Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (10 – Tóm lược lịch sử 27 vị Phật quá khứ)

B-Tóm lược lịch sử 27 vị Phật quá khứ.

Trong suốt chiều dài thời gian 4 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất chỉ có 29 vị Chánh giác xuất hiện trên thế gian, 27 vị Chánh giác quá khứ, một vị hiện tại (là Đức Phật Gotama) và một vị tương lai (là Đức Phật Metteyya), đồng thời chỉ có 12 kiếp trái đất có Đức Phật Chánh giác xuất hiện, đó là.

1- Kiếp trái đất  (cách đây 4 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất) có 4 vị Chánh giác xuất hiện, gọi là sāramaṇḍakappa, đó là: Đức Phật Taṅhaṅkara, Đức Phật Medhaṅkara, Đức Phật Saranaṅkara và Đức Phật Dīpaṅkara.

2- Kiếp trái đất (cách đây 3 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất) có một vị Chánh giác xuất hiện, gọi là sārakappa, đó là Đức Phật Koṇḍañña.

3- Kiếp trái đất (cách đây 3 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất) có 4 vị Chánh giác xuất hiện, gọi là sāramaṇḍakappa, đó là: Đức Phật Maṅgala, Đức Phật Sumana, Đức Phật Revata và Đức Phật Sobhita.

4- Kiếp trái đất (cách đây 1 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất) có 3 vị Chánh giác xuất hiện, gọi là varakappa, đó là: Đức Phật Anomadassī, Đức Phật Paduma và Đức Phật Narada.

5- Kiếp trái đất (cách đây 100 ngàn kiếp trái đất) có một vị Chánh giác xuất hiện, gọi là sārakappa, đó là Đức Chánh giác Padumuttara (Liên Hoa).

6- Kiếp trái đất (cách đây 30 ngàn kiếp trái đất) có hai vị Chánh giác xuất hiện, gọi là maṇḍakappa, đó là Đức Phật Sumedha và Đức Phật Sujāta.

7- Kiếp trái đất (cách đây 1800 kiếp trái đất), có ba vị Chánh giác xuất hiện, gọi là varakappa, đó là: Đức Phật Piyadassī, Đức Phật Aṭṭhadassī và Đức Phật Dhammadassī.

8- Kiếp trái đất (cách đây 94 kiếp trái đất), có một vị Chánh giác xuất  hiện, gọi là sārakappa, đó là Đức Phật Siddhattha.

9-  Kiếp trái đất (cách đây 92 kiếp trái đất), có hai vị Chánh giác xuất hiện, gọi là maṇḍakappa, đó là: Đức Phật Tissa và Đức Phật Phussa.

10- Kiếp trái đất (cách đây 91 kiếp trái đất), có một vị Chánh giác, gọi là sārakappa, đó là Đức Phật Vipassī.

11- Kiếp trái đất (cách đây 31 kiếp trái đất), có 2 vị Chánh giác xuất hiện goi là maṇḍakappa, đó là Đức Phật Sikhī và Đức Phật Vessabhū.

12- Kiếp trái đất hiện tại, có 5 vị Chánh giác xuất hiện, gọi là Bhaddākappa, ba vị Chánh giác đã hiện khởi là: Đức Phật Kakusandha, Đức Phật Konāgamana và Đức Phật Kassapa.

Hiện tại là Đức Phật Gotama, tương lai là Đức Phật Metteyya (DiLặc).

 *Ba vị Phật.

– Đức Phật Taṅhaṅkara có tuổi thọ là 100 ngàn năm, Ngài thực hành 30 pháp balamật suốt thời gian là 16 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất. Ngài thực hành khổ hạnh 7 ngày, chứng đắc Vô thượng Chánh giác nơi cội cây bông sứ.

– Đức Phật Medhaṅkara có tuổi thọ là 90 ngàn năm, Ngài thực hành 30 pháp balamật suốt thời gian là 8 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất. Ngài thực hành khổ hạnh 15 ngày, chứng đắc Vô thượng Chánh giác nơi cội cây Vông đồng.

– Đức Phật Saranaṅkara, Ngài thực hành 30 pháp balamật suốt thời gian là 8 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất. Ngài thực hành khổ hạnh 30 ngày, chứng đắc Vô thượng Chánh giác nơi cội cây Cẩm lai. Tuổi thọ khi Ngài ở thế gia là 7.000 năm, tuổi thật là bao nhiêu thì không rõ, vì không thấy trong Kinh nói đến.

Tiền thân Đức Phật Gotama tuy được hội kiến với ba vi Chánh giác là Taṅhaṅkara, Medhaṅkara và Saranaṅkara nhưng chưa được thọ ký([1]).

 

1- Đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng).

Bồtát Dīpaṅkara sinh ra tại kinh thành Rammavatī, cha của Ngài là vua Sudeva, mẹ Ngài là bà Hoàng Sumedhā.

Bồtát Dīpaṅkara đã thực hành 30 pháp Balamật suốt 16 atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất.

