ấn được xem là “vùng giữa”, “vùng giữa” dài 300 dotuần, rộng 250 dotuần, có chu vi là 900 do tuần ([226]), bao gồm 14 trong 16 quốc độ đương thời, trừ quốc độ Gandhāra và Kamboja thuộc Bắc Ấn (Uttarāpatha).

Vùng Trung Ấn được xem như có “đời sống phạm hạnh và dân trí cao”([227]), là nơi xuất hiện nhiều bậc trí giả. Đức Phật cũng hiện khởi ở vùng này, đồng thời cũng là “vùng khởi lên những điều kỳ diệu” ([228]).

Cư dân vùng Trung Ấn rất quý thịt chim công ([229]).

Avantī là nơi sinh hoặc là nơi trú ngụ của các Trưởng lão  cùng các Thánh nữ danh tiếng như: Trưởng lão Mahā Kaccāna, Nandakumāraputta, Soṇa Kūṭikaṇṇa, Abhayarājakumāra (con vua BìnhSa với nàng kỹ nữ Padumavatī trong kinh thành Ujjenī), Trưởng lão Isidatta, Trưởng lão ni Isidāsī. Ngoài ra, Avantī còn có:

* Núi Ghanasela. Núi ở phía Nam quốc độ Avantī, thuộc Dakkhināpatha, trú xứ của đạo sĩ khổ hạnh Kāḷadevala ([230]).

* Thị trấn Makkarakaṭa. Đức Mahā Kaccāna trú ngụ ở một chòi lá trong rừng của vùng Makkarakaṭa. Những môn đệ của Bàlamôn Lohicca vu khống Đức Mahā Kaccāna, Bàlamôn Lohicca tìm đến vấn đạo Đức Mahā Kaccāna([231]). Sau khi nghe pháp, Bàlamôn chứng quả Dự Lưu, trở thành đệ tử của Tam Bảo.

Bản Sớ giải kinh Tương Ưng giải thích: “Makkarakaṭa là tên một thị trấn (nagara) trong vương quốc Avantī” ([232]).

*Làng Veḷu. Sinh quán của Trưởng lão Isidatta ([233]).

Đức vua Caṇḍa Pajjota là bạn thân của vua BìnhSa, khi hay vua AXàThế giết cha là vua BìnhSa để soán ngôi, có tin đồn vua Caṇḍa Pajjota chuẩn bị quân lực để tấn công xứ MaKiệtĐà, nhưng trận chiến không xảy ra ([234]).

Sau đó, trước khi triều đại Moriya (Khổng Tước) ra đời vào thời vua Candaguppa, vương quốc Avantī sát nhập vào xứ MaKiệtĐà.

Nhưng tên Avantī  vẫn giữ nguyên, chí ít tồn tại đến Thế kỷ thứ II tTl, như đã thấy trong Rudradāman ở Junagaḍh ([235]).

Sách Milindapañhā (Vua Milanda hỏi) cho rằng: Avantī là một trong ba “vùng lớn” (maṇḍala) của lãnh thổ Ấn cổ, hai “vùng lớn” kia là: Pācīna và Dakkhināpatha.

Bộ Sớ giải Phật Tông (Buddhavaṃsa – atthakathā) ghi nhận ([236]): “Ngọa cụ và thảm chùi chân của Đức Phật Gotama được tôn trí vào tháp thờ ở Avantī sau khi Đức Thế Tôn viên tịch ở kinh thành Kusinārā.

Một thời, vương quốc Avantī được xem là “nôi ngôn ngữ Pālī” hiện hành.  Có ý kiến cho rằng: “Những vị Trưởng lão môn đệ của Đức Mahā Kaccāna” đã thành lập nên “trường phái Avantī”.

Trường phái này đã phân tích, giải thích rộng “Phật ngôn” trong thời Đức Phật còn tại tiền ([237]), vì Đức Mahā Kaccāna được Đức Thế Tôn ban cho địa vị “Tối thắng về hạnh thuyết rộng Phật ngôn vắn tắt” ([238]).Tác giả của quyển “Văn phạm Pāli”, tập Nettipakaraṇa, tập Peṭakosadesa được quy cho Đức Mahā Kaccāna, hoặc đó là những tác phẩm của trường phái Avantī, nhưng lấy tên Đức Mahā Kaccāna là tác giả.

Trường phái Avantī sống tương đối biệt lập với “vùng Trung Ấn” d0 hainguyên nhân:

– Đường đi từ trung Ấn đến Avantī rất khó khăn.

– Các vị Trưởng lão này có khuynh hướng sống trong rừng, thực hành “hạnh Đầuđà” (dhutaṅga) ([239]).

Avantī là một trong những điểm mà 16 môn đệ của Bàlamôn Bāvarī đi  từ Patiṭthāna đến thành XáVệ để đến yết kiến Đức Phật.

Trong bổn sanh Citta- Sambhūta có ghi nhận: Bồtát có lần sinh ra trong một làng nô lệ là Caṇḍāla ở ngoại ô thành Ujjenī trong xứ Avantī, Đức vua trị vì xứ Avantī có tên là Avanti.

Khi ấy Bồtát có tên là Citta, con của người dì có tên là Sambhūta (tiền thân của Đức Ānanda)([240]), cả hai sống rất hòa hợp với nhau liên tiếp bốn kiếp sống.

Avantī hiện nay là phần lãnh thổ ở miền Bắc dãy Vindhaya và phía Đông bắc Bombay, đại khái là vùng đất Mālva, Nimār cùng các vùng phụ cận miền Trung Ấn ([241]).

* Kinh đô Ujjenī.

Trong Bổn sanh Citta-Sambhūta, Ujjenī được xem là “kinh đô của vương quốc Avantī”, nhưng trong Trường bộ kinh, bài kinh Đại Điển Tôn (MahāGovindattaṃ) thì Māhissati được xem là “kinh đô của vương quốc Avantī”. Có thể trước đó Māhissati là kinh đô trước tiên của vương quốc Avantī vào buồi tiên sơ, do vua Reṇu nhờ Bàlamôn Govinda phân chia một phần bảy lãnh thổ Ấn cổ cho vua Vessabhū, về sau hậu duệ của vua Vessabhū di đô sang nơi khác, thành lập nên kinh đô mới là Ujjenī.

Trong kinh Tiểu Tụng (Suttanipāta), phẩm “Con đường đến bờ kia” có mô tả “mười sáu môn đệ của Bàlamôn Bāvarī khởi hành từ Patiṭṭhāna trong vương quốc Assaka, đến Māhissaka trước rồi mới đến Ujjenī”.

Điều này cho thấy “có thể kinh thành Māhissati ở gần vương quốc Assaka, khi vương quốc Assaka cường mạnh, đã xua quân xâm lấn vương quốc Avantī. D0 vậy, các vị vua hậu duệ của vua Vessabhū đã di đô xabiên giới giữa hai nước Assaka và Avantī”.

Và Ujjenī trở thành kinh đô thứ hai của xứ Avantī.

Ujjenī được các nhà khảo cổ xác định ở trong khoảng  “77 độ Đông và 23 độ Bắc” ([242]).

Trị vì kinh thành Ujjenī trong thời Đức Phật là vua Caṇḍa Pajjota như đã nói ở trên.

Giữa vua Caṇḍa Pajjota  và vua BìnhSa có mối giao hảo rất tốt đẹp. Chính vua BìnhSa cử vị thần y Jīvaka của mình đến Ujjenī trị bệnh cho vua Caṇḍa Pajjota.

