Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (10 – III – Lịch sử chư Phật)

III- Lịch sử chư Phật.

*Đức Thế Tôn giảng pháp.

Đức Thế Tôn có bốn cách thuyết giảng.

a- Dựa theo kinh nghiệm bản thân.

b- Dựa theo khuynh hướng của người.

c- Dựa theo câu hỏi được đặt ra.

d- Dựa theo nhu cầu khởi lên.

*Dựa theo kinh nghiệm bản thân.

Là những bài pháp Đức Thế Tôn thuyết giảng dựa trên kinh nghiệm của Ngài, không có người đặt ra câu hỏi.

Như Đức Thế Tôn thuyết bài Ākaṅkheyyasutta (Kinh Ước nguyện)([1]), tóm lược như sau: Phải thành tựu giới hạnh qua sự thọ trì Giới bổn (Pāṭimokkha) mới mong được các vị đồng phạm hạnh kính mến, được thọ nhận tứ sự, chứng đắc thiền định, các loại thắng trí, chứng Thánh quả Alahán.

Kinh Ước nguyện là một Pháp thoại do Đức Thế Tôn tự thuyết (attano ajjhaasayen’eva)([2])..

Hoặc như Vatthusuttā (kinh Sự vật), có hai phần:

– Mười nguyên nhân phát sinh hiềm hận.

– Mười cách nhiếp phục hiềm hận([3]).

*Dựa theo khuynh hướnng của người khác.

Đức Thế Tôn quán xét thấy rõ khuynh hướng của tâm, cùng với duyên lành dẫn đến giác ngộ của người khác. Ngài thuyết lên pháp thoại thích hợp, dẫn tâm vị ấy chứng đắc Thánh quả.

Như trường hợp Đức Thế Tôn quán xét thấy rằng: “Nơi Rāhula tư tưởng kiêu mạn về thân tướng khởi lên”, Đức Thế Tôn dạy Tôn giả Rāhula quán xét về tất cả sắc không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta, các uẩn còn lại cũng như vậy.

Và Đức Thế Tôn thuyết lên Mahārāhulovādasutta (Đại kinh Giáo giới Rāhula)([4]). Theo bản Sớ giải, khi ấy Tôn giả Rāhula được 18 tuổi, sau khi nghe xong bài kinh này, Tôn giả Rāhula chứng Thánh quả Alahán.

Hoặc như kinh Chuyển pháp luân, Đức Thế Tôn thấy khuynh hướng khổ hạnh và tiềm năng đạo quả của Ngài Koṇḍañña (KiềuTrầnNhư).

c- Dựa theo câu hỏi được đặt ra.

Là các vị thiên nhân hoặc nhân loại hỏi pháp Đức Thế Tôn, như trong Devatāsaṃyutta (Tương ưng chư thiên)([5]), Bojjhaṅgasaṃyutta (Tương ưng Giác chi)([6])

c- Dựa theo nhu cầu.

Như kinh Thừa tự pháp (Dhammadāyādasutta)([7]), Ẩn dụ về thịt đứa con([8]), kinh Bổn sự (Jātaka) …

Lịch sử Chư Phật được Đức Thế Tôn thuyết giảng do dựa vào câu hỏi của Ngài Sāriputta.

Đức Sāriputta bạch hỏi Đức Thế Tôn về lịch sử chư Phật.

Đức Thế Tôn giảng cho Ngài Sāriputta cùng 500 vị Thánh Alahán về Phật sử (Buddhavaṃsa) với 950 kệ ngôi, khởi đầu là kệ ngôn:

Kappe ca satasahasse; caturo ca asaṅkhiye.

Amaraṃ nāma nagaraṃ; dassaneyyaṃ manoramaṃ.

“Một trăm ngàn kiếp (trái đất), và bốn atăngkỳ.

Thành tên Amara; rất xinh xắn đáng nhìn”([9]).

Tức là Đức Thế Tôn chỉ nói lịch sử chư Phật kể từkhi Ngài được Đức Phật thọ ký lần đầu tiên cho đến khi Ngài chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

Trước tiên chúng ta tìm hiểu một số ý nghĩ về danh từ Buddha.

*Buddha (PhậtĐà).

Buddha là danh hiệu chung (không  phải là tên riêng) chỉ cho bậc đã giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, bậc tối thượng của người và chư thiên, là vị thông suốt pháp dẫn đến giải thoát. Như có câu giải tự sau đây:

Vimokkhantikaṃ etaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle … :

“Đã giải thoát đó là vị Phật, Đức Thế Tôn là cội nguồn giác ngộ …”([10]) .

Kinh điển đề cập đến hai bậc Phật:

– Sammāsambuddha(Phậc Chánh đẳng giác).

Là vị tự mình Giác ngộ và dạy chúng sinh khác đạt đến giác ngộ.

– Paccekabuddha (Phật Độc Giác).

Là vị tự mình giác ngộ, nhưng không thể dạy chúng sinh khác giác ngộ được.

Các bản Sớ giải nêu ra bốn bậc Phật:

– Phật Toàn giác (Sabbaññū buddha).

– Phật Độc giác (Pacceka buddha).

– Các vị Thánh Alahán gọi là Catusacca buddha (Phật Tứ đế). Là những bậc thông suốt và chứng đạt bốn sự thật.

– Phật Đa văn (Bahusuta buddha). Là các vị Thánh hữu học (Sekkhā)([11]).

Kinh Trường bộ ghi nhận 7 vị Phật Toàn giác, đó là: Đức Phật Vipassī, Đức Phật Sikhī, Đức Phật Vessabhū, Đức Phật Kakusandha, Đức Phật Koṇāgamana, Đức Phật Kassapa và Đức Phật Gotama([12]).

Kinh Buddhavaṃsa có nêu thêm 18 vị Phật quá khứ trước  7 vị Phật kể trên, đó là: Đức Phật Dīpaṅkara, Koṇḍañña, Maṅgala, Sumana, Revata, Sobhita, Anomadassī, Paduma, Nārada, Padumuttara, Sumedha, Sujāta, Piyadassī,  Atthadassī, Dhammadassī, Siddhattha, Tissa, và Phussa.

Bản Sớ giải Lịch sử chư Phật (Buddhavaṃsa – Atthakathā) có nhắc đến ba vị Phật trước đó là: Đức Phật Taṅhaṅkara, Medhaṅkara và Saranaṅkara.

Sách Latitavistara (Phổ Diệu kinh) có bản danh sách gồm 54 vị Phật; sách Mahāvastu (Đại sự) liệt kê trên 100 vị Phật,

Kinh Chuyển Luân sư tử hống (Cakkavatti  sīhanāda sutta) có đề cập đến vị Chánh giác tương lai trong hiền kiếp nàylà Đức Phật Metteyya(DiLặc)([13]).

Bộ Anāgatavaṃsa (Vị lai sử) có mô tả chi tiết về Đức Phật Metteyya, ngoài ra sách còn đề cập đến 9 vị Chánh giác khác do Đức Phật Gotama thọ ký, đó là: Uttama, Rāma, Pasenadi Kosala, Abhibhū, Dīghasoṇī, Saṅkassa, Subha, Todeyya, Nāḷāgiri.

Chư Phật Chánh giác có 30 điều giống nhau gọi là 30 thông lệ chư Phật([14]), có 8 điều khác biệt nhau([15]) (aṭṭhavemattāni).

*Tám điều khác biệt (vematta).

1- Tuổi thọ (āyu).

Một số vị Chánh giác có tuổi thọ dài, một số vị có tuổi thọ ngắn, như:

– Chín vị Chánh giác có tuổi thọ 100 ngàn năm là: Đức Phật Dīpaṅkara, Koṇḍañña, Anomadassī, Paduma, Padumuttara, Atthadassī, Dhammadassī, Siddhattha và Tissa.