Bồtát Dīpaṅkara sống đời tại gia là 10.000 năm, Ngài có ba cung điện là: Haṃsapāsāda (cung điện Thiên nga, vì có hình dán1g như con thiên nga), Koñcapāsāda (cung điện Hồng hạc) và Mayūrapāsāda (cung điện Khổng tước), mỗi cung điện có 100 ngàn cung nữ xinh đẹp.

Vợ Ngài là công nương Padumā (vì miệng của nàng có hình như cánh hoa sen), khi nàng Padumā vừa sinh ra hoàng nam là Usabhakkhandha cũng là ngày Bồtát Dīpaṅkara thấy điềm tướng thứ tư là “vị Samôn”.

Trước đó Bồtát Dīpaṅkara nhìn thấy ba hiện tượng: Già, bịnh, chết ([2]);  ba hiện tượng này ám ảnh tâm trí này trong thời gian dài, nhìn thấy “vị Samôn”, Bồtát như người tìm ra phương thuốc quý dẫn đến sự ra khỏi: Già, bịnh, chết; nên Ngài quyết định xuất gia tìm pháp giải thoát.

Bồtát Dīpaṅkara ra đi xuất gia bằng voi, có 10 triệu tùy tùng của Ngài cũng theo Ngài xuất gia, khi Bồtát Dīpaṅkara cắt tóc ném lên hư không, vua trời Sakka mang mâm ngọc hứng lấy tóc ấy, mang về tôn trí vào tháp Makuta (Makuṭacetiya) trên đỉnh núi Sineru (Tudi)([3]).

Bồtát Dīpaṅkara thực hành khổ hạnh 10 tháng rồi thọ thực trở lại, hội chúng Samôn tùy tùng lìa bỏ Ngài đi đến trú nơi Tự viện Sunanda (Sunandārāma).

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha (ngày 15-4 âl, tính theo lịch VN), Ngài đi vào thị trấn để khất thực, cũng vào khi ấy, thị trấn có tổ chức tạ lễ vị thần hộ trì họ bằng loại cơm sữa thượng vi.

Bồtát nhận được bát cơm sữa, Ngài đi vào rừng Sāla thọ dụng cơm sữa, vào buổi chiều, Ngài đi đến cây Pipphalī. Trên đường đi, du sĩ Sunanda dâng cho Ngài tám bó cỏ, những bó cỏ ấy trở thành Bảo tọa chiến thắng của Ngài và Ngài chứng Vô thượng Chánh giác khi mặt trời vừa ló dạng.

*Ba Thắng hội (abhisamaya)([4]) của Đức Phật Dīpaṅkāra.

Thắng hội I.

Sau 7 tuần lễ an hưởng hương vị giải thoát, Đức Phật nhận lời thỉnh cầu Giảng pháp của vị Đại phạm thiên

Đức Phật Dīpaṅkara theo đường hư không đến Sunandārāma (Tự viện Sunanda) để tế độ 10 triệu vị Samôn tùy tùng của Ngài trước đây.

Ngài thuyết lên Pháp thoại đầu tiên, khiến cho bánh xe pháp chạy đi, dứt Pháp thoại có 100 koṭi (102 x 107= 109= 1 tỷ)  (1 koṭi = 10 triệu) chúng sinh (người và chư thiên) chứng đắc Thánh quả Alahán.

Đây là Thắng hội (abhisamaya) I của Ngài.

Thắng hội II.

Khi thấy trí của Ngài Usabhakkhana (con trai Ngài) trưởng thành, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích hợp với cơ tính hội chúng, có đến 90 koṭi (900 triệu) chư thiên và người chứng đắc Thánh quả Alahán.

Đây là Thắng hội thứ II của Ngài.

Thắng hội III.

Trước khi lên cung trời Tāvatiṃsa (Ba mươi ba), Đức Thế Tôn Dīpaṅkara thể hện Song thông lực nơi cây Sirīsa tại cổng thành Amaravatī để nhiếp phục chúng ngoại giáo, rồi Ngài lên cung trời Tāvatiṃsa, thuyết lên tạng Thắng pháp để tế độ vị thiên tử kiếp trước là bà Hoàng Sumedhā.

Có đến 90 ngàn koṭi (900 triệu) chư thiên chứng Thánh quả Alahán.

Đây là Thắng hội III của Ngài.

Có Kinh văn sau:

8- Paṭhamābhisamaye buddho; koṭisatamabodhayi.

Dutiyābhisamaye nātho; navutikoṭimabodhayi.

“Thắng hội đầu tiên; Đức Phật tế độ 100 mười triệu chúng sinh giác ngộ .

Thắng hội thứ hai của Ngài; có 90 mười triệu  chúng sinh giác ngộ”.

9- Yadā ca devabhavanamhi; buddho dhammamadesayi.

Navutikoṭisahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Và nơi cung trời; Đức Phật giảng pháp.

Có 90 ngàn 10 triệu vị;  đó là Thắng hội lần thứ ba”([5]).

*Ba Tăng hội (hay Tăng đoàn) của Đức Phật Dīpaṅkara([6]).