Giữa kinh thành Ujjenī và kinh thành BaLaNại của vương quốc Kāsi có con đường thương mại, đồng thời cũng là “con đường giao lưu văn hóa” (xem Nhạc sĩ Guttila ở phần sau).

Chính tại kinh thành Ujjenī, thiện nam tử Soṇa Kūtikaṇṇa gặp những “ma đói” (peta – ngạ quỷ), chứng kiến cảnh khổ của những chúng sinh này, làm kinh cảm tâm của thiên gia tử Soṇa Kūṭikaṇṇa, thúc đẩy tâm Ngài lìa bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình trong giáo pháp này (xem mẫu chuyện Ngài Soṇa Kūṭikaṇṇa ở phần sau).

Kinh thành Ujjenī là sinh quán của Đức Mahā Kaccāna ([243]), Thánh nữ ALaHán Isidāsī ([244]), vương tử Abhaya (con vua BìnhSa) ([245]), nàng kỹ nữ Padumavatī ([246]) mẹ của  vương tử Abhaya.

Trước khi lên ngôi ở Pāṭaliputta, vua Adục làm Phó vương cai trị xứ Avantī, nhiều năm ở kinh thành Ujjenī.

Đức Mahinda và bà Trưởng lão ni Saṅghamittā (con vua Aduc) sinh ra và lớn lên tại kinh thành này ([247]).

Trước khi sang Tích Lan để truyền giáo, Đức Mahinda đến kinh thành Ujjenī sống ở tự viện Dakkhiṇagiri vihāra sáu tháng, rồi Ngài đi đến thị trấn Vedisa ở tại tịnh xá Vedisagiri ([248]), nơi đây Đức Mahinda tế độ thân mẫu là Hoàng hậu Devī  chứng quả Dự Lưu, cận sự nam Daṇḍuka chứng quả ANaHàm (vị này là con của em gái Hoàng Hậu Devī), vị Thánh cư sĩ Daṇḍuka theo Đức Mahinda đến Tích Lan và xuất gia tại nơi ấy do Đức Mahinda là tế độ sư  ([249]).

Tịnh xá Dakkhiṇagiri (Dakkhiṇagirivihāra) vào ngày làm lễ xây dựng MahāThūpa có 40.000 vị Tỳkhưu tham dự do Đức Trưởng lão Saṅkharakkhita là vị trưởng đoàn ([250]).

* Kinh thành Māhissati.

Trong thời vua Reṇu, nước Ấn cổ được phân chia thành 7 phần, Māhissati là kinh đô  ban đầu của vương quốc Avantī.

Về sau Māhissati là kinh đô của miền Nam Avantī, Ujjenī là kinh đô miền Bắc Avantī.

Kinh đô Māhissati nằm trên con đường đi từ làng Godāvarī  của Bàlamôn Bāvarī đến Ujjenī.

Nhạc sĩ Guttila.

Duyên khởi.

Đức Đạo sư thuật lại câu chuyện tiền thân này do liên hệ đến sự kiện “Tôn giả ĐềBàĐạtĐa từ bỏ Đức Đạo Sư, đồng thời chống lại Đức Đạo sư của mình”.

Tương truyền thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành BaLaNại vương quốc Kāsi.

Bấy giờ Bồtát sinh vào một gia đình nhạc sĩ trong kinh thành BaLaNại, Ngài có tên là Guttila. Bồtát có nghệ thuật đánh đàn “7 dây” rất tuyệt hảo, Ngài không lấy vợ, chỉ sống đơn độc để phụng dưỡng cha mẹ đã mù lòa.

Một số thương nhân sống ở kinh thành BaLaNại thường đi đến kinh thành Ujjenī để buôn bán.

Một lần nọ trong thànhUjjenī có tổ chức lễ hội để vui chơi, nhạc sĩ trưởng ở kinh thành Ujjenī là Mūsila biểu diễn tài đánh đàn “7 dây của mình” trước thính chúng, nhưng các thương nhân xứ BaLaNại vẫn điềm nhiên. Ngạc nhiên, nhạc sĩ Mūsila hỏi các thương nhân:

– Này các ông, vì sao các ông không thích thú khi nghe tôi đánh đàn “7 dây”?

– Ồ! Ông đánh đàn đấy ư? Chúng tôi cứ ngỡ ông đang thử dây đàn đấy chứ?

– Các ông có biết nhạc trưởng nào giỏi như tôi không? Mà các ông lại nói như thế.

– Trong kinh thành BaLaNại, nhạc sĩ Guttila đánh đàn “7 dây” điêu luyện hơn ông nhiều. Tiếng đàn của ông so với tiếng đàn của nhạc sĩ Guttila chẳng khác nào tiếng hát ru “của bà mẹ ru con ngủ”. Nghe tiếng đàn của ông, chúng tôi chỉ muốn ngủ thôi.

Nghe vậy, nhạc trưởng Mūsila tức tối, tháp tùng với các thương nhân đến kinh thành BaLaNại, tìm đến nhà của nhạc sĩ Guttila.

Mūsila đi vào nhà của Bồtát, bấy giờ Bồtát đi vắng, chiếc đàn “7 dây” treo trên vách. Mūsila lấy đàn xuống, dạo một khúc nhạc, nghe tiếng đàn của Mūsila, cha mẹ Ngài Guttila ngỡ con chuột đang cắn phá dây đàn, nên lên tiếng “xua đuổi chuột”.

Mūsila đặt đàn xuống, chào hỏi ông bà, rồi hỏi rằng:

– Thưa ông bà, thầy Guttila có ở nhà không?

Cho là “đây là người đến học nghệ nơi Guttila”, nên ông bà trả lời.

– Con ta sẽ về trong ngày hôm nay, con hãy nán đợi.

Khi nhạc sĩ Guttila về nhà, Mūsila đến đảnh lễ Bồtát, rồi tỏ ý muốn học “nghệ thuật đánh đàn”. Bồtát là người tinh thông nhân tướng học, nhìn thấy tướng mạo của Mūsila Ngài suy nghĩ: “Người này có tướng phản trắc, là kẻ bạc ơn. Ta không nên truyền thụ nghệ thuật đánh đàn 7 dây đến y”.

Bồtát trả lời rằng:

– Này con, con đừng học nghệ thuật này, đó là điều tốt cho con”.

Và Bồtát đã từ chối nhiều lần trước lời van nài của Mūsila, nhưng Mūsila không nản lòng, xin ở lại tá túc nơi nhà của nhạc sĩ Guttila.

Mūsila cố gắng phục vụ cha mẹ của Bồtát như phục vụ cha mẹ của mình. Cảm động trước tấm lòng phục vụ của Mūsila, cha mẹ Bồtát khuyên Bồtát nên truyền nghệ thuật đánh đàn “7 dây” đến Mūsila.

Là người con chí hiếu nên Bồtát thu nhận Mūsila là đệ tử, Ngài tận truyền mọi kỹ năng cùng kỹ xảo trong nghệ thuật đánh đàn cho Mūsila.

Thời gian sau, Bồtát bảo:

– Này Mūsila con, nay con đã thành tài rồi.

Mūsila  suy nghĩ:

– Nay ta đã thành tài, kinh thành BaLaNại này là nơi trù phú, thịnh vượng, hơn hẵn kinh thành Ujjenī. Ta hãy ở lại nơi này để sinh sống.

Mūsila thưa với nhạc sĩ Guttila rằng:

– Thưa thầy, con muốn ở lại nơi này sinh sống, đồng thời có cơ hội phụng dưỡng thầy cùng với ông bà.

– Lành thay, này con.