– Tám vị Chánh giác có tuổi thọ 90 ngàn năm là: Đức Phật Maṅgala, Sumana, Sobhita, Nārada, Sumeda, Sujāta, Piyadassī và Phussa.

– Đức Phật Vipassī có tuổi thọ 80 ngàn năm.

– Đức PhậtSikhī có tuổi thọ là 70 ngàn năm.

-Hai vị Chánh giác có tuổi thọ 60 ngàn: Đức Phật Revata và Vessabhū.

– Đức Phật Kakusandha có tuổi thọ 40 ngàn năm.

– Đức Phật Koṇāgamana có tuổi thọ 30 ngàn năm.

– Đức Phật Kassapa có tuổi thọ 20 ngàn năm.

– Đức Phật Gotama có tuổi thọ khoảng 100 năm.

Hỏi. Vì sao chư Phật Chánh giác có thọ mạng khác nhau như vậy?

Đáp. Tuy chư Phật Chánh giác thành tựu các ân đức như nhau, nhưng thời xuất hiện của các Ngài khác nhau, nên tuổi thọ cũng khác nhau.

Thời tuổi thọ chúng sinh lại tùy thuộc vào việc thực hành thiện pháp hay không thực hành thiện pháp.

Thời nào chúng sinh thực hành thiện pháp, thì tuổi thọ gia tăng, thời nào chúng sinh không thực hành thiện pháp tuổi thọ giảm.

Lại nữa, khi vị vua cai trị quốc độ theo pháp, dân chúng sẽ noi gương đức vua thực hành thiện pháp, khi ấy các vị thiên nhân có phận sự làm mưa sẽ hân hoan, không dãi đãi trong phận sự, khiến mưa thuận gió hòa, mùa màng sung mãn, trái cây chứa nhiều dưỡng tố nên tuổi thọ loài người gia tăng; trái lại nếu vị vua theo ác pháp, dân chúng cũng noi gương thực hành ác pháp, chư thiên không hoan hỷ, chư thiên có phận sự làm mưa sẽ trể nãi phận sự, khiến mưa gió thất thường, mùa màng không sung mãn, trái cây thiếu dưỡng tố, do đó tuổi thọ con người bị giảm.

Ví như gỗ quý có khả năng sống một ngàn năm, nhưng hạt giống của nó được gieo trồng nơi đất xấu thì cây gỗ ấy không thể sống được một ngàn năm, vì sao? Vì dưỡng tố trong đất khô cằn không đủ sức nuôi dưỡng nó.

Tuy ân đức các vị Chánh giác như nhau, nhưng vì xuất hiện vào thời kỳ khác nhau (ví như gỗ trồng nơi đất thiếu mầu mở hay đất khô cằn) nên tuổi thọ khác nhau.

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn Gotama không hiện khởi trong thời có tuổi thọ 10 ngàn năm hay 5 ngàn năm?

Đáp. Không thể được, vì khi ấy pháp Balamật của Ngài chưa viên mãn cũng như chưa thuần thục, pháp Balamật của Ngài chỉ viên mãn và thuần thục vào kiếp Ngài là Bồtát Vessantara, khi ấy chúng sinh có tuổi thọ là 100 tuổi.

Cho dù vị Bồtát Gotama có xuất hiện vào thời chúng sinh có tuổi thọ là 10 ngàn năm, hay 5 ngàn năm Ngài cũng không thể chứng Vô thượng Chánh giác được.

Cho dù vào thời kỳ thành tựu được Vô thượng Chánh giác, nhưng nếu không đủ năm điều quán xét trước khi giáng sinh vào thai bào, như người mẹ hay cha không có nguyện vọng là “mẹ cha Bồtát Chánh giác kiếp chót”.

Cho dù có người nữ có nguyện vọng là “mẹ Bồtát kiếp chót”, khi ấy người nữ này không có giới hạnh, Bồtát cũng không giáng sinh vào lòng mẹ để trở thành Bậc Chánh giác. Có Phật ngôn sau:

182-Kiccho manussapaṭilābho; kicchaṃ maccāna jīvitaṃ.

Kicchaṃ saddhammassavanaṃ; kiccho buddhānamuppādo.

“Được làm người là khó; mạng sống chúng sinh là khó.

 Lãnh hội (nghe) diệu pháp là khó;  Đức Phật hiện khởi là khó”([16]).

2- Chiều cao (pamāṇa)([17]).

– Đức Phật Sumana cao 90 hắc tay.

– Bốn vị Chánh giác: Đức Phật Koṇḍañña, Maṅgala, Nārada  và Sumedha cao 88 hắc tay.

– Sáu vị Chánh giác: Đức Phật Dīpaṅkara, Revata, Piyadassī, Atthadassī, Dhammadassī và Vipassī cao 80 hắc tay.

– Đức Phật Sikhī cao 70 hắc tay.

– Ba vị Chánh giác là: Đức Phật Siddhattha, Tissa và Vessabhū cao 60 hắc tay.

– Năm vị Chánh giác là: Đức Phật Sobhita, Anomadassī, Paduma, Padumuttara và Phussa cao 58 hắc tay.

– Đức Phật Sujāta cao 50 hắc tay.

– Đức Phật Kakusandha cao 40 hắc tay.

– Đức Phật Konāgamana cao 30 hắc tay.

– Đức Phật Kasspa cao 20 hắc tay.

– Đức Phật Gotama cao 16 hay 18 hắc tay.

Tuy một số vị Chánh giác có thân tướng cao, một số có thân tướng thấp,  nhưng không thể dựa vào tuổi thọ để có chiều cao sai biệt nhau.

 Điều này không có gì lạ, vì tuy cùng tuổi thọ nhưng các Ngài xuất hiện vào “nhánh giảm”([18]) khác nhau nên chiều cao khác nhau.

Ngay cả khi sinh cùng thời, chiều cao cũng khác nhau, như Ngài Nanda (em của Đức Thế Tôn, con bà Pajāpaṭi Gotamī) thấp hơn Đức Thế Tôn là bốn ngón tay (theo chiều đứng), Ngài Bhaddiya là người lùn …

Vấn đề này được giải thích là: “Do ảnh hưởng vật thực và thời tiết”.

Khi người cai trị quốc độ không chân chính thì khí hậu thay đổi bất thường, vật thực thiếu chất dinh dưỡng, nên thân chúng sinh không phát triển đúng mức; trái lại thì mưa gió thuận hòa, vật thực có nhiều dưỡng tố, thân chúng sinh phát triển đúng mức.

3- Giai cấp (kula).

Một số vi Chánh giác thuộc giai cấp Bàlamôn, một số vị thuộc giai cấp Sátđếlỵ (Khattiya) chỉ có hai giai cấp này thôi. Như là:

– Ba vị Chánh giác: Đức Phật Kakusandha, Koṇāgamana và Kassapa thuộc giai cấp Bàlamôn.

– Hai mươi hai vị Chánh giác còn lại (ngoài 3 vị Chánh giác Taṅhaṅkara, Medhaṅkara và Saranaṅkara) thuộc giai cấp Sátđếlỵ (Khattiya).

4- Thời gian khổ hạnh (kāla duccariya).

Bồtát Chánh giác trước khi chứng Vô thượng Chánh giác đều phải thực hành khổ hạnh. Tùy theo phước hạnh mà thời gian khổ hạnh của các Ngài khác nhau([19]).

-Bảy vị Chánh giác: Đức Phật Dīpaṅkara, Koṇḍañña, Sumana, Anomadassī , Sujāta([20]),, Siddhattha và Kakusandha([21]), khổ hạnh mười tháng.

-Bốn vị Chánh giác: Đức Phật Maṅgala, Sumedha, Tissa và Sikhī, khổ hạnh tám tháng .

– Đức Phật Revata khổ hạnh bảy tháng .

– Bốn vị Chánh giác: Đức Phật Piyadasī, Phussa, Vessabhū, và Koṇāgamana, khổ hạnh sáu tháng.