 Tăng hội I.

Khi Đức Thế Tôn Dīpaṅkara trú ngụ nơi Tự viện Sunanda (Sunandārāma), có 100 ngàn koṭi (1.000 tỷ) Thánh Tăng từ các nơi về tụ hội để hành lễ Uposadha. Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Có một hòn núi xinh đẹp tên là Nārada, nơi ấy có Dạxoa chúa Nārada trú ngụ, mỗi năm, cư dân trong vùng phải hiến dâng một người để làm tế lễ cho dạxoa. Đức Thế Tôn Dīpaṅkara tự mình đến núi Nārada. tế độ Dạxoa chúa Nārada cùng với 10 ngàn dạxoa khác chứng Thánh quả Dụlưu.

Truyền thuyết nói rằng: “Ngày hôm ấy cư dân chung quanh vùng mỗi làng mang theo một người cùng các tế phẩm khác đến để tế lễ cho Dạxoa chúa Nārada”.

Pháp thoại của Đức Thế Tôn mang lại Thánh quả cho đại chúng. Có 100 ngàn vị nam tử xin được xuất gia, Đức Thế Tôn Dīpaṅkara cho xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave… Hãy đến đây này các Tỳkhưu …”. Bảy ngày sau, tất cả đều chứng Thánh quả Alahán.

Vào đêm trăng tròn tháng Māgha (tháng giêng âl, theo lịch VN), các vị Thánh Alahán các nơi cùng nhau đi đến Đức Thế Tôn để hành lễ Uposatha (Bốtát). Giữa hội chúng Tăng có đến 100 koṭi (một tỷ) vị Tỳkhưu, Ngài thuyết lên Lời Giáo giới giải thoát (Ovādapaṭimokkha).

Đây là Tăng hội II của Đức Thế Tôn Dīpaṅkara.

Tăng hội  III.

Vào lần khác, khi Đức Thế Tôn Dīpaṅkara an cư mùa mưa ở núi Sudassana. Vào ngày Pavāraṇā, theo thông lệ cư dân thường tổ chức tế lễ trên đỉnh núi Sudassana. Cư dân trong vùng mang tế phẩm đến đỉnh núi, nhìn thấy Đức Thế Tôn Dīpaṅkara, đại chúng hoan hỷ mang lễ vật đến cúng dường, Đức Thế Tôn với pháp thoại tế độ chúng sinh chứng đắc Thánh quả nhiều vô số. Có 900 ngàn triệu vị chứng đắc Thánh quả Alahán, xin được  xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn Dīpaṅkara, Đức Thế Tôn cho xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave…”.

Đây là Tăng hội III của Đức Thế Tôn. Có Kinh văn sau.

10- Sannipātā tayo āsuṃ; dīpaṅkarassa satthuno.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

“Vị ấy có ba lần tụ hội; Bậc Đạo sư Dīpaṅkara.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là lần tụ hội đầu tiên”.

11- Puna nāradakūṭamhi; pavivekagate jine.

Khīṇāsavā vītamalā; samiṃsu satakoṭiyo.

“Lần khác, nơi núi Nārada; Bậc Chiến Thắng sống độc cư.

Trong sạch, không còn ô nhiễm; có 100 mười triệu vị”.

12- Yamhi kāle mahāvīro; sudassanasiluccaye.

Navakoṭisahassehi; pavāresi mahāmuni.

“Đấng Đại Hùng vào thời điểm khác; ngự trú ở núi Sudassana.

Có 90 ngàn 10 triệu vị; Bậc Đại ẩn sĩ hành lễ Tự tứ”(sđd. 10-12).

Rồi Đức Thế Tôn cùng 400 ngàn vị Tỳkhưu tùy tùng du hành đến thành Rammavatī và Đức Thế Tôn thọ ký cho Bồtát Sumedha thành vị Chánh giác tương lai.

Pháp thoại của Đức Thế Tôn Dīpaṅkara thường mang đến Thánh quả Alahán cho từ 10 ngàn đến 20  ngàn nhân loại; môt hay hai người lãnh hội Giáo pháp của Đức Thế Tôn Dīpaṅkara là điều không hề có.

Đức Thế Tôn Dīpaṅkara có tùy tùng là 400 ngàn vị Tỳkhưu là bậc ThánhAlahán Lục thông trở lên.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật  Dīpaṅkara.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn Dīpaṅkara là Trưởng lão Sumaṅgala và Trưởng lão Tissa. Thị giả là Trưởng lão Sāgata.

Hai nữ thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn Dīpaṅkara là Trưởng lão ni Nandā và Trưởng lão ni Sunandā.

– Hai nam cận sự tối thắng trong hàng nam cận sự của Đức Phật Dīpaṅkara là Ngài Tapussa và Ngài Bhallika.

– Hai nữ cận sự tối thắng trong hàng nữ cận sự là bà Sirimā và bà Soṇā.

Đức Thế Tôn Dīpaṅkara cao 80 hắc tay, hào quang luôn tỏa ra từ thân như cây đuốc chiếu sáng, hay như cây Sāla chúa trổ đầy hoa..