Nhạc sĩ Guttila đưa Mūsila đi vào hoàng cung, đến Đức vua Brahmadatta, giới thiệu với Đức vua Brahmadatta rằng:

– Thưa Đại vương, đây là Mūsila đệ tử của tôi. Xin Đại vương hãy thu nhận Mūsila.

– Tốt thôi, này đại nhạc sư Guttila. Hãy để Musila phục vụ trong cung đình, ta sẽ cho Mūsila nửa số lương của đại nhạc sĩ.

Nghe vậy, Mūsila suy nghĩ: “Hiện giớ tài đánh đàn “7 dây” của ta không kém thầy Guttila, nếu không muốn nói là “điêu luyện” hơn. Ta không thể nhận số lương bằng nửa số lương của thầy Guttila”.

Mūsila thưa với vua Brahmadatta rằng:

– Thưa Đại vương, hãy trả lương con bằng lương của thầy Guttila.

– Này Mūsila, người là đệ tử của thầy Guttila, tài nghệ của ngươi làm sao bằng đại nhạc sư Guttila.

– Nếu Đại vương cho phép, con sẽ tranh tài cùng thầy Guttila, xem ai là người đánh đàn điêu luyện hơn.

– Này Mūsila, có thật ngươi muốn tranh tài cùng thầy mình chăng?

– Thưa Đại vương, thật như thế.

Đức vua hỏi nhạc sĩ Guttila rằng:

– Này Đại nhạc sư Guttila, người nghĩ thế nào?

Vì danh tiếng, Bồtát không thể từ khước cuộc tranh tài với Mūsila, Ngài đành nhận lời.

Đức vua ra thông báo: “Sau 7 ngày nữa, sẽ có cuộc tranh tài đánh đàn “7 dây” giữa Đại nhạc sư Guttila và nhạc sĩ Mūsila tại cung đình, chúng dân hãy đến thưởng thức tài đánh đàn “7 dây” của đại nhạc sư Guttila”.

Trở về nhà, Bồtát suy nghĩ: “Ta nay đã già, những ngón tay của ta không còn mềm dẻo như tuổi thanh niên, Mūsila đang ở độ tuổi thanh niên, tay mềm dẻo nhanh nhạy hơn ta.

Trong cuộc tranh tài này ta sẽ thua là điều không tránh khỏi, Ta không thể chịu đựng được danh tiếng bị tổn hại, vậy ta hãy tìm cái chết trước khi bị thua cuộc”.

Bồtát đi vào rừng vắng, tìm dây để tự treo cổ, nhưng rồi kinh sợ trước cái chết, Ngài trở về nhà. Khi về đến nhà, nghĩ đến sự ô nhục khi phải thua cuộc, Ngài lại muốn tìm đến cái chết, nhưng rồi vì sợ chết Ngài lại quay về nhà, cả năm ngày trải qua như thế, con đường đi vào rừng trở thành con đường mòn.

Đến ngày thứ sáu Bồtát quyết định”nhận lấy cái chết”.

Khi ấy ngai vàng của vua Trời ĐếThích nóng ran lên, vua Trời Đế Thích dùng thiên nhãn quán xét, hiểu rõ mọi việc, suy nghĩ: “Nhạc sĩ Guttila đang sầu khổ do người đệ tử bạc ơn. Ta hãy trợ giúp cho nhạc sĩ Guttila”.

Vua Trời ĐếThích rời khỏi thiên cung, xuất hiện trước nhạc sĩ Guttila, đứng giữa hư không hỏi:

– Này Ngài đại nhạc sư Guttila, vì sao Ngài đi vào rừng?

– Ông là ai?

– Ta là thiên vương ĐếThích.

Bồtát thuật lại mọi việc đến Thiên vương ĐếThích, nghe xong vua Trời ĐếThích nói rằng:

– Này đại nhạc sư, người hãy an tâm, ta sẽ trợ giúp cho Ngài. Khi Ngài gảy đàn, ta sẽ xuất ghiện giữa hư không chỉ có mình Ngài trông thấy, khi ta ra hiệu Ngài hãy bứt bỏ sợi dây đàn, nhưng tiếng đàn của Ngài vẫn phát ra từ nơi bị đứt ấy. Ngài sẽ đánh đàn với chiếc đàn “không dây”, tiếng đàn của Ngài sẽ réo rắt, du dương như khi còn đủ 7 dây.

Rồi Thiên vương ĐếThích trao cho Bồtát ba chiếc đủa dặn rằng:

– Khi tiếng đàn lan tỏa khắp kinh thành BaLaNại, Ngài hãy lần lượt ném lên không trung từng chiếc đủa, mỗi chiếc đủa sẽ có 300 thiên nữ xuất hiện múa hát theo tiếng đàn của Ngài.

Nghe vậy, Bồtát hân hoan, an tâm trở về nhà nghỉ ngơi.

Tại cung đình, một sảnh đường rộng được bày trí xinh đẹp, Đức vua ngồi ngự nơi cao, chung quanh là các Đại thần, Bàlamôn cùng cư dân trong thành BaLaNại đứng dày đặc.

Bồtát tắm rửa sạch sẽ, trang điểm xinh đẹp, thoa xức những vật thơm quý. Sau khi dùng vật thực thượng vị nơi cung đình, Ngài cầm chiếc đàn “7 dây” đến ngồi nơi dành riêng cho mình, Mūsila cũng tắm rửa, trang điểm xinh đẹp, thoa xức vật thơm nơi mình, sau khi dùng vật thực nơi cung đình xong, y cũng đến ngồi vào nơi dành riêng cho mình.

Thiên vương ĐếThích xuất hiện giữa hư không, chỉ riêng Bồtát trông thấy.

Đức vua Brahmadatta cho đánh trống ra hiệu “thi tài”.

Ban đầu tiếng đàn của hai người đều réo rắt, âm điệu du dương như nhau, thính chúng đồng vỗ tay  không ngớt để tán thưởng hai người.

Đức ĐếThích ra hiệu cho Bồtát, Ngài liền bứt bỏ một sợi dây, Mūsila kinh hoàng, nhưng cũng đành phải bứt bỏ một sợi dây, nhưng lúc bấy giờ tiếng đàn của Bồtát vẫn réo rắt, âm thanh vẫn du dương như trước, trái lại tiếng đàn của Mūsila đã giảm sút.

Lần lượt Bồtát bứt bỏ sợi dây thứ hai, tiếng đàn không hề thay đổi, Mūsila càng kinh sợ, nhưng cũng đành bứt bỏ sợi dây đàn thứ hai.

Sự hơn kém giữa hai tiếng đàn đã lộ rõ, thính chúng vỗ tay tán thán Bồtát không ngớt.

Sau một lúc, Bồtát lại bức bỏ sợi dây đàn thứ ba, tiếng đàn vẫn không thay đổi, Mūsila mặt đã tái xanh vì sợ nhưng cũng đành bứt bỏ  dây đàn thứ ba. Bấy giờ tiếng đàn của Mūsila chẳng ra chi cả.

Bồtát ném một chiếc đủa lên hư không, ba trăm tiên nữ hiện giữa hư không múa hát theo nhịp đàn thánh thót của Bồtát .

Bồtát lại bứt bỏ sợi dây thứ tư, thứ năm, âm thanh vẫn réo rắc như suối nguồn tuôn chảy không hề cạn, rồi chiếc đủa thứ hai được ném lên, ba trăm nàng tiên nữ lại xuất hiện.