– Đức Phật Sobhita([22]) khổ hạnh bốn tháng.

– Ba vị Chánh giác: Đức Phật Paduma, Atthadassī, Vipassī, khổ hạnh một tháng 15 ngày.

– Bốn vị Chánh giác: Đức Phật Nārada, Padumuttara, Dhammadassī và Kassapa, khổ hạnh 7 ngày .

– Đức Phật Gotama khổ hạnh 6 năm.

 Sự sai biệt thời gian khổ hạnh  là do nghiệp xem thường pháp hay khinh thường bậc đáng kính trọng trong quá khứ của các Ngài, như tiền thân của Bồtát Gotama là Jotipāla đã nói: “Ồ ! Ông Samôn trọc đầu ấy (chỉ Đức Phật Kassapa) có pháp gì để thuyết giảng”, tuy về sau Bồtát Jotipāla xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật Kassapa, tinh cần hành pháp, nhưng Ngài vẫn phải thực hành khổ hạnh 6 năm là do quả còn dư sót của nghiệp từ lời nói này.

Những vị Chánh giác chỉ thực hành khổ hạnh 7 ngày, đó là do quy luật phải thực hành khổ hạnh mới chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

Tuy thời gian thực hành khổ hạnh khác nhau, nhưng khi thành tựu Vô thượng Chánh giác rồi thì các uy lực cũng như ân đức đều như nhau.

Ví như người thông minh không cần phải nỗ lực nhiều, người kém thông minh hơn phải nỗ lực nhiều với thời gian dài hơn. Nhưng khi thành đạt thì ngang bằng nhau.

5- Hào quang (osābha).

Như Đức Phật Maṅgala có hào quang chiếu sáng khắp 10 ngànthế giới một cách tự nhiên, còn Đức Phật Gotama có hào quang chiếu sáng tự nhiên là một sải tay([23]).

Ngoài ra còn có:

– Hào quang Đức Phật Padumuttara chiếu sáng khoảng 12 dotuần.

– Hào quang Đức Phật Vipassī chiếu sáng khoảng 7 dotuần.

– Hào quang Đức Phật Sikhī chiếu sáng khoảng 3 dotuần.

– Hào quang Đức Phật Kassapa chiếu sáng khoảng 10 dotuần.

Các vị Chánh giác khác chưa xác định chính xác.

Hào quang của chư Phật Chánh giác từ thân tỏa ra, sai biệt nhau là do ước ngyện của Ngài khi còn là Bồtát thực hành 30 pháp Balamật, khi tạo một bố thí đặc biệt.

Bồtát ước nguyện hào quang tỏa ra từ thân như thế nào, khi thành bậc Chánh giác, hào quang sẽ thành tựu như ước nguyện, tỏa ra từ thân một cách tự nhiên. Các vị Chánh giác đều có năng lực chiếu sáng hào quang đến xa bao nhiêu được như ý, nhưng đây là loại hào quang do quyết định không phải là hào quang tự nhiên phát sinh do ước nguyện.

*Ba  loại hào quang.

a- Hào quang từ thân (byāmappabhā).

Là loại hào quang phát sinh từ thân một cách tự nhiên, như Đức Thế Tôn có hào quang từ thân tỏa ra là một sải tay (# 2m), dày đặc đến nổi người ta khó thấy được thân Đức Phật, khi nhìn từ xa khoảng cách độ 3-4 m, người ta ngở là một quả cầu sáng rực rở.

Nếu muốn, Đức Chánh giác che dấu hào quang này.

b- Hào quang chiếu ra 80 hắc tay (asītiniccalobhāsa).

Cũng là hào quang từ thân, nhưng tia hào quang phóng ra tự nhiên là 80 sải tay. Như người chú ý kỹ bóng đèn diện, có thể nhìn thấy tim đèn, cũng vậy, với loại hào quang này vị ấy chú ý sẽ thấy hình dáng Đức Thế Tôn trong vầng ánh sáng ấy.

Đức Thế Tôn dùng cách này để tế độ vị có duyên lành Thánh quả, từ Hương thất Ngài phóng hào quang đến nơi ấy, thuyết giảng pháp thoại.

Như trường hợp Đức Thế Tôn tế độ Ngài Sopāka, từ Hương thất Đức Thế Tôn phóng hào quang đến nghĩa địa, nơi Ngài Sopāka đang bị trói, giải thoát cho Ngài Sopāka, mang về Hương thất của Đức Thế Tôn.

Khi một hội chúng chưa có niềm tin nơi uy lực của Đức Thế Tôn, Ngài thường phóng hào quang chiếu dài 80 hắc tay, như trường hợp Đức Thế Tôn tế độ dòng Hoàng tộc ThíchCa (Sākya) hào quang từ thân của Ngài tỏa ra 80 hắc tay.

Hỏi. Hai loại hào quang này có gì khác nhau?

Đáp. Về bản chất giống nhau, nhưng về công năng thì khác nhau. Ví như ngay trong mặt trời là khối lửa khổng lồ, ánh sáng mặt trời là những tia lửa phóng ra từ trung tâm khối lửa ấy, cũng vậy loại hào quang (a) là nguồn, còn loại hào quang (b) là ánh sáng phóng ra từ nguồn.

c- Hào quang tự hiển lộ chiếu khắp các phương (disapharana).

Như khi Ngài  quán xét bộ Paṭṭhāna, hay khi Ngài dùng Song thông lưc.

Hỏi. Ba loại hào quang  ấy có gì khác biệt nhau chăng?

Đáp. Về hình thức thì như nhau, nhưng phẩm chất khác nhau, như cùng là màu hồng nhưng có màu hồng còn bợn nhơ và màu hồng tinh anh.

Hai loại hào quang trước (a, b) là do phước sinh khởi, hào quang sau (c) là do tâm cực kỳ thanh tịnh và hoan hỷ của Đức Thế Tôn sinh khởi.

Loại hào quang thứ ba tinh anh hơn hai loại hào quang trước, nói cách khác loại hào quang (c) ngay cả máu Đức Thế Tôn khi ấy cũng tỏa sáng như phát ra hào quang.

6- Dùng phương tiện ra đi xuất gia.

– Sáu vị Chánh giác: Đức Phật Dīpaṅkara, Sumana, Sumedha, Phussa, Sikhī và Koṇāgamana, cưởi voi ra đi xuất gia.

– Sáu vị Chánh giác: Đức Phật Koṇḍañña, Revata, Paduma, Piyadassī, Vipassī và Kakusandha, dùng xe ngựa ra đi xuất gia.

– Năm vị Chánh giác: Đức Phật Maṅgala, Sujāta, Atthadassī, Tissa và Gotama, cưởi ngựa ra đi xuất gia.

– Ba vị Chánh giác: Đức Phật Anomdassī, Siddhattha và Vessabhū, dùng kiệu ra đi xuất gia.

– Đức Phật Nārada bộ hành ra đi xuất gia.

– Bốn vị Chánh giác: Đức Phật Sobhita, Padumuttara, Dhammadassī và Kassapa, xuất gia ngay tại cung điện của mình.

7- Tên cây Đại giác (Mahābodhi) (còn gọi là Bodhirukkha: dịch là Cây giác ngộ; âm là cây Bồđề).

Nơi Bồtát Chánh giác chứng đạt Vô thượng Chánh giác đều giống nhau([24]), đó là vùng đất trung tâm quả địa cầu([25]); không nơi nào khác có thể chịu đựng nổi, không bị vỡ ra khi Ngài chứng Vô thượng Chánh giác, nên địa điểm cây Đại giác mọc lên xem như giống nhau.

Không một ai, kể cả vua trời Sakka có thể du hành ngang qua vùng đất này.

Khi trái đất bị hoại thì vùng đất này bị hoại sau cùng, khi trái đất hình thành thì vùng đất này hình thành trước tiên.