Đức Thế Tôn có thọ mạng là 100 ngàn tuổi, Ngài viên tịch nơi tự viện Nanda. Bảo tháp thờ Xálợi của Đức Phật Dīpaṅkara cao 36 dotuần, ngay chính nơi Tự viện Nanda. Có Kinh văn sau:

31- Dīpaṅkaro jino satthā; nandārāmamhi nibbuto.

Tatthevassa jinathūpo; chattiṃsubbedhayojanoti.

“Đấng Chiến thắng Dīpaṅkara, bậc Đạo sư; Ngài tịch diệt (nibbuto) nơi tự viện Nanda.

Bảo tháp của Đấng chiến thắng dành cho Ngài, cao 36 dotuần”([7]).

Ngoài ra, một ngôi Bảo tháp được kiến tạo nơi cây Đại giác Pipphali để tôn thờ 8 món tư cụ Samôn của Đức Phật là: Tam y, bát, dao cạo tóc, bình lọc nước, dây thắt lưng và ống đựng kim.

Giáo pháp của Đức Thế Tôn Dīpaṅkara tồn tại 100 ngàn năm sau khi Ngài viên tịch([8]).

Phụ lục.

*Trưởng lão Dhammaruci.

 Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Dīpaṅkara, tiền thân của Ngài là một thanh niên có tên là Megha, khi nghe Đức Thế Tôn Dīpaṅkara ghi nhận: “Ẩn sĩ Sumedha sẽ là vị Chánh giác trong tương lai”, thanh niên Megha hoan hỷ với ẩn sĩ Sumedha nên xuất gia làm ẩn sĩ theo Bồtát Sumedha.

Do giao hảo với bạn xấu, Megha hoàn tục rồi phạm tội giết mẹ, nên phải tái sinh vào địa ngục.

Vào thời Đức Phật Gotama, Ngài tái sinh làm con cá lớn ở biển. Một chiếc thương thuyền bị bảo lớn sắp chìm vào lòng biển, các thuyền viên trên tàu trên tàu lớn tiếng cầu nguyện Đức Phật Gotama, con cá chợt nhớ lại lời tiên tri của Đức Phật Dīpaṅkara, nên mệnh chung tái sinh về kinh thành Sāvatthī.

Khi lớn lên được nghe pháp từ Đức Phật Gotama nơi Đại tự Jetavana (KỳViên), Ngài xuất gia trong Tăng đoàn, nỗ lực hành pháp chứng đắc Thánh quả Alahán([9]).

Dứt lịch sử Đức Phật Dīpaṅkara.

 

2 – Đức Phật Koṇḍañña.

Sau khi Giáo pháp của Đức Phật Dīpaṅkara tiêu hoại, trải qua 1 atăng kỳ kiếp không có vị Chánh giác nào hiện khởi trên thế gian, gọi là kiếp trống (suññakappa). Kế đến trái đất được hình thành, trong kiếp trái đất này có một vị Chánh giác xuất hiện (gọi là sārakappa), là Đức Phật Koṇḍañña.

Thời gian thực hành Pháp độ của Ngài là 16 atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất. Vào kiếp áp chót, Ngài tái sinh về cõi Tusita (Đẩusuất), theo lời thỉnh cầu của chư Thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới, sau khi quán xét năm điều (như Bồtát Santusita)([10]). Ngài tái sinh vào thai bào của bà Hoàng Sujātā của vua Sunanda, nơi kinh thành Rammavatī.

Sau 10 tháng Ngài ra khỏi thai bào, vì thuộc dòng tộc Koṇḍañña, nên Ngài được đặt tên là Koṇḍañña.

Bồtát Koṇḍañña sống tại gia là 10 ngàn năm, Ngài có ba cung điện: Suci, Suruci và Subha (theo Bản Sớ giải Lịch sử chư Phật: Ba tòa cung điện đó có tên là Rāmā, Surāmā và Subha), mỗi cung điện có 100 ngàn cung nữ giỏi  ca múa, đàn hát để phục vụ Bồtát, vợ của Bồtát là công nương Rucidevī.

Khi nhìn thấy đầy đủ bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn, Bồtát Koṇḍañña quyết định xuất gia, cũng vào ngày hôm ấy, nàng Rucidevī sinh hạ một người con trai là Thái tử Vijitasena.

Bồtát ra đi xuất gia trên chiếc xe do 4 conngựa thuần chủng kéo đi. Đại chúng theo Ngài đi xuất gia có đến 100 triệu vị.

Ngài khổ hạnh 10 tháng, rồi thọ thực trở lại; hội chúng lìa bỏ Ngài đi đến khu rừng Deva (rừng Thiên thần) trú ngụ.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha (15-4 âl, theo lịch VN), Bồtát đến  làng Sunanda, Ngài nhận bát cơm sữa của nàng Yasodharā, con gái của một trưởng giả trong làng cúng dường.