Sáu trăm thiên nữ biểu diễn những thiên khúc hòa theo tiếng đàn của Bồtát, khiến toàn thể thính chúng ngẫn ngơ đển nổi quên cả vỗ tay tán thưởng.

Tiếp đến Bồtát bứt bỏ sợi dây thứ sáu, thứ 7, tiếng đàn từ chỗ đứt vẫn tuôn trào như khi còn đủ 7 dây.

Tiếng đàn “không dây” theo triều tâm hoan hỷ của Bồtát lên bổng xuống trầm, cuốn hút tâm thính chúng rơi vào “rừng âm thanh thù diệu” và chiếc đủa thứ ba được ném lên không trung.

Chín trăm nàng thiên nữ càng hân hoan thể hiện những vũ khúc cõi trời, thiên y lộng gió hòa quyện vào nhau như rừng hoa trời rực nở, thiên hương từ thân của 900 nàng thiên nữ quyện tỏa khắp kinh thành BaLaNại.

Từ Đức vua chí đến thường dân đều có cảm tưởng mình là “vị thiên nhân đang dự lễ hội chư thiên”, những bàn chân hồng như chân chim bồ câu lượn theo tiếng nhạc từ “chiếc đàn không dây”, khi nhanh khi chậm kết vào nhau như tấm màn nhung đỏ che kín cà vầng thái dương đang chiếu sáng. Tiếng đàn “không dây” dần dần cao vút lên bầu trời xanh thẳm rồi dừng lại.

Một lúc sau, thính chúng chợt tỉnh mộng thiên thần và cờ hoa, vải lụa, khăn hồng … từng đợt tung bay như trùng dương dậy sóng, tiếng vỗ tay vang lên từng đợt nhịp nhàng lan xa, xa, xa mãi.

Nhìn thấy Mūsila ngồi ủ rủ trên ghế, thính chúng la lên:

“Ngươi không biêt tự lượng sức mình, ngươi muốn thắng thầy mình được sao? Ngươi là kẻ vô ơn”.

Đức vua ra lịnh trục xuất Mūsila ra khỏi quốc độ, Mūsila hổ thẹn không dám nhìn một ai, y đi vào rừng và bỏ mình nơi ấy ([251]).

Vua Caṇḍa Pajjota.

Tương truyền, trong quá khứ tiền thân của vua Caṇḍa Pajjota là một người hầu của vị trưởng giả có quyền thế (issara) trong kinh thành Ujjenī.

Có vị Phật Độc giác đi vào kinh thành để tìm vật thực, Ma vương đã nhập vào dân thành để quấy nhiễu Đức Độc Giác, nên không ai đặt vào bát Ngài vật chi cả.

Đức Độc giác trở ra cổng thành với chiếc bát trống rỗng, Ma vương hóa ra một người nam, đứng trước cổng thành, hỏi Đức Độc Giác rằng:

– Bạch Ngài, Ngài có tìm được vật chi chăng?

Đức Độc Giác đưa trí quán xét, biết đó là Ma vương giả dạng, nên Ngài nói rằng:

– Này Ma vương, đây là việc làm của ngươi, vì sao ngươi khuấy rối ta như vậy?

– Bạch Ngài, xin Ngài hãy trở vào thành đi.

Nhưng Đức Phật Độc Giác thấu rõ ý của Ma vương là: “Nếu Ngài trở vào thành, Ma vương sẽ nhập vào dân thành vỗ tay cười chế giễu Ngài”.

Ngài đáp rằng:

– Này Ma vương, ý xấu xa của ngươi không thể thực hiện được đâu. Ta không đi vào thành.

Nghe vậy, Ma vương biết rằng: “Ngài đã biết ta rồi”, nên Ma vương biến mất tại chỗ.

Vào buổi sáng hôm ấy, vị trưởng giả quyền thế đi ra sông ở ngài thành tắm, tắm xong ông trở vào, đến cổng thành thấy Đức Độc Giác đang ôm bát đi ra. Vị trưởng giả đi đến đảnh lễ Ngài, bạch hỏi rằng:

– Kính bạch Ngài, chẳng hay Ngài có được vật thực chi chăng?

– Này gia chủ, ta sẽ được vật thực thôi.

Suy nghĩ đến câu trả lời của Đức Độc Giác, vị trưởng giả suy nghĩ: “Hẵn Ngài chưa có vật thực vậy”. Và vị trưởng giả xin phép Đức Độc Giác dỡ bát của Ngài , nhìn thấy bát trống không, vị trưởng giả muốn cúng dường vật thực đến Đức Độc Giác, nhưng e ngại vật thực dành cho mình “không biết người nhà đã chuẩn bị chưa”, nên tác bạch rằng:

– Kính bạch Ngài, xin Ngài hãy bước cách thong dong, thư thả.

Rồi trưởng giả đi nhanh về tư dinh, hỏi rằng: “Vật thực dành cho ta đã có chưa?”.

– Thưa chủ, tất cả đã sẵn sàng rồi.

Vị trưởng giả cho gọi người hầu đi nhanh nhất trong nhà, bảo rằng:

– Này con, con hãy đi nhanh, mang vật thực này đến cúng dường vị Samôn đang ở ngoài cổng thành. Phần phước này ta cho đến con tất cả.

Người hầu đi nhanh ra cổng thành, nhìn thấy Đức Độc Giác đang thong dong nhẹ bước. Người hầu đi đến đảnh lễ Đức Độc giác, rồi kính cẩn đặt vật thực vào bát, cúng dường đến Đức Độc Giác.

Sau khi cúng dường vật thực xong rồi, y đảnh lễ Đức Phật Độc Giác và nguyện rằng:

“Bạch Ngài, do phước báu con nhanh chóng mang vật thực đến cúng dường Ngài, xin cho con có được năm vật đở chân đi nhanh chóng mỗi ngày 50 dotuần, 60 dotuần, 100 dotuần và 120 dotuần.

Do phước báu con phải đi nhanh dưới ánh mặt trời sáng chói, xin cho con tái sinh lên cõi nào cũng được rực sáng như ánh thái dương chói sáng.

Do phước lành mà chủ con đã cho con, con xin đạt được an lạc pháp mà Ngài đã chứng đắc”.

Đức Độc Giác chúc phúc rằng:

“Icchitaṃ paṭṭhitaṃ tuyhaṃ; khippameva samijjhatu.

Sabbe pūrentu saṅkappā; cando paṇṇaraso yathā.

“Mong ước nguyện của người; nhanh chóng thành tựu như vậy.

Tất cả tầm cầu được tròn đủ, như ánh trăng đêm rằm”.

“Icchitaṃ paṭṭhitaṃ tuyhaṃ; khippameva samijjhatu.

Sabbe pūrentu saṅkappā; maṇi jotiraso yathā.

“Mong ước nguyện của người; nhanh chóng thành tựu như vậy.

Tất cả tầm cầu được tròn đủ; như ngọc Như ý (maṇi) rực sáng”.

Hai kệ ngôn chúc phúc này được truyền tụng cho đến hôm nay.

Người hầu ấy nay là Đức vua Caṇḍa Pajjopta, Đức vua có 5 con vật đi rất nhanh là: Con voi cái Bhaddā một ngày đi được 50 dotuần, người hầu Kāka một ngày đi được 60 dotuần, hai con thần mã là Celakaṇṭhī và Muñjakesī một ngày đi 100 dotuần và voi Nālāgiri một ngày đi được 120 dotuần.

Và sau này vua Pajjota thành Phật Độc Giác đúng theo lời ước nguyện.