Cây Đại giác của các Đấng Chánh giác có tên khác nhau([26]).

8- Kích thước bảo tọa chiến thắng.

Bảo tọa mà vị Bồtát ngồi tréo chân (pallaṅka) chứng đạt Vô thượng Chánh giác có tên gọi là Bodhi pallaṅka aparājita (chữ aparaajita nghĩa đen là “không thể xâm chiếm được”, Bodhi pallaṅka aparājita tạm dịch là “ngồi tréo chân giác ngộ, không ai có thể ngăn cản được” ), trên Bảo tọa này, vị Bồtát Chánh giác chiến thắng 5 loại māra (ác ma hay Ma vương) là:

1’- Uẩn ma (khandha māra).

Là những nhóm gây chướng ngại, nhất là sự bám víu vào danh sắc hay sắc, thọ, tưởng, hành, thức, bên ngoài lẫn bên trong.

Nghĩa là không còn dính mắc đến vợ, con, cha, mẹ, tài sản … luôn cả đến sinh mạng của mình.

Do vậy, khi ngồi trên Bảo tọa này, vị Bồtát Chánh giác đã phát nguyện rằng: “kāmaṃ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upasussatu maṃsalohitaṃ …

“Dầu chỉ còn da, gân và xương, dù thịt và máu trong thân này khô cạn, ta vẫn không ngừng tinh tấn, cho đến khi nào ta đạt được điều con người có thể đạt được do khả năng tinh tấn”([27]).

2’- Phiền não ma (kilesa māra).

Tất cả mọi ô nhiễm, phiền não được Ngài diệt trừ tận gốc rễ.

3’- Pháp hành ma (abhisaṅkhāra māra).

Ngài diệt trừ những nguyên nhân sinh khởi ác bất thiện pháp trong hiện tại, những ác bất thiện nghiệp trong quá khứ Ngài diệt trừ mầm dẫn tái sinh trong tương lai.

Ngay cả những pháp thiện dẫn đến tái sinh, đó là chướng ngại cho sự giải thoát khỏi luân hồi (vì thiện pháp vẫn còn dẫn đến tái sinh về nhàn cảnh như: Người, Chư thiên, Phạm thiên) Ngài cũng diệt trừ sạch mầm tái sinh của chúng. Ví như luộc chín những hạt lúa giống tốt.

4’- Thiên ma (deva māra).

Là những thiên nhân có khuynh hướng ác  xấu.

5’- Tử thần ma (maccu māra).

Sự chết (hay viên tịch) không là chướng ngại cho Ngài.

Đức Thế Tôn nếu muốn có thể sống trọn tuổi thọ, hoặc Ngài có thể viên tịch bất cứ vào lúc nào theo ý của Ngài.

Do vậy, Đức Thế Tôn được tán thán là Bậc chiến thắng ngũ ma.

Cũng vì lý do này, Bodhi pallaṅka aparājita tạm dịch là “Bảo tọa chiến thắng”.

Kích thước bảo tọa chiến thắng của các vị Chánh giác có kích thước khác nhau, một số  Giáo Thọ sư bảo đó là chiều cao, một số Giáo thọ sư khác bảo đó là bề rộng như Bảo tọa của Đức Phật Gotama cao 14 hắc tay (# 6 m, cao khoảng tòa nhà một tầng lầu) điều này có vẽ không hợp lý, còn như bề rộng thì hợp lý hơn.

Bảo tọa này có tên gọi là Bodhi aparājta, Bảo tọa chiến thắng của chư vị Chánh giác đều nằm về phía Đông bắc của cây Đại Giác và cách cây đại giác bốn hắc tay.

Bồtát ngồi lên Bảo tọa Chiến thắng, mặt Ngài hướng về phía Đông([28]).

*Bốn điều không xảy ra.

Có bốn điều không hề xảy đến cho Đức Phật Chánh giác là:

– Tứ sự đã được tác ý cúng dường đến Đức Phật, không một ai cho dù đó là chư thiên, Phạm thiên hay các Samôn, Bàlamôn có thần lực cũng không thể cản phá được (chỉ có ý muốn cản phá, đầu người đó bị nứt thành 7 mảnh).

– Không ai có thể đoạt mạng sống của Đức Phật.

– Không ai có thể phá hủy 32 đại nhân tướng cùng 80 tướng phụ của Đức Phật.

– Không ai có thể cản ngăn hào quang của Đức Phật([29]).

Bồtát Chánh giác trong kiếp chót chỉ sinh ra trong thế giới (Cakkavāla) trung tâm của 10 ngàn thế giới([30]).

Trong thế gian mỗi lần chỉ có một vị Chánh giác xuất hiện, không có vị Chánh giác nào xuất hiện khi Giáo pháp của vị tiền nhiệm chưa chấm dứt ngoại trừ  Nípbàn giới (dhātunibbāna)([31]).

Mỗi vị Chánh giác có ba loại Nípbàn là:

– Kilesaparinibbāna. Phiền não Nípbàn.

– Khandhaparinibbāna. Uẩn Nípbàn.

– Dhātunibbāna . Nípbàn giới([32]).

Nípbàn giới có hai:

 *An trú tâm tâm vào định Diệt thọ tưởng.

*Khi viên tịch, Đức Thế Tôn lưu lại cho đời Xálợi của Ngài.

Định Diệt thọ tưởng có thể xuất hiện vào thời có giáo pháp của Đức Chánh giác hoặc không có giáo pháp của Đức Chánh giác, như trường hợp các vị Phật Độc giác nhập định Diệt thọ tưởng.

Cho nên nói Nípbàn giới có thể xuất hiện khi Giáo pháp của Đức Chánh giác tiền nhiệm chưa chấm dứt.

*Mười tám bất cộng pháp (āvenikadhamma).

 Là mười tám pháp không có cho vị Thánh thinh văn hay Phật Độc giác. Mười tám pháp này chỉ có riêng cho bậc Chánh giác.

1- Quá khứ không bị trở ngại.

Là khi Đức Chánh giác nhớ về quá khứ của mình hay của người khác, lập tức mọi sự kiện hiện rõ, không thiếu sót bất cứ chi tiết nào. Mặt khác, cho dù là thời xa xưa bao lâu cũng không là chướng ngại cho trí của Ngài.

2- Hiện tại không bị trở ngại.

Ngay trong hiện tại, bất kỳ việc nào khởi lên, nếu Đức Thế Tôn muốn biết, lập tức chúng hiện rõ tận tường trong trí của Ngài, không hề bị chướng ngại. Nhưng nên lưu ý  rằng: “ Trong đời sống thường nhật, không phải lúc nào Ngài cũng biết hết tất cả mọi việc”([33]), việc nào Ngài cần biết thì lập tức việc ấy hiện rõ lên.

3– Vị lai không bị trở ngại.

Những việc xảy ra trong vị lai, cho dù thời gian có dài thăm thẳm đến đâu, khi Đức Thế Tôn cần biết, chúng sẽ hiện ra rõ ràng từng chi tiết.

Như Đức Thế Tôn Dīpaṅkara tiên tri cho Bồtát Sumedha thành vị Chánh giác tương lai có Tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha, cha mẹ Ngài là vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và bà Hoàng Māyā, hai vị thượng thủ thinh văn là Upatissa và Kolita …

4- Hành động có trí dẫn dắt.

Khi Ngài làm điều gì đều có sự suy xét: Điều này có mang đến lợi ích cho cho người hay không? Có hại cho người hay không? …

Ngay cả khi đi, đứng, nằm hay ngồi, Ngài suy xét: Có lợi ích hay không? Có hợp thời hay không và luôn có sự ghi nhận trong tất cả oai nghi: Lớn hay nhỏ.

5- Lời nói có trí dẫn dắt.

Khi nói Ngài đều có sự suy xét: Có lợi ích hay không lợi ích? Có hợp thời hay không hợp thời? Người nghe có hoan hỷ hay không hoan hỷ?.