Sau khi thọ dụng cơm sữa, vào buổi chiều Bồtát đi đến cội Sāla chúa đang trổ hoa xinh đẹp, người ta nói rằng: “Cây Sāla chúa này chỉ mọc lên khi có vị vua Chuyển Luân hay Đức Chánh giác xuất hiện trên thế gian mà thôi và cây này chỉ xuất hiện duy nhất một lần”.

Bồtát Koṇḍañña nhận 8 bó cỏ của du sĩ lỏa thể Sunandaka cúng dường.

Sau khi đi vòng quanh cội cây Sāla chúa ba vòng, Bồtát tìm nơi thích hợp, trải 8 bó cỏ, tám bó cỏ trở thành Bảo tọa chiến thắng của Ngài.

Bồtát Koṇḍañña chiến thắng toàn bộ quân ma, chứng Vô thượng Chánh giác khi mặt trời vừa ló dạng.

Đức Phật Koṇḍañña là Bậc Đạo sư có vinh quang, danh tiếng không thể đo lường được,  như Kinh văn ghi nhận:

1-Dīpaṅkarassa aparena; koṇḍañño nāma nāyako.

Anantatejo amitayaso; appameyyo durāsado.

“Sau Đức Phật Dīpaṅkara; Bậc Lãnh Đạo tên Koṇḍañña.

Vị có vinh quang vô tận, danh tiếng vô cùng;

Không thể đo lường, khó có thể đạt đến”([11]).

Ngài Buddhadatta, tác giả Bản Sớ giải Phật sử có giải thích:

“Bậc Lãnh Đạo”. Là vị dẫn đường, vị chỉ dạy chúng sinh thực hành thoát khỏi mọi ô nhiễm (āsava).

“Không thể đo lường được”. Nghĩa là: “Không thể nói cho hết được”. Ở đây chỉ cho những ân đức đặc biệt như Giới, định, tuệ … của vị Chánh giác.

Có ví dụ như sau: Một vị Chánh giác tán thán vị Chánh Giác khác suốt kiếp trái đất. Kiếp trái đất có thể đi qua, nhưng lời tán thán của vị Chánh giác đối với vị Chánh giác khác không hề dừng lại.

2- Dharaṇūpamo khamanena; sīlena sāgarūpamo.

Samādhinā merūpamo; ñāṇena gaganūpamo.

“Kham nhẫn của Ngài ví như trái đất; giới hạnh ví như biển lớn,

Thiền định ví như núi Meru; trí tuệ ví như không gian” (sđd, 2).

Giải thích.

Khamanena ti khantiyā: Kham nhẫn là kiên trì.

Kham nhẩn ví như đất.

Là sự kiên trì của Đức Chánh giác giống như trái đất, nghĩa là Ngài không thích thú khi được tán thán, cũng không khó chịu khi bị xuyên tạc, vu khống. Ví như trái đất luôn luôn thản nhiên trước các vật thơm hay các vật hôi thối đổ lên mặt đất.

Giới hạnh ví như biển lớn.

Nghĩa là Ngài luôn giữ thân, ngữ, ý trong sạch, các ác bất thiện pháp không thể có cơ hội sinh lên, giống như nước biển lớn không thể vượt qua bờ.

Lại  nữa, người ta không thể đo lường được biển sâu rộng như thế này, như thế này, không thể biêt rõ tất cả những gì chứa trong lòng biển.

Cũng vậy, ân đức giới của Đức Chánh giác sâu rộng vô biên, ẩn chứa trong ân đức giới ấy vô số điều kỳ diệu mà không một ai có thể biết rõ tận tường, thấu đáo trọn vẹn được (ngoại trừ Đức Chánh giác).

Thiền định ví như núi Meru([12]).

Núi Meru là núi chúa của thế giới (cakkavāla), rất rắn chắc, là núi ngọc quý nhất, cao nhất trong tất cả những ngọn núi.

Thiền định như núi Meru nghĩa là: “Đức Chánh giác đạt đến tột đỉnh của thiền định”. Chánh định của Đức Thế Tôn vững chắc, không có một sức mạnh nào có thể phá vỡ được.

Trí tuệ ví như không gian.

Không gian rộng lớn vô tận, không thể tìm hiểu thấu đáo. Cũng vậy, Vô biên trí của Đức Chánh giác không thể bàn cho hết được.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Koṇḍañña.

Thắng hội I.

Sau 7 tuần lễ hưởng vị giải thoát nơi cội cây Sāla chúa, theo lời thỉnh cầu giảng pháp Bất tử của vị Đại phạm thiên.

Đức Thế Tôn Koṇḍañña theo đường hư không đến rừng Devavana để tế độ 100 triệu vị Samôn tùy tùng của Ngài trước đây. Ngài thuyết lên Pháp thoại đầu tiên, tế độ nhân loại và chư thiên đắc Thánh quả là 100 ngàn 10 triệu (105x 107= 1.000 tỷ) vị, trong đó có 100 triệu vị Tỳkhưu chứng Thánh quả Alahán. Đây là Thắng hội I của Ngài.