Đức vua Caṇḍa Pajjota theo tục lệ của hệ Bàlamôn, thường tổ chức những tế đàn (thân phụ của Đức Mahā Kaccāna là vị tế sư của Đức vua, khi thân phụ qua đời, Đức  Mahā Kaccāna nối nghiệp cha ([252])) Đức Mahā Kaccāna khuyên Đức vua hãy bỏ tế đàn “ sát sinh ấy”.

Na parassuparidhāya; kammaṃ maccassa pāpakaṃ.

“Đừng tùy thuộc theo người;  thực hành điều ác sát hại.

Attanā taṃ  na seyya; kammabandhū hi mātiyā.

Điều không cao quý cho mình; thân quyến nghiệp chính thật mẹ sinh”.

Nghĩa là.

Đại vương đừng tin theo người khác, tạo nghiệp ác là sát sinh. Đó không phải là việc cao quý để ta thực hành, chính nghiệp là nơi sinh của ta, nghiệp là thân quyến của ta.

Na pare vacanā coro; na pare vacanā muni.

Lời người không thành kẻ cướp; lời người không thành ẩn sĩ.

Attā ca naṃ yathā vedi; devāpi naṃ tathāvidū

Tự hiểu biết lấy mình; như chư thiên tự biết.

Nghĩa là.

Không phải do lời người khác mà ta thành kẻ cướp, cũng không phải do lời người khác mà ta là bậc thánh thiện.

Tự mình hãy biết đó là điều “tốt hay xấu” rồi thực hành, như các thiên nhân “tự biết mình sinh về thiên giới do nghiệp lành nào”.

Pare ca na vijānanti; mayamettha yamāmase.

Người khác không hiểu biết;  ở đây tử vong đến với chúng ta.

Ye ca tatha vijānanti; tato sammanti medhagū”.

Người nào hiểu như thế; bậc trí được an tịnh.

Nghĩa là.

Người khác (chỉ cho người ngu) không hiểu rằng “ chúng ta đang đi đến sự tử vong”. Hiểu được điều này đó là bậc trí, nhờ đó tâm được an tịnh, cho dù làm lễ tế đàn, cũng không vì đó mà được “bất tử”.

Jīvate vāpi sappañño; api vitta parikkhayo.

Sống có trí tràn đầy; ít tài sản bị diệt.

Paññāya ca alābhena; vittavāpi na jīvati.

Không thành đạt trí tuệ; tài sản tràn đầy như không sống.

Nghĩa là.

Đời sống có trí tràn đầy như hồ nước (vāpi), cho dù tài sản bị hoại diệt chỉ còn chút ít (api). Nếu không có được trí tuệ, tài sản có tràn đầy như nước hồ, sự sống ấy không gọi là sống.

Đức vua Caṇḍa Pajjota nghe theo lời Trưởng lão Mahā Kaccāna, không còn làm lễ tế đàn, sát hại nhiều sinh vật nữa.

Một lần khác, vua Pajjota nằm ngủ thấy những ác mộng, ông đến hỏi Đức Mahā Kaccāna, Ngài dạy rằng:

Sabbaṃ sunāti sotena; sabbaṃ passati cakkhunā.

Với tai nghe tất cả; với mắt thấy tất cả.

Na ca diṭṭhaṃ sutaṃ dhīro; sabbaṃ ujjhitumarahāti.

Bậc trí không thấy không nghe; tất cả đều bỏ hết.                  

Nghĩa là.

Với những giấc mộng “lành hay dữ” người trí đều bỏ qua tất cả. Giống như người đang an trú tâm vào thiền tịnh, tuy có tai nghe tất cả, có mắt thấy tất cả, nhưng bậc đang thiền tịnh “không thấy cũng không nghe”.

Tức là: “Với những giấc mộng “lành hay dữ”, người trí luôn giữ tâm an tịnh, không hân hoan với “điềm lành”, không lo âu với “điềm dữ”.

Sự an tịnh tâm ấy nhằm mục đích diệt trừ tham – sân.

Cakkhumāssa yathā andho; sotava badhiro yathā

Có mắt như kẻ mù; có tai như người điếc.

Paññāvāssa yathā mūgo; balavā dubbaloriva”.

Có trí như kẻ ngu; có sức mạnh như kẻ yếu.

Attha atthe samuppanne; sayetha matasāyikan’ti.

Điềm lành dữ khởi lên; như kẻ chết nằm đang nằm.

Nghĩa là.

Bậc trí luôn “giữ gìn mắt và tai”, “gìn giữ ý”, không cho loạn động bởi “hạnh phúc hay đau khổ”, đối với những mộng dù lành hay dữ, bậc trí không quan tâm, ví như “kẻ chết đang nằm” không hề hay biết đến “lành hay dữ” an nhiên bất động, chẳng hân hoan khi người ta trang điểm xác chết xinh đẹp, thoa xức những nước hoa, cũng không buồn phiền nếu người khác ném vào xác chết những vật bẩn.

Từ đó Đức vua không còn quan tâm đến những “điềm mộng”, thường xuyên “giữ tâm”, không cho rơi vào “hung bạo” như trước.

Theo sách Samantapasādikā (Sớ giải Luật Tạng), một thiên nhân rờ vào rún mẹ Ngài, bà phát sinh phỉ lạc và thụ thai, sinh ra Pajjota ([253]).

Theo sách Dulva ([254]) Pajjota là con của Anantanemi và sanh cùng ngày với Đức Phật, được đặt tên là Pajjota (Pradyota) vì khi vừa sinh ra khỏi lòng mẹ, kinh thành Ujjenī rực sáng.

Pajjota làm lễ đăng quang, trị vì vương quốc Avantī vào ngày Đức Bồtát chứng quả Vô thượng Chánh giác ([255]).

Trong bổn sanh Sarabhaṅga Jātaka có nói đến một vì vua tên gọi Caṇḍapajotta trị vì Lambacūlaka, trú xứ của đạo sĩ khổ hạnh Sālissara.

Có thể  đó là một vì vua khác, cũng có thể là tiền thân của vua Pajjota hiện tại. Vương quốc Lambacūlaka trong thời Đức Phật chỉ là một vùng trong vương quốc Avantī .

Nữ cư sĩ Kātiyānī.

 Bà là một cận sự nữ được Đức Thế Tôn ban cho địa vị “tối thắng trong hàng nữ cận sự về niềm tin bất động (aveccappasāda)([256]).

Vào thời Đức Phật, bà sinh ra tại thị trấn Kuraraghara là bạn thân của bà Kāḷī Kuraraghara.

Một lần nọ, bà cùng bà Kāḷī đi nghe Đức Soṇa Kūṭikaṇṇa giảng pháp.

Trong lúc nghe pháp, bị 900 tên cướp xông vào cướp lấy tài vật, tên chúa đảng ở trong hội chúng để canh chừng bà Kātiyānī.

Người nữ hầu của bà Kātiyānī đến thông báo:

– Thưa bà, bọn cướp xông vào nhà, chúng đang cướp lấy tài sản, chúng đang khuân kho tiền.

– Này con, hãy để yên cho ta nghe pháp, bọn chúng muốn lấy gì thì cứ lấy tùy ý muốn bọn chúng.

Lần thứ hai, người nữ hầu đến báo:

– Thưa bà, bọn cướp đang lấy đến kho bạc.

– Này con, hãy để yên ta nghe pháp, bọn chúng muốn lấy gì thì cứ lấy tùy thích.

Lần thứ ba, người nữ hầu lại đến báo rằng:

– Thưa bà, bọn cướp lấy đến kho vàng rồi.