6- Ý tưởng có trí dẫn dắt.

 Khi khởi lên một ý tưởng, Ngài đều quán xét tường tận.

7- Không thối chuyển khi quyết định.

8- Không thối giảm tinh cần.

9- Tinh cần trong thiền tịnh.

10- Trí tuệ không bị lui sụt.

Cho dù tuổi thọ của Ngài có dài lâu đến bao nhiêu, cho dù Ngài có bị bệnh về thân, nhưng trí tuệ của Ngài vẫn sáng suốt, không hề bị thối giảm.

11- Nỗ lực trong sự thuyết giảng, để mang lợi ích nhất là Thánh quả đến chúng sinh.

12- Không có sự thối giảm với giải thoát.

Như khi Đức Thế Tôn chế định học giới cho các Tỳkhưu, để thoát ra tội lỗi. Không một lý do gì Ngài thay đổi học giới ấy.

13- Không bao giờ cười hở răng.

Đức Thế Tôn chỉ có một cách cười là cười mĩm để lộ ra hai chót răng nhọn. Nhưng không bao giờ Ngài cười thường xuyên, mỗi khi có duyên sự cần thiết Ngài mới mĩm cười để tạo cơ hội cho Ngài Ānanda hỏi, nhân đó Ngài thuyết lên pháp thoại.

Có sáu cách cười là:

– Cười mĩm chỉ để lộ hai chót răng nhọn.

– Cười hở răng.

– Cười nhỏ tiếng.

– Cười lớn tiếng.

– Cười rung động thân.

– Cười chảy ra nước mắt.

Đức Phật Độc giác và hai Thượng thủ thinh văn có 2 cách cười: Cười mĩm và cười hở răng.

Các vị Thánh Alahán có 3 cách cười: Cười mĩm, cười hở răng và cười nhỏ tiếng .

 Các vị Thánh Hữu học có 4 cách cười: Cười mĩm, cười hở răng, cười nhỏ tiếng và cười lớn tiếng.

 Phàm nhân có đủ 6 cách cười.

14- Không có thói quen xấu trong quá khứ (gọi là tiền khiên tật).

15- Dùng trí tuệ chuẩn mực cho mọi việc.

16- Không vội vã,  luôn ung dng tự tại.

17- Luôn thận trọng.

18- Luôn suy xét theo pháp rồi mới thực hành.

*Việc làm trong ngày của Đức Phật Gotama.

Sinh hoạt trong ngày của Đức Phật Gotama như sau:

1- Buổi sáng Ngài đi khất thực (pubbaṇhe piṇḍapātaṃ).

Đức Phật thức dậy vào buổi sáng, sau khi vệ sinh cá nhân, Ngài thiền tịnh cho đến giờ đi khất thực.

Thường Ngài đi với đại chúng Tỳkhưu, nếu đi một mình Ngài đóng cửa Hương thất để làm hiệu, các vị Tỳkhưu khi thấy cửa Hương thất đóng kín , hiểu rằng: “Đức Thế Tôn muốn một mình đi khất thực”([34]).

Thường Đức Thế Tôn đi theo cách bình thường (pakatiyā), có khi Ngài đi với những pháp thần thông kỳ diệu([35]), đôi khi Ngài đi nhận vật thực bằng con đường hư không, khi ấy chỉ có những vị Thánh Alahán có thần thông theo Ngài([36]).

Sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn trở về Hương thất, có khi Ngài đi đến nơi thanh vắng để nghỉ trưa.

2- Buổi chiều thuyết pháp (sāyaṇhe dhammadesanaṃ).

Vào buổi chiều Đức Thế Tôn ra khỏi Hương thất, đi đến Giảng pháp đường, sau khi rửa chân, Ngài ngồi vào pháp tọa đã được soạn sẵn.

Nơi Giảng pháp đường, pháp tọa của Đức Thế Tôn luôn được sữa soạn tốt đẹp trước đó, sau khi dùng Phật nhãn quán xét hội chúng bao gồm hàng tứ chúng là: Tỳkhưu, Tỳkhưu ni, cận sự nam, cận sự nữ, Đức Thế Tôn thuyết pháp thích hợp với duyên lành của hàng Tứ chúng.

Truyền thuyết nói rằng: “Các Tỳkhưu đương thời luôn soạn sẵn ghế ngồi cho Đức Thế Tôn, vì các vị biết Đức Thế Tôn có thể ngự đến thăm họ bất cứ lúc nào”, các Tự viện cũng tương tự([37]).

3- Buổi tối giáo giới các Tỳkhưu (padose bhikkhu ovādaṃ).

Vào buổi tối, sau khi tắm rửa xong, Đức Thế Tôn ngự đến Giảng Pháp đường, ban lời giáo giới đến các Tỳkhưu.

4- Nửa đêm trả lời chư thiên (aḍḍhatte devapanhānaṃ).

Vào lúc nửa đêm, các thiên nhân, Phạm thiên đến viếng Đức Thế Tôn, bạch hỏi pháp. Đức Thế Tôn trả lời những câu hỏi của các thiên nhân.

5- Canh cuối của đêm.

Nước Ấn cổ chia đêm làm ba canh: Canh một từ 18 giờ đến 22 giờ; canh hai từ 22 giờ đến 2 giờ, canh ba từ 2 giờ đến 6 giờ sáng([38]).

Canh cuối của đêm Đức Thế Tôn chia làm ba thời:

*Thời an trú tâm trong thiền tịnh.

* Thời nghỉ (ngủ).

*Thời quán xét thế gian.

Vào hừng sáng, Đức Thế Tôn dùng Phật nhãn quán xét thế gian, tìm người hữu duyên nên tế độ, vì chúng sinh này có tích lũy pháp Balamật trong quá khứ([39]).

Sự tế độ chúng sinh này có hai cách.

*Đức Thế Tôn thấy tiền duyên của những người này với vị Thánh Alahán nào, Ngài sẽ dạy vị Thánh đệ tử ấy đến tế độ cho chúng sinh ấy.

Như trường hợp Đức Thế Tôn dạy Ngài Nandaka đến Ni viện giáo giới các Tỳkhưu ni([40])

*Khi thấy chỉ có Đức Thế Tôn mới tế độ được, Đức Thế Tôn tự mình đi đến tế độ.

Sau khi mãn thời gian an cư mùa mưa ba tháng (kể từ 16-9 âl đến hết ngày 15 -9 âl tính theo lịch VN), Đức Thế Tôn Gotama thường đi du hành để làm hoan hỷ đến các hội chúng gia chủ ở các thành phố, làng mạc …

Trước khi đi du hành (cārikā), Đức Thế Tôn Gotama thông báo cho các Tỳkhưu biết trước đó 15 ngày để các vị chuẩn bị([41]).

Nếu thấy không cần thiết phải đến nơi ấy, Đức Thế Tôn phái 2 vị Thượng thủ thinh văn (hoặc là 1 trong hai vị) đến nơi ấy([42]). Hoặc Ngài phái vị ThánhAlahán đa văn đến, như trường hộp Đức Thế Tôn dạy Ngài Mahā Kaccāna cùng 7 vị Alahán đến kinh thành Ujjenī thuộc xứ Avaṅti của vua Caṇḍa Pajjota để mở đạo.

Có khi Đức Thế Tôn tự mình ra đi để tế độ người hữu duyên, như Ngài tự mình ra đi xa 3 gāvuta (= 12 km) để tế độ Ngài Mahākassapa, đi xa 30 dotuần để tế độ dạxoa Āḷavaka và Aṅgulimāla, đi xa 45 dotuần để tế độ Ngài Pukkusāti, đi xa 120 dotuần để tế độ Ngài Mahākappina …

Có khi Ngài cùng đại chúng Tỳkhưu du hành đến tế độ người hữu duyên, như Đức Thế Tôn tế độ cô gái con người thợ dệt …

Sự du hành có hai loại.