Trong lần thuyết pháp này, Đức Thế Tôn thuyết tất cả những chi phần dẫn đến giác ngộ như: Năm Quyền, năm Lực, bảy Giác chi. Tám chi đạo và bốn sự thật, nên chư thiên và nhân loại thành đạo vô số.

Có kinh văn sau đây:

3- Indriyabalabojjhaṅga-maggasaccappakāsanaṃ.

Pakāsesi sadā buddho; hitāya sabbapāṇinaṃ.

“Quyền, lực, giác chi, đạo , sự thật được giảng dạy.

Đức Phật kiên trì thuyết giảng; vì lợi ích của tất cả chúng sinh”.

4- Dhammacakkaṃ pavattente; koṇḍaññe lokanāyake.

Kotasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Ngài cho xe pháp chạy; Bậc Lãnh đạo thế gian Koṇḍañña,

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội đầu tiên”([13]).

Thắng hội II.

Sau đó Đức Thế Tôn thuyết lên bài kinh Hạnh phúc (Maṅgalasutta) do một thiên nhân hỏi, có đến 90 ngàn 10 triệu (900 tỷ) chúng sinh chứng đắc Thánh quả Alahán, các Thánh quả thấp hơn thì không kể.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn.

5- Tato parampi desente; naramarūnaṃ samāgame.

Navutikoṭisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Về sau, trong lần thuyết giảng khác; người và chư thiên hội lại.

Có 90 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội thứ hai”(sđd.5).

Thắng hội III.

Đức Thế Tôn thể hiện Song thông lực để nhiếp phục ngoại giáo, rồi Ngài thuyết lên pháp thoại, có đến 800 tỷ chúng sinh chứng đạt Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn.

6- Titthiye abhimaddanto; yadā dhammamadesayi.

Asītikoṭisahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Khi nhiếp phục các ngoại đạo, Ngài thuyết lên Pháp thoại.

Có 80 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội thứ ba” (sđd.6).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Koṇḍañña .

Tăng hội I.

Lần an cư mùa mưa đầu tiên của Đức Thế Tôn Koṇḍañña ở tự viện Canda, gần thành phố Candavatī([14]).

Khi ấy có thanh niên Bàlamôn tên Bhadda (còn gọi là Candamaṇava) con của Bàlamôn trưởng giả Sucindhara, một thanh niên Bàlamôn khác có tên là Subhadda, con của Bàlamôn trưởng giả Yasodhara, hai người là bạn thân với nhau.

Cả hai thanh niên cùng 10 ngàn thanh niên Bàlamôn khác được nghe pháp từ Đức Thế Tôn Koṇḍañña, tất cả đều chứng Thánh quả Alahán, xin xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn Koṇḍañña duỗi bàn tay phải ra nói rằng: “Etha bhikkhave …” và tất cả đều được xuất gia.

Vào ngày trăng tròn tháng Jeṭṭha ( tháng 6 – 7dl, theo lịch VN là ngày 15-6 âl) Trưởng lão Subhadda cùng với 1 tỷ vị Tỳkhưu tự hội lại để hành lễ Bốtát, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát đến hội chúng Tăng ấy.

Đây là Tăng hội thứ I của Đức Thế Tôn Koṇḍañña.

Tăng hội II.

Khi Ngài Vijitasena (con traicủa Đức Phât) chứng đắc Thánh quả Alahán. Vào đêm trăng tròn, Đức Thế Tôn Koṇḍañña tụng lời Giáo giới giải thoát (Ovādapaṭimokkha) trước 1.000 triệu vị Tỳkhưu có Ngài Vijitasena dẫn đầu tự hội lại. Đây là Tăng hội II của Ngài.

Tăng hội III.

Khi Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu du hành đến kinh thành của vua Udena. Nghe tin Đức Thế Tôn Koṇḍañña ngự đến kinh thành, vua Udena cùng đại chúng tùy tùng là 900 triệu vị, đến đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Sau thời pháp thoại tất cả đều chứng Thánh quả Alahán.

Đây là Tăng hội III của Ngài.Có Kinh văn sau.

8-Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Dutiyo koṭisahassānaṃ, tatiyo navutikoṭinaṃ.

“100 ngàn 10 triệu vị; là lần tụ hội đầu tiên.

Lần hai có một trăm 10  triệu vị; 90  mười triệu vị là lần ba”([15])

*Tiền thân của Đức Phật Gotama.

Bấy giờ tiền thân của Đức Phật Gotama là vua Chuyển luân Vijitāvī có kinh thành là Candavatī, vua Chuyển luân Vijitāvī trị nước bằng pháp.

Đức vua Vijitāvī nghe Đức Thế Tôn  Koṇḍañña  cùng đại chúng Tỳkhưu ngự đến kinh thành Candavatī, nên cho trang hoàng kinh thành thật xinh đẹp để đón tiếp Đức Phật, cho sữa soạn nơi trú ngụ của Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu, vua Chuyển Luân Vijitāvī đã cúng dường vô song thí đến Đức Thế Tôn Koṇḍañña cùng đại chúng Tỳkhưu.