– Ta đã bảo hãy để yên ta nghe pháp, bọn chúng muốn lấy gì thì cứ lấy.

Sau khi nghe dứt thời pháp thoại của Đức Soṇa Kūṭikaṇṇa, bà Kātiyānī chứng quả Dự lưu.

Tên chánh đảng chứng kiến mọi sự diễn ra giữa người nữ hầu với bà Kātiyānī, suy nghĩ rằng:

– Bà gia chủ này chẳng màng tài sản, chỉ chú ý nghe pháp, như vậy Pháp là điều vi diệu, nên bà gia chủ này chẳng màng đến tài sản đang bị đánh cướp. Người này thật đáng kính trọng, ta không nên làm hại đến tài sản của bà và ta phải tìm hiểu giáo pháp này.

Hôm sau, bọn cướp đã mang trả tài sản đánh cướp hôm qua đến cho bà Kātiyānī, sám hối tội lỗi của mình với bà Kātiyānī, rồi thỉnh cầu bà hướng dẫn bọn chúng đến yết kiến Đức Soṇa Kūṭikaṇṇa.

Khi đến gặp Đức Soṇa nhóm 900 tên cướp đảnh lễ Ngài và xin được xuất gia trong Giáo pháp này.

Và 900 người trở thành Samôn, sau đó được Đức Mahā Kaccāna cho thọ giới Tỳkhưu, Đức Mahā Kaccāna phân thành 9 nhóm, mỗi nhóm 100 người dạy đề mục thiền quán đến chư Tỳkhưu ấy.

Khi duyên lành hội tụ, từ nơi Hương thất trong Tịnh xá KỳViên cách xa Kuraraghara 120 dotuần, Ngài phóng hào quang đến trước 9 nhóm Tỳkhưu, Ngài thuyết lên 9 kệ ngôn tế độ tất cả an trú vào Thánh quả ALaHán.

Trong Sớ giải kinh Pháp cú ([257]) cũng có mẫu chuyện tương tự như thế, nhưng ở đây lại là bà Kāḷī. Có sự trùng hợp hay là nhầm lẫn?

Dứt tập 2.

(Soạn xong vào ngày  2- 10- 2009, nhằm ngày 14-8 năm Kỷ Sữu).


([1])– DhpA. Kệ ngôn số 49.

([2])– DhpA. Kệ ngôn số 110.

([3])-. MA. i. 387 f.;  Ngài Pháp Hiển nói rằng khoảng cách giữa Gayā và Cội Bồ Đề khoảng 3, 5 dặm Anh. Sách Jinālaṇkāra Ṭīkā ghi nhận: Khoảng cách từ Bodhimaṇḍa đến Isipatana là 18 dotuần.

([4])– Chỉ cho “con đường giác ngộ, tự Ngài tìm ra không có thầy dạy”. Khi còn Bồtát, Ngài vẫn có những người thầy.

([5])– Chỉ cho những ai chưa chứng đắc Nípbàn.

([6])– UdA. 74, 75; SnA. i, 301.

([7])– ThagA. i. 388 f, 418; Thag. v. 287.  Trưởng lão Gayā Kassapa.

([8])–  E.g. Cunningham: AGI. 524; Bothlinck and Roth’s Dict. s.v. Phalgu; Neuman (Majh. N. Trans. i. 271) nói rằng làng Gayā được gọi là Phaggu.

([9])– SA. iii. 4; UdA. 74.

([10])– CAGI. 524 f. “Ba đại sĩ tóc bện”, chỉ cho ba Ngài: Uruvelā Kassapa, Nandī Kassapa và Gayā Kassapa.

([11])– S.i, 207. Tương ưng Dạxoa. Kinh Suciloma (Sucilomasuttaṃ); Sn. 47. Kinh Sūciloma.

([12])– Therī, 151. Nàng Cāpā .

([13])– MA.i, 389.

([14])– p. 393.

([15])– TherīA. 225.

([16])– S.i, 35.  S.i, 60. Tương ưng Thiên tử. Kinh Ghatikāra.

([17])– MA.i, 389.

([18])– S.i, 35. Tươn g ưng Phạm thiên (Brahmasam.yutta), kinh Ghatikāra.

([19])– Chúng tôi cố gắng tìm, nhưng chưa phát hiện tư liệu lịch sử  về những vấn đề này. Xin các bậc Đa văn hổ trợ cho phần sử liệu này được rõ ràng.

([20])– Therī, 151. Chuyện nàng Cāpā.

([21])– SA. i, 260.

([22])– Các học giả nghiên cứu Phật học cho rằng: “Bài kinh Chuyển Pháp Luân là bản tuyên ngôn đăng quang ngôi vị Pháp vương của Đức Thế Tôn”. Tuy bài kinh này được phổ biến rộng rãi, nhưng vì “Chuyển Pháp Luân” là bài kinh “khai mở cửa Bất tử”; bài kinh Vô ngã tướng dẫn ra khỏi luân hồi trọn vẹn, làm xuất hiện “Năm bậc Thánh Lậu tận trong Giáo pháp này”.

Nên chúng tôi ghi chép “hai bài kinh” quan trọng này. Chư độc giả hoan hỷ vậy – Ns.

([23])– Nương theo bản dịch của ĐĐ Nguyệt Thiên trong Luật Đại Phẩm I.

([24])– ĐĐ Nguyệt Thiên (d). Luật Đại Phẩm I, số 19.

([25])– S.v, 8. Tương ưng Đạo (Maggasaṃyuttaṃ), kinh  “Tỳkhưu khác thứ hai” (dutiya aññatarabhikkhusuttaṃ)

([26])– S.v, 425. Tương ưng sự thật (saccasaṃyutta). Kinh Uẩn (Khandhasuttaṃ)

([27])– S.v,433. Tương ưng sự thật (saccasaṃyuttaṃ). KinhALaHán (Arahantasuttaṃ).

([28])– S.v, 437. Tương ưng sự thật (saccasaṃyuttaṃ). KinhGavampati

([29])– Vsm. Chương I : Giải rộng về Giới, 14.

([30])– Một số sách giải thích: Tỳkhưu có ba nghĩa là: Khất sĩ (người đi xin ăn), bố ma (kinh sợ phiền não) và phá ác (tiêu diệt ác pháp).

([31])– Tỳkhưu Siêu Minh (d). Chú giải kinh Phật Tự thuyết (Udāna atthakathā); q.1, tr. 627.

([32])– Xem ĐĐ Nguyệt Thiên (d). Luật Đại PhẩmI. ChươngI. Trọng yếu.

([33])– Bản dịch của ĐĐ Nguyệt Thiên có thay đổi một số từ).

([34])– S.iii, 13. Năm mươi kinh căn bản. Kinh Thiền định.

([35])– ĐĐ Nguyệt Thiên (d). Luật Đại Phẩm II. Chương VIII. 138

([36])–  D.iii. Kinh Đại Diển Tôn (Mahā Govinda suttanta). Bàlamôn  Mahā Govinda là tiền thân của Đức Phật Gotama.

([37])– JA. v, 41; JA.iii, 304, 391.

([38])–  JA. iii, 487; DhA. 46.

([39])–  JA. i, 262.

([40])– ThagA. i. 151.

([41])– AA. i. 420.

([42])– SnA. i. 194.

([43])– A. iii. 391; UdA. 332.

([44])– J. i. 355.

([45])–  ĐĐ Nguyệt Thiên (d). Luật Đại phẩm II. Chương  IX. Campeyyakkhandhakam.

([46])– Luật Phân tích Tỳkhưu (tập I). Điều học Tăng tàng (Saṅghadisesa) thứ 13 .