– Du hành ngắn (turita). Như Đức Thế Tôn đi từ thành Vương xá đến kinh thành Kapilavatthu dài 60 dotuần …

– Du hành dài (aturita).

Là đi với khoảng đường dài, cách du hành này thay đổi hằng năm, như Đức Thế Tôn du hành đến xứ Sunāparanta (quê hương của Ngài Puṇṇa) dài 900 dotuần trong 9 tháng, đến xứ Majjhimamaṇḍala dài 900 dotuần trong 8 tháng, đến Antomaṇḍala dài 600 dotuần bốn tháng([43]).

Đức Thế Tôn là bậc liễu tri pháp, nghĩa là nếu Ngài muốn biết điều gì, sự kiện gì thì điều đó, sự kiện đó sẽ hiện rõ cho Ngài từng chi tiết.

Trí tuệ của Đức Thế Tôn không thể đo lường được, ngay chính thân của Ngài cũng thế ([44]).

Đức Thế Tôn tế độ chúng sinh bằng ba cách: Thi triển thần thông (iddhipāṭihāriya), với tâm mình biết tâm  người (ādesanāpāṭihāriya), theo căn cơ của mỗi người (anusāsanīpāṭihāriya).

Trong ba cách tế độ này, NgàiMoggallāna (MụcKiềnLiên) thiện xảo dùng thần thông tế độ chúng sinh, Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) thiện xào dùng tâm mình biết tâm người để giáo hóa; riêng Đức Thế Tôn thiện xảo cả ba cách, nhưng thiện xảo hơn cả là “tế độ chúng sinh theo căn cơ của người ấy” và Đức Thế Tôn thường sử dụng phương cách này nhất([45]).

Các Tôn chủ ngoại giáo thường xuyên tạc Đức Thế Tôn là có “huyển thuật mê hoặc người” (āvattanīmāyā), điều này không đúng, vì có khi ngay cả các vị Tỳkhưu, Đức Thế Tôn cũng không thể thuyết phục được, như các vị Tỳkhưu ở Kosambī (Kiêuthưởngdi), hoặc Tỳkhưu Kokālika …

Mặt khác, có số chúng sinh chỉ có Đức Thế Tôn mới tế độ được, do Ngài dùng phương pháp “thấu hiểu căn cơ”, như trường hợp Đức Tế Tôn tế độ Ngài Cūḷa Panthaka, tế độ người đệ tử của Ngài Sāriputta mà trong quá khứ có 500 kiếp sống là người thợ kim hoàn …

Những vị này được gọi là Buddha veneyyā([46]).

Niềm tin phát sinh nơi Đức Thế Tôn do bốn điều:

– Do thấy được 32 đại nhân tướng của Ngài (rūpappamāṇikā).

– Do nghe âm giọng du dương của Ngài (ghosappamāṇikā).

– Do tâm bình đẳng của Ngài (lūkhappamāṇikā)([47]),

– Do nghe được pháp của Ngài (dhammappamāṇikā)([48]).

Lời dạy của Đức Thế Tôn không bao giờ bị chìm vào quên lãng, nhưng đôi khi không mang lại lợi ích ngay tức khắc, như khi Ngài thuyết Udumbarikasīhanāda sutta([49]),

Nhiều lúc Đức Thế Tôn phóng hào quang từ Hương thất của Ngài đến nơi Ngài muốn, rồi hình ảnh Ngài xuất hiện trong ánh hào quang, thuyết lên pháp thoại để tế độ người có duyên lành. Kệ ngôn được thuyết lên trong trường hợp này gọi là Obhāsagāthā (Kệ ngôn ánh sáng)([50]).

Chư Phật đều có ba kệ ngôn Ovādapāṭimokkha (Giáo giới giải thoát) như nhau([51]), cứu cánh của lời dạy chư Phật là chứng đắc Thánh quả Alahán([52]).

Mỗi vị Chánh giác tối thiểu có một Tăng đoàn, có vị có đến ba Tăng đoàn, số lượng Tỳkhưu của Tăng đoàn nhiều ít khác nhau.

Tăng đoàn của Đức Thế Tôn Gotama là 1.250 vị Tỳkhưu, đó là các bậc Alahán từ Lục thông trở lên, được xuất gia theo cách : “Ehi bhikkhu …”

Chúng sinh chỉ đạt được abhiññā (Thắng trí) cao tột khi Đức Thế Tôn còn tại thế ([53]). Như Túc mạng minh chẳng hạn, trong thời Đức Phật có bốn vị ThánhAlahán nhớ lại quá khứ được một atăng kỳ trái đất, đó là: Hai vị Thượng thủ thinh văn, Ngài Bakkula và bà Thánh nữ Yasodharā; sau khi Đức Phật viên tịch không một vị Thánh Alahán nào có được Túc mạng minh như thế nữa. Hoặc như trí tuệ Siêu việt của Ngài Sāriputta, năng lực thần thông của Ngài Moggallāna …

Đức Thế Tôn thành tựu mười Như Lai lực (balāni) đó là:

1- Thānāthānaññāṇa: Trí  hiểu thấu nhân, không phải nhân.

Nghĩa là. Đức Thế Tôn thấu hiểu đây là nguyên nhân của sự kiện này, của pháp này. Đây không phải là nguyên nhân của sự kiện này, không phải là nhân của pháp này, như pháp thiên là do nhân vô tham, vô sân, vô si; vô tham, vô sân, vô si không phải là nhân của pháp bất thiện …

2-Vipākaññāṇa. Trí  hiểu thấu quả của nghiệp.

Nghĩa là. Đức Thế Tôn thấu hiểu: Đây là quả của nghiệp nào, như cùng sinh về thiên giới nhưng vị thiên tử này do tạo thiện nghiệp bố thí, vị thiên tử kia do tạo thiện nghiệp trì giới, vị thiên tử khác do tạo thiện nghiệp nghe pháp …

3- Sabbatthagāmimaggaññāṇa. Trí hiểu thấu tất cả đạo lộ.

Đạo lộ này đưa chúng sinh tái sinh về khổ cảnh, đạo lộ này dẫn chúng sinh tái sinh về nhàn cảnh, đạo lộ này dẫn chúng sinh ra khỏi luân hồi.

4- Nānādhātuññāṇa.Trí  hiểu thấu các giới sai biệt khác nhau.

Như hiểu đất nước lửa gió, hư không, thức; giới bên trong, giới bên ngoài, giới thô, giới tế, giới gần, giới xa …

5- Nānādhimuttiññāṇa. Trí hiểu thấu  trình độ cao thấp của chúng sinh.

6- Indriyaparopariyataññāṇṇ. Trí thấu hiểu các quyền sai biệt (của chúng sinh).

7- Jhānādiññāṇa. Trí hiểu rõ chướng ngại của thiền, chướng ngại của giải thoát.

8- Pubbenivāsaññāṇa. Trí  hiểu thấu tiền kiếp của mình và của chúng sinh.

9- Cutūpapātaññāṇa.Trí hiểu thấu sự sinh tử của chúng sinh.

10- Āsavakkhayaññāṇa. Trí hiểu thấu những ô nhiễm.

Do có 10 loại trí Như Lai, nên Đức Thế Tôn thông suốt 10 lãnh vực theo đúng sự thật([54]).

Chính thành tựu 10 lực này, nên Đức Thế Tôn có khả năng thuyết giảng lý duyên sinh (Paṭiccasamuppāda)([55]), các vị Thánh đệ tử hay Đức Phât Độc Giác chỉ có 7 trí lực trên (trừ trí lực 2, trí lực 5 và trí lực 6)([56]).

Tuy có 7 trí lực trên nhưng trình độ 7 trí lực của vị Thánh Alahán đệ tử hay của Đức Phật Độc giác không thể sánh bằng 7 trí lực của Đức Như Lai([57]).