Đức Phật Koṇḍañña tiên tri rằng: “Kể từ kiếp trái đất này trở đi, sau 3 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, vua Chuyển luân Vijitāvī trở thành bậc Chánh giác tương lai có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha” (như lời tiên tri của Đức  Phật Dīpaṅkara).

Tiếp theo, Đức Thế Tôn Koṇḍañña thuyết lên Pháp thoại thích hợp với cơ tánh của đại chúng, mang Thánh quả đến cho vô số nhân thiên.

Nghe xong pháp thoại, vua Vijitāvī cúng dường vương quốc đến Đức Thê Tôn và Tăng chúng, Ngài xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn Koṇḍañña.

Sau khi học thông suốt pháp luật Trưởng lão Vijitāvī thực hành thiền định, chứng đăc bát thiền cùng 5 thắng trí.

Mệnh chung Ngài tái sinh về Phạm thiên giới.

* Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Koṇḍañña.

Đức Thế Tôn Koṇḍañña cao 88 hắc tay .

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn Koṇḍañña là: Trưởng lão Bhadda và Trưởng lão Subhadda. Thị giả là Trưởng lão Anuruddha.

– Hai vị nữ Thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn Koṇḍañña là Trưởng lão ni Tissā và Trưởng lão ni Upatissā.

– Hai nam cận sự tối thắng của Đức Thế Tôn Koṇḍañña là Ngài Soṇa và Ngài Upasoṇa.

– Hai nữ cận sự tối thắng của Đức Thế Tôn Koṇḍañña là bà Nandā và bà Sirimā.

Đức Thế Tôn Koṇḍañña viên tịch ở tuổi thọ 100 ngàn năm, ngôi Bảo tháp thờ Xálợi của Đức Phật Koṇḍañña cao 7 dotuần được kiến tạo nơi Tự viện Canda.

Giáo pháp của Ngài được tồn tại 100 ngàn năm.

Phụ lục.

*Trưởng lão Abbhañjanadāyaka.

 Là vị Thánh Alahán trong Giáo pháp của Đức Phật Gotama.

Trong thời Đức Phật Koṇḍañña, tiền thân của Ngài có dâng dầu mè lên Đức Phật Koṇḍañña.

Do phước báu này, 15 đại kiếp sau tiền thân của Ngài tái sinh là vua Chuyển luân có vương hiệu là Cirappa([16]).

*Trưởng lão ni Saṅkamanattā.

Là vị Nữ Thánh Alahán trong Giáo pháp của Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Koṇḍañña, tiền thân của bà là một nữ nhân, khi thấy Đức Phật trên đường đi khất thực, nữ nhân ra khỏi nhà đi đến đảnh lễ dưới chân của Đức Phật, Đức Phật dùng chân chạm vào đầu bà([17]).

Dứt lịch sử Đức Phật Koṇḍañña.

Sau Đức Phật Koṇḍañña, trải qua 1 atăng kỳ kiếp không có vị Chánh giác nào xuất hiện. Tiếp đến có kiếp trái đất, có 4 vị Chánh giác xuất hiện (gọi là sāramaṇḍakappa), đó là Đức Phật Maṅgala, Đức Phật Sumana, Đức Phật Revata và Đức Phật Sobhita.

3- Đức Phật Maṅgala.

Sau khi thực hành 30 pháp Balamật suốt thời gian dài 16 atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, kiếp áp chót Ngài sinh về cõi Tusita (Đẩusuất).

Bấy giờ trong thế gian có sự náo động (kolāhala) về Đức Chánh giác sẽ hiện khởi sau 1.000 năm nữa([18]), khi ấy vị thiên tử Bồtát thấy được 5 hiện tượng báo tử:  Vòng hoa trang điểm bị héo, thiên y trở nên cũ kỹ, vật trang điểm trở nên mờ nhạt, mồ hôi từ nách chảy ra, tâm Ngài không còn vui thích nơi thiên giới.

Chư thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới thỉnh thiên tử Bồtát giáng sinh về nhân giới để trở thành vị Chánh giác.

Sau khi xem xét kỹ 5 điều, Ngài giáng sinh về nhân giới, mẹ của Ngài là bà Hoàng Uttarā, cha Ngài là vua Uttara cai trị kinh thành Uttara.

Khi Đấng Đại sĩ nhập thai bào, thân bà HoàngUttara tự nhiên phát sáng, ánh sáng tỏa rộng đến 80 hắc tay (# 40 m) vượt trội hơn cả ánh sáng mặt trời đang chói rạng hay áng sáng mặt trăng  trong bầu trời trong vắt không có áng mây, tồn tại cả ngày lẫn đêm.

Do nhân này, khi Ngài sinh ra, vào ngày lễ đặt tên Ngài được đặt tên là Maṅgala (Hạnh Phúc).

Bồtát Maṅgala sống tại gia 9 ngàn năm, Ngài có ba tòa cung điện là: Yasavā, Sucimā và Sirimā([19]), mỗi cung điện có 10 ngàn cung nữ xinh đẹp, giỏi múa hát đàn ca phục vụ, vợ Bồtát là công nươngYasavatī.