([47])–  MA. ii. 668.

([48])– Kinh điển Bắc truyền gọi là “Lục quần Tỳ kheo”.

([49])– Sp. iii, 613.

([50])– Xem Mahādhammapāla Jātaka.

([51])– CAGI. 499 f.

([52])– Vin.i, 189.

([53])– DhpA. Kệ ngôn số 123.

([54])–  KhA. 198.

([55])_ VvA. Chuyện nhạc sĩ Guttila.

([56])–  Sp. i. 201.

([57])– Vin. i. 220.

([58])– MA. ii. 929.

([59])– D.iii. Kinh Đại Diển Tôn (Mahā Govinda suttanta). Bàlamôn  Mahā Govinda là tiền thân của Đức Phật Gotama.

([60])– J. iv. 377; J.vi. 160; MA. ii. 608.

([61])– Đức vua trong thời Đức Phật Kassapa còn tại tiền.

([62])– Xem chi tiết trong s.v. SNA về Khaggavisāna có đề cặp đến nhiều nhà vua trị vì Benares xuất thế và thành Phật Độc Giác.

([63])–  J. v. 84; J.vi. 165; DhA. i. 87.

([64])– J. i. 178.

([65])– J. ii. 403.

([66])– J. iii. 116.

([67])– D. iii. 75.

([68])– ĐĐ Nguyệt Thiên (d). Luật Đại phẩm II. Chương VIII, 133.

([69])– DhpA. Kệ ngôn số 182.

([70])–  M. ii. 158.

([71])– ĐĐ Nguyệt Thiên (d). Luật Đại phẩm II. Chương IX. Campā, 174.

([72])‑ D.iii, kinh Đại viên tịch (Mahāparinibbāna).

([73])– Mhv. Chương. xxix. 31..

([74])– MA. i. 387.

([75])– MA. ii. 1019; PsA. 437-8.

([76])– AA.i, 347.

([77])– Sn,6. Kinh Khaggavisānasutta).

([78])– M.iii, kinh “nuốt đạo sĩ”(Isigilisuttaṃ).

([79])

([80])– JA. iv, 367.

([81])– Đỉnh Everest  của dãy HyMãLạpSơn cao # 9.000m. Cây Mañjūsaka cao đến 16.000m, gần gấp đôi chiều cao đỉnh Everet, điều này thật khó hình dung. Chúng tôi viết ra theo đúng nguyên bản, sự nhận định tùy độc giả – Ns.

([82])– Là rễ cây cũng ra hoa khi thân cây ra hoa.

([83])– SnA.i, 52.

([84])– SnA.i, 66.

([85])– J.ii, 67; DhpA. Câu số 378.

([86])– DhpA. Ca6u so16 378.

([87])– Arch. Reports, i. p. 107.

([88])– ĐĐ Nguyệt Thiên (d). Luật Đại Phẩm II. Chương V. Da thú (Cammakkhandhakaṃ), số 11.

([89])– ĐĐ Nguyệt Thiên(d).Luật Đại Phẩm II. Chương VI. Dược phẩm, số 59.

([90])– DhpA. Câu số 155 – 156.

([91])– Bài kinh này cũng được ghi nhận trong Tương Ưng kinh III (S.iii, 66), Pañca sutta.

([92])– A.i, 100. Chương ba pháp. Kinh Người đóng xe.

([93])– S.i, 105. Tương ưng Ma vương (Mārasaṃyutta)

([94])– A.iii, 320. Chương 6 pháp. Kinh “Các thời gian”.

([95])– A.i, 279.Chương ba pháp, kinh “Thối nát”.

([96])–  A.īi, 399. Chương sáu pháp. Kinh “Con đường đến bờ kia”.

([97])– S.v, 406. Tương ưng Dự Lưu.

([98])– S.ii, 112. Tương ưng nhân duyên. Kinh Bó lau;  S. iii. 167. Năm mươi kinh căn bản. Kinh “Người giữ giới”; S. iv. 162. Kinh Koṭṭhit; S.iv, 384. Tương ưng Không thuyết.

([99])–  A. iii. 392. Chương sáupháp. Kinh Hatthisāriputta.

([100])– S.iii, 132. Phẩm Trưởng lão. Kinh Channa (có khả năng là Ngài Channa, người đồng sinh với Bồtát SĩĐạtTa).

([101])– Mhv. Chương xxix. 31.

([102])– Beal: Records of the Western Word, ii. 45 ff.

([103])The Divy. (389-94) nói rằng vua ADục tâm sự với Trưởng lão Upagupta ý muốn viếng những Phật tích và xây tháp ở đó.  Do đó, ông đến Lumbini, Bodhimūla, Isipatana, Migadāya, và Kusinagara (xem Rock Edict, viii).

([104])– A.i, 24. Chương một pháp. Phẩm người Tối thắng.

([105])– Xem thêm, B. Trần Phương Lan (d). Chuyện tiền thân Đức Phật. Nigrodhamigajātaka, số 12.

([106])– JA. Udapāna jātaka ( chuyện số 271).

([107])– TỳKhưu Siêu Minh (d). Lịch sử chư Phật. Nxb Tôn Giáo, năm 2007. tr. 728.

([108])– SnA.i, 197.

([109])– DA. iii, 967.

([110])– JA. Chaddantajātaka (chuyện số  514)

([111])– JA. Sīlavanāgajātaka (chuyện số 72)

([112])– JA. Mahākapijātaka (chuyện số 512).

([113])– JA. Vidhurapaṇḍitajātaka (chuyện số 545).

([114])– DhpA. Câu kệ số 149.

([115])– SnA.i, 199.

([116])– A .i, 47. Chương bốn pháp. Kinh Rohitassa (Rohitassasutta).

([117])– Dhs. Phẩm Nhị đề (Dutikā).

([118])– Sn. 97. Kinh Hemavata (Hemavata suttaṃ)

([119])– VvA.224.

([120])– VvA. 333.

([121])– M.i, 252; J.iv.4; DA.i, 264.

([122])– S.i, 54.

([123])– M.i, 386.

([124])Vemānikapeta . Là hạng “ma đói” nửa khổ , nửa lạc. Hạng “ma đói” này, basn ngày khổ như  “mađói”, ban đêm an lạc nhyư chư thiên, hoặc nửa tháng khổ như “ma đói”, nửa tháng hạnh phúc như chư thiên, Diêm vương cũng là hạng vemānikapeta này. Khi chứng quả Dự Lưu thì không còn khổ như loài “ma đói”, chỉ có hạnh phúc như chư thiên, Diêm vương khi chứng quả Dự Lưu thì không còn còn phải xuống địa ngục nữa.

([125])– JA. Chuyện số 539. Mahājanaka jātaka.

([126])Nāgarāja  thường được dịch là Long vương.

([127])– ĐĐ Thiện Phúc (d). Chú giải “Người và cõi”. Giải về loài rồng; S.iii, 240. Tương ưng rồng (nāgasaṃyutta).

([128])– S.iii, 249, Tương ưng CànThátBà (Gandhabbasaṃyuttaṃ). Kinh Chủng loại.

ĐĐ Thiện Phúc (d). Chú giải “người và cõi”. Giải về Tứ Đại vương.

([129])– D.ii, 212.

([130])– A.iv, 200. Chương 8 pháp, kinh Atula Pahārāda (AsuraPahārādasuttaṃ)

([131])– D.iii, Kinh ĐếThích hỏi đạo (Sakkapañhāsuttaṃ).