Trong tập Paṭisambhidāmagga (Đạo vô ngại giải) có nêu lên sáu trí của Đức Thế Tôn, sáu trí này không có đến Phật Độc giác cũng như chư vị Thánh Alahán, đó là:

1- Indriyaparopariyattaññāṇa. Trí thấu hiểu các quyền sai biệt (của chúng sinh).

2- Āsayānusayaññāṇa. Trí hiểu thấu khuynh hướng ngủ ngầm (của chúng sinh).

3- Yamākapāṭihīraññāṇa: Trí hiểu thấu về song thông.

4- Mahākarunāsamāpattiññāṇa. Trí thể nhập Đại bi.

5- Sabbaññutaññāṇa. Trí Toàn Giác.

6- Anāvaraṇaññāṇa. Trí không bị chướng ngại ([58]).

Cũng do thành tựu 10 lực này nên thân lực của Ngài bằng sức mạnh 10 voi chúa Chaddanta([59]).

1- Voi Kāḷāvaka có sức mạnh bằng 10 người thường([60]).

2- Mười voi Kāḷāvaka = 1 voi Gaṅgeyya = 100 người ([61]).

3- Mười voi Gaṅgeyya = 1 voi Paṇḍara = 1.000 người ([62]).

4- Mười voi Paṇḍara = 1 voi Tamba = 10 ngàn người ([63]).

5- Mười voi Tamba = 1 voi Piṅgala = 100 ngàn người ([64]).

6- Mười voi Piṅgala = 1 voi Gandha = một triệu người([65]).

7 – Mười voi Gandha = 1 voi Maṅgala = 10 triệu người ([66]).

8- Mười voi Maṅgala = 1 voi Hema = 100 triệu người ([67]).

9- Mười voi Hema = 1 voi Uposatha = 1.000 triệu người .

10- Mười voi Uposatha = 1 voi Chaddanta = 10 ngàn triệu người.

* Voi Uposatha.

Đây là một tộc voi quý đứng hàng thứ hai sau tộc voi Chaddanta, được gọi là Uposatha vì xuất hiện vào ngày uposatha (ngày 14 thời có trăng) khi vua Chuyển Luân đã làm lễ quán đảnh (lên ngôi vua).

Voi chúa Uposatha toàn trắng ở 7 phần (sattappatiṭṭha) là: Bốn chân, đầu, mình và đuôi. Voi chúa Uposatha có khả năng đi trên hư không nhanh chóng, đến phục vụ cho vua Chuyển Luân phải là voi chúa Uposatha([68]).

Vua Chuyển Luân Mahāsudassana (Đại thiện kiến) có voi chúa Uposatha này([69]).

Sách Lalitavistara (Phổ Diệu kinh) gọi voi Uposatha là Bodhi.

Khi vua Chuyển luân mệnh chung, voi chúa Uposatha trở về với tộc voi của mình([70]). Không ai có thể nhốt voi chúa Uposatha vào trong chuồng.

*Voi Chaddanta.

Là tộc voi quý đứng hàng đầu trong 10 tộc voi, đươc gọi là Chaddanta vì tộc voi này sống nơi hồ Chaddanta. Bồtát có lần tái sinh làm voi chúa Chaddanta.

Voi báu của vua Chuyển Luân thuộc tộc Chaddata phải là voi tơ đầy sức mạnh, toàn thân có màu trắng, có khả năng đi trên hư không, voi báu Chaddanata đến phục vụ cho vua Chuyển luân vào ngày Uposatha (ngày 15 âl, thời trăng sáng)([71]).

Ngoài 10 Như Lai trí lực nói trên, Đức Thế Tôn còn có 4 vô sở úy là:

1- Không sợ bất cứ ai trên đời chỉ trích Ngài chưa chứng đạt mà mạo nhận.

2- Không sợ bất cứ ai chỉ trích Ngài chưa diệt tất cả mọi ô nhiễm mà tự cho là đã diệt sạch.

3- Những gì Ngài dạy là chướng ngại đạo, chắc chắn là chướng ngại, không sợ bất kỳ ai nói ngược lại.

4- Pháp Ngài thuyết gảng chắc chắn đưa đến diệt tận đau khổ, không sợ bất cứ ai nói ngược lại([72]).

Chỉ có Đức Thế Tôn mới tiêu hóa được những dưỡng tố (ojā) do chư thiên đưa vào vật thực cúng dường đến Ngài, vị Tỳkhưu dùng vật thực dành riêng cho Đức Thế Tôn, phạm luật([73]).

Mỗi vị Chánh giác đều có một lần Đại hội lớn (Mahāsamaya), chỉ có Đức Thế Tôn mới thuyết pháp được cho đại hội có nhiều thành phần với căn cơ khác nhau([74]).

Đức Chánh giác có tuổi thọ ngắn, lễ Bốtát (uposatha) phải thực hành nửa tháng một lần (như Đức Thế Tôn Gotama).

Các vị Chánh giác có tuổi thọ dài thì thời hành lễ Bốtát khác nhau như:

– Đức Phật Kassapa, 6 tháng hành trì lễ Bốtát một lần.

– Đức Phật Vipassī, 6 năm hành lễ Bốtát một lần([75]).

Đức Thế Tôn không hẵn là không bị bịnh, mỗi vị Chánh giác có thể sống trọn kiếp (kappa)([76]), nhưng thông lệ của các vị Chánh giác là “sống hết tuổi thọ (āyukappa) của chúng  sinh vào thời ấy hoặc sống 4 phần 5 tuổi thọ”. Vì sao?

Đáp. Nếu như Ngài sống trọn kiếp trái đất, khi ấy các vị Thánh Thượng thủ hoặc các vị Thánh Đại đệ tử đã viên tịch. Lại nữa, vào thời  chúng sinh không thể chứng đắc Thánh quả Alahán, hội chúng của Đức Thế Tôn sẽ trống vắng. Ví như Đức vua không có các quan Đại thần ưu tú, hay vị vua không có các Đại thần, điều này sẽ bất xứng với địa vị cao quý của Đức vua. Do vậy, bậc Đại trí như Đức Thế Tôn không chọn việc này.

Mặt khác, sở dĩ tuổi thọ của các Ngài bị rút ngắn (4 phần 5 tuổi thọ) là do ảnh hưởng của vật thực và thời tiết([77]), nhưng không vị Chánh giác nào viên tịch trước khi Giáo pháp của Ngài được vững vàng([78]).

Trong đời của Đức Thế Tôn có hai lần màu da của Ngài sáng chói, không một ánh sáng nào bì được với loại hào quang này, đó là lần trước khi Bồtát chứng Vô thượng Chánh giác và lần Ngài sắp viên tịch([79]).

Sau khi Đức Thế Tôn viên tịch, lễ hỏa táng di hài của Ngài được diễn ra như lễ hỏa táng vua Chuyển Luân (sđd).

Truyền thuyết nói rằng: “Khi Bồtát Chánh giác đản sinh kiếp cuối, màu da Ngài cũng rực sáng như khi Ngài sắp viên tịch”([80])

  Với các vị Chánh giác có tuổi thọ dài (dīghāyuka), Xálợi của Ngài kết lại thành khối và được tôn thờ trong một Bảo tháp duy nhất, còn vị Chánh giác có tuổi thọ ngắn (như Đức Phật Gotama) thì Xálợi của Ngài rãi ra khắp nơi để người và chư thiên chiêm bái.

Sau khi Đức Phật Gotama viên tịch, theo dòng thời gian Giáo pháp của Ngài bị hoại dần.

– Đến ba ngàn năm, Tạng Thắng pháp (Abhidhammapiṭaka) hoại trước tiên, theo tuần tự như sau:

Trước tiên là Bộ Paṭṭhānappakaraṇa (Vị trí) (bộ thứ 7 của Tạng Diệu pháp) họai, rồi đến bộ Yamaka (Song đối), bộ Kathāvatthu (Luận điểm), Puggalapaññatti (Nhân chế định), Dhātukathā (Nguyên chất ngữ), Vibhaṅga (Phân tích), sau cùng là bộ Dhammasaṅgani (Pháp tụ).

– Đến bốn ngàn năm thì hoại đến Tạng kinh (Suttapiṭaka).

Trước tiên là bộ Aṅguttaranikāya (Kinh Tăng chi), kể từ chương 11 pháp hoại dần đến chương 1 pháp.

Kế đến là bộ Saṃyuttanikāya (Kinh Tương ưng), trước tiên là Saccasaṃyutta, phẩm thứ 7 Cakkapeyyāla(Bánh xe lược thuyết) mất trước tiên([81]) rồi mất dần đến bài kinh Ogharataṇasutta([82]).

Tiếp đến là Majjhimakināya (Kinh Trung bộ), mất trước tiên là bài kinh Indriyabhāvanāsutta (Kinh Quyền tu tập)([83]), cuối cùng là Mūlapariyāyasutta (Kinh Căn Bản pháp)([84]).

Kế tiếp hoại dần Dīghanikāya (Kinh Trường bộ), bắt đầu từ Dasuttarasutta (Kinh Thập thượng), Brahmajālasutta (Kinh Phạm võng) mất sau cùng.

– Đến 5.000 thì Vinayapiṭaka (Tạng Luật) mất([85]). Các kệ tụng (gāthā) như Sabhiyapucchā (Sabhiya hỏi) và Āḷavakapucchā (Āḷavaka hỏi) thì tồn tại lâu hơn, nhưng không đủ để lưu lại giáo pháp.

*Tóm lược Giáo pháp của Đức Thế Tôn Gotama.

* Tạng Luật (Vinayapiṭka).

Tạng Luật được chia làm ba phần chính: Suttavibhaṅga, Khandhaka và Parivāra.


([1])– M.i. Kinh số 6,

([2])–  DA. i. 50; MA. i. 13.

([3])– A.v, 150.

([4])– M.ii. Kinh số 62.

([5])– S.i, 1.

([6])– S.v, 63.

([7])– M.i. Kinh số 3.

([8])– S,ii, 97.

([9])– Bu.i, 1.

([10])– MNid. 458; Ps. i. 174.

([11])– SA. i. 20.

([12])-D.ii. Mahāpadāna sutta (Kinh Đại bổn). Kinh số 14. Ngoài ra, danh sách 7 vị Phật Chánh giác này còn tìm thấy trong S. ii. 5.; Thag. 491; JA. ii. 147. Các Ngài còn được nói đến trong Vin. ii. 110, trong một phương thuốc cổ trừ nọc rắn.  Còn được thấy trong Sayambhū Purāṇa (Mitra, Skt, Buddhist Lit. of Nepal, p. 249).

([13])– D.iii, 58.

([14])– Đã có ghi trong  Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 1). Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc lại để độc giả tiện theo dõi.

([15])– D. ii. 424 chỉ đề cặp đến đến năm trường hợp; trong BuA. 105; BuA. 246. liệt kê tám và trình bày chi tiết tám điều này của mỗi 25 vị Phật.

([16])– Dhp. Câu 182,

([17])–  Chúng tôi ghi chép theo tập Buddhavaṃsa – Atthakathā ( Sớ giải Lịch sử chư Phật), không hiểu đơn vị đo lường thời ấy như thế nào , nếu một hắc tay # 0,5 m, thì Đức Phật  Dīpaṅkara cao  80 hắc tay # 40 m, còn Đức Phật Gotama cao 16 hay 18 hắc tay # 8 m hay 9 m. Điề này xét ra không ổn lắm.

([18])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp (tập 1).

([19])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh.

([20])– BvA. xiii, 23 ghi là 9 tháng.

([21])– BvA. xxiii, 18 ghi là 8 tháng

([22])– BvA. vii, 19 ghi là 7 ngày.

([23])– Nhưng Đức Thế Tôn có thể trải rộng hào quang  đến bất cứ  nơi nào nếu Ngài muốn.

([24])– BuA. 247.

([25])– JA.iv, 233.

([26])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 2).

([27])– A.i, 47. Chương hai pháp.

([28])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 2).

([29])– BuA. 248.

([30])– AA. i. 251; DA. iii. 897.

([31])– D. ii. 225; iii. 114; lý do được trình bày trong Mil. 236 và trích dẫn trong DA. iii. 900.

([32])– DA. iii. 899.

([33])– Xem MNid. 178, 179; xem thêm MNidA. 223; SnA. i. 18.

([34])– DA. i. 45 f.; SNA. i, 271.

([35])– ThagA. i. 65.

([36])– ThagA. i. 65.

([37])– DA. i. 48.

([38])– Tính theo giờ hiện tại – Ns.

([39])– DA. ii. 470.

([40])– M.iii. Nandakovādasutta, Kinh số 146,

([41])– DhpA.ii, 167.

([42])– SnA. ii, 474.

([43])– DA. 210 – 213.

([44])– MA. ii. 790.

([45]– BuvA. 81.

([46])– SnA. i, 331

([47])– Có sách ghi điều này là: “Do biết Ngài thực hành khổ hạnh khốc liệt”.

([48])– DhpA. iii. 113

([49])– D.iii, 57.

([50])– SnA. i. 16, 265.

([51])– DA. ii. 479.

([52])– DA. iii, 732

([53])– AA. i. 204.

([54])– A. v. 32 ; M. i. 69,

([55])– S.ii, 27.

([56])– D. iii. 283.

([57])– Kvu. 228.

([58])– Ps. ñāṇakathā (giảng về trí).

([59])– BvA. 37.

([60])– MA. i. 263; UdA. 403; VibhA. 397; BuA. 37…

([61])– MA. i. 262.; AA. ii. 822; BuA. 37.

([62])– UdA. 403; VibhA. 397; AA. ii. 822.

([63])– AA. ii. 822; MA. i. 262.

([64])– MA. i. 262; VibhA. 397; UdA. 403; AA. ii. 822.

([65]) – VibhA. 397; AA. ii. 822; UdA. 403.

([66])– MA. i. 262; AA. ii. 822; BuA. 37.

([67])– UdA. 403; AA. ii. 832; BuA. 37.

([68])– DA. ii. 624; J. iv. 232, 234; KhA. 172.

([69])– Xem D.ii. Mahāsudassanasutta.

([70])–  DA. ii. 636.

([71]) – KhpA. 172.

([72])– M.i, Mahāsīhanādasutta (Đại kinh sư tử hống). Kinh số 11.

([73])– SnA. i. 154.

([74]) -D. ii. 225; DA. ii. 682

([75])– D.ii. Mahāpadānasutta (kinh Đại Bổn);  ThagA. i. 62.

([76])– DA. ii. 554 ; kappa trong ngữ cảnh này là āyukappa, tức là tuổi thọ của một người vào một thời kỳ nào đó.  Trưởng lão Mahāsīva nói rằng bấy giờ nếu Phật chịu đựng thêm mười tháng đau đớn, Ngài sẽ tại thế hết Bhaddkappa (Hiền kiếp); nhưng Phật không muốn vậy, Ngài viên tịch theo đúng thời để tránh bệnh tật lúc về già. Như vậy kappa ở đây chỉ cho kiếp trái đất.

([77])– DA. ii. 413.

([78])– D. iii. 122.

([79])– D.ii. Mahāparinibbāna.

([80])–  SnA. ii. 525.

([81])_ VbhA. 432.

([82])– Bài kinh đầu tiên của tập Tương ưng kinh.

([83])– Bài sinh số  152 của tập kinh Trung Bộ.

([84])– Bài kinh số 1 của tập kinh Trung bộ.

([85])– VibhA. 432.

trang trướctrang sau

Advertisements