([132]) – A.ii, 39; AA.ii, 508.

([133])– MA.i, 481.

([134])– JA. Câu chuyện số 547. (Vessantarajaataka).

([135])– JA. Câu chuyện số 540. Sāmajātaka.

([136])– DhpA. Câu  số 48.

([137])– D.iii, kinh ĐếThích hỏi đạo (Sakkapañhāsuttaṃ)

([138])– DA. iii, 699.

([139])– DA.ii, 647.

([140])– DA.i, 296. Xem thêm JA. vi. 496 nói đến một tên bội phản bị cạo đầu năm chòm.

([141])– D.iii, Javanasabhasuttaṃ.

([142])– SA.i, 171.

([143])– DA.ii, 650.

([144])– DhpA. Câu số 30.

([145])– Xem JA.i, 206; JA.iv, 180; JA.v, 412.

([146])– JA. iv, 69.

([147])– DhpA. Câu số

([148])– A.ii, 38.

([149])–  PvA. 45, 55.

([150])– PvA. 113, 139.

([151])– Pv. Ii, 9; JA. vi. 118.

([152])– S.i, 206. Tương ưng dạxoa ( Yakkhasaṃyutta).

([153])– S.i, 207.

([154])–  SnA. i, 222.

([155])– Mhv.

([156])– JA. iv, 459; v, 34.

([157])– ThagA. Trưởng lão Bhūta.

([158])– ThagA. Trưởng lão Sappaka.

([159])– ThagA. 518, 26.

([160])– Ap.i, 113.

([161])–  ThagA. i. 128; SA. iii. 195.

([162])– S.i, 54. Tương ưng Thiên tử.

([163])– S.v, 73.

([164]) -A. iv. 427-8.

([165])– S.v, 219.

([166])– JA.i, 308.

([167])– Sn. 158.

([168])– Thag. Trưởng lão Jambugāmika.

([169])– ThagA. i, 104; Thag. v. 38.

([170])– ThagA. i, 127.

([171])–  Thig. v. 145-50.

([172])– JA. iv, 402.

([173])– JA. Câu chuyện số 1: Bổn sanh Pháp tối thượng (Apaṇṇakajātaka).

([174])– DhpA .Câu số 416.

([175])– UdA. 67.

([176]) – VbhA. 333.

([177])– D.i, kinh Amabaṭṭhika.

([178])– M.i. Saccaka Tiểu kinh.

([179])– DA. i. 264; MA. i. 457.

([180])– Đây là hạng “ma đói” (peta), ban ngay khổ như ngạ quỷ, ban đêm hạnh phúc như chư thiên; hoặc nửa tháng khổ như “ma đói”, nửa tháng thì an lạc như chư thiên – Ns.

([181])– S. i. 210 f.; SA. i. 239

([182])– S.i, 200. Tương ưng Dạxoa (Yakkhasaṃyutta).

([183])– DA. i, 370.

([184])– Mhv. Chương VII.

([185]) – SnA.i, 305.

([186])– JA.  Pañcāvudha Jātaka.

([187])– DhpA. Câu số  416.

([188])– Luật phân tích Tỳkhưu I.

([189])–  Ḍ.iv, Ātānātiyasuttaṃ

([190])– JA. Chuyện số 545. Vidhurapaṇḍitajātaka.

([191])– Trong bộ Thập Độ do Đức Hộ Tông soan dịch, thì kiếp trước dạxoa Puṇṇaka có tên là Anolo, nhưng trong bản dịch của B. Trần Phương Lan: Chuyện tiền thân thì không thấy nêu ra tên này.

([192])– SA.i, 252.

([193])– D.ii, 257.

([194])–  DA. ii. 686; iii. 970.

([195])–  M.i, 201.

([196])– MA.i, 431.

([197])– S.i, 219.

([198])– D.ii, 244.

([199])– SA.i, 262.

([200]) -ThagA. i. 84 f.  Kệ Trưởng lão Lomasakaṅgiya.

([201])– MA. ii, 961.

([202])– Ấn độ cố, nhất là dòng Thích Ca thường  dùng cỏ Muñja là biểu tượng cho sự  “dũng mãnh”, chỉ có tiến chứ không lui  bước, các chiến sĩ dòng Thích Ca thường treo “cỏ muñja  trước đầu ngựa” mỗi khi đi vào trận chiến –Ns.

([203])– M.iii, Lomasakaṅgiyabhaddekarattasuttaṃ)

([204])– ThagA. i. 84; Ap. ii. 504; cf. Ap. ii. 450.

([205])–  S.i, 53.

([206])– S.iv, 280.

([207])-  A.i, 20.

([208])– AA.i, 245.

([209])– A.v, 46.Chương 10 pháp. Kinh Kāḷī (Kāḷī suttaṃ).

([210])– D.ii, 235.

([211])–  Bhandārkar; Carmichael Lectures (1918), p. 54.

([212])– Mahābhārata ii. 31, 10.

([213])– Bàlamôn Govinda là tiền thân của Đức Phật CồĐàm.

([214])– D.iii, kinh Đại Điển Tôn ( Mahā Govinda suttaṃ).

([215])–  JA. v. 317.

([216])– Law, Early Geography, 21.

([217])– JA.iii, 3-5.

([218])– Vin.i, 195.

([219])– ThagA.i, 485.

([220])– S. iii. 9, 12; S. iv. 115-16; A.v, 46; xem thêm UdA. 307.

([221])– UdA. Chương V, Soṇa. 307.

([222])– Vin. i. 195.

([223])– Vin. iii. 195-6.

([224])– Vin. ii. 298-9.

([225])Baudhāyana i. 1, 2, 9, etc.

([226]) – DA.i, 173.

([227])– JA. iii, 115 – 116.

([228])– SnA. i, 197.

([229])– VbA.10.

([230])– JA.v, 133.

([231])– S.iv, 116.Tương ưng sáu xứ

([232])– SA.iii, 29.

([233])– ThagA.i, 238.

([234])– M.iii, 7.

([235])– Buddhist India, p. 28.

([236])– BuA. Chương XX VIII, 10. Lịch sử Đức Phật CồĐàm.

([237])– Bud. India, pp. 153-4.

([238])– A.i, 26. Chương một pháp. Phẩm người Tối thắng.

([239])– Vin. ii. 299.

([240])– JA. Citta-sambhūtajātaka. Chuyện số 498.

([241])– Law: Geography of Early Buddhism, p. 22.

([242])– BuddhaIndia, p. 40; xem thêm CAGI. 560, và Beal: Records of the Western Word, (ii. 270).

([243]) -ThagA. i. 483. Chương 8. Trưởng lão Mahā Kaccāna.

([244])– Thig. v. 405. Phẩm 15. Trưởng lão ni Isidāsī.

([245])–  ThagA. 41. chương một kệ, phẩm ba. Trưởng lão Abhaya.

([246])– ThigA. Phẩm 2 kệ. Mẹ Abhaya.

([247]) – Mhv. Chương XIII, 8.

([248])– Mhv. Chương XIII.

([249])– Mhv. Chương XIV.

([250])– Mhv. Chương XXIX 35.

([251])– Xem thêm JA. Guttilajātaka. Chuyện số 243.

([252])– ThagA. Trưởng lão Mahā Kaccāna.

([253])– Sp. i. 214.

([254])–  Rockhill, op. cit. 17.

([255])–  Rockhill, op. cit.32, n. 1.

([256])– A.i, 26. Chương một pháp. Phẩm người tối thắng.

([257])– DhpA. Câu kệ số 368 -376.

– trang trước –

Advertisements