Khi Bồtát Maṅgala nhìn thấy đầy đủ bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn, Ngài lìa bỏ cung điện cưởi ngựa Paṇḍara ra đi xuất gia, có 30  triệu người xuất gia theo Ngài, vào ngày hôm ấy nàng Yasavatī cũng vừa hạ sinh Thái tử Sīlava.

Bồtát Maṅgala thực hành khổ hạnh 8 tháng, rồi Ngài thọ thực trở lại, hội chúng Samôn tùy tùng lìa bỏ Ngài, đi đến vườn Siri trú ngụ.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha Bồtát nhận bát cơm sữa của nàng Uttarā, con của trưởng giả Uttara nơi làng Uttara. Thọ dụng cơm sữa xong, Ngài trú ngụ nơi rừng Sāla, vào buổi chiều Ngài đi đến cây Nāga (Mù u), trên đường đi Ngài nhận tám bó cỏ do du sĩ lỏa thể  Uttara dâng cúng.

Khi đến cội cây Nāga, Bồtát đi quanh ba vòng, Ngài đến hướng Đông bắc, trải cỏ ra và Bảo tọa chiến thắng hiện ra cho Ngài, bảo tọa của Ngài rộng khoảng 58 hắc tay. Sau khi chiến thắng ma quân, Ngài chứng Vô thượng chánh giác vào lúc mặt trời vừa ló dạng.

Bấy giờ hào quang 6 màu từ thân của Ngài tự hiển lộ, chiếu thấu cả 10 ngàn thế giới.

Hào quang này là do ước nguyện của Ngài khi còn là Bồtát kiếp áp chót thân nhân loại. Thế gian khi ấy tựa như được phủ lên tấm vải màu vàng óng ánh, cả sông núi, đại dương, núi rừng … đều có màu vàng óng ánh, hào quang ấy không bị ngăn chận bất cứ vật gì, xuyên suốt cả những ngọn núi lớn, tường thành …  hào quang át cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng, người ta chỉ phân biệt ngày đêm theo cách: Chim rừng hót vào buổi sáng và loại hoa nở vào buổi chiều.

*Hạnh sự.

Vào kiếp áp chót là người (như Bồtát Vessantara), Bồtát đang sống với vợ và hai con một trai, một gái nơi đỉnh núiVaṅka.

Nơi núi Vaṅka có con dạxoa hung ác tên là Kharadāṭhika, dạxoa này thường bắt những ai đi vào khu vực của nó để ăn thịt.

Được nghe tiếng Bồtát là người bố thí rộng rải, dạxoa Kharadāṭhika hóa ra một Bàlamôn nghèo khổ, đến xin Bồtát hai người con để mang về  hầu hạ mình. Bồtát hoan hỷ bố thí hai người con yêu quý của mình, lập tức Bàlamôn già hiện thân là dạxoa hung ác, nắm lấy hai đứa bé bóp chết như người ta bóp cọng sen, rồi đưa vào miệng nhai ngấu nghiến.

Bồtát bất ngờ, chỉ biết đứng lặng nhìn, thấy máu ứa ra từ miệng dạxoa, Bồtát không chút sầu khổ, trái lại Ngài hoan hỷ rằng: “Đây là phước sự cao thượng của ta”, Ngài ước nguyện rằng: “Do phước sự này, hào quang từ thân của ta phát ra hãy chiếu khắp 10 ngàn thế giới, như giòng máu tinh anh vậy”.

Trước đó, Bồtát có lần đến viếng Bảo tháp của Đức Chánh giác, một ý nghĩ sau đây sinh khởi cho Ngài: “Ta hãy cúng dường thân mạng này đến Đức Thế Tôn”. Bồtát dùng vải sạch và quý quấn khắp thân, dùng những loại bơ, sữa đắc giá tẩm vào những lớp vải quý ấy, dùng một bát có giá trị 100 ngàn tiền vàng, đổ đầy trong bát những bơ, sữa …

Ngài châm lửa vào bát đội lên đầu, rồi châm lửa vào thân, đi nhiễu quanh Bảo tháp tựa như một cột ánh sáng đang đi quanh Bảo tháp suốt đêm để cúng dường đến Đức Thế Tôn.

Dù toàn thân cháy sáng như vậy, nhưng sức nóng không chạm vào da thịt của Ngài.

Thật vậy: “Pháp hằng hộ trì người hành pháp”, Đức Phật có dạy:

Dhamma have rakkhituṃ dhammacāriṃ

Dhammosuciṇṇo sukhaṃ avahati.

Esānisaṃsa dhamme suciṇṇe.

Na duggatiṃ gacchati.

“Pháp bảo vệ người hành pháp.

Hành pháp mang lại an lạc.

Đây là lợi ích hành pháp.

Không đi đến khổ cảnh”([20]).

Hoan hỷ với việc lành này, Ngài ước nguyện: “Xin cho con có được hào quang chiếu sáng 10 ngàn thế giới”.

Hỏi. Số lượng 10 ngàn thế giới có ý nghĩa gì?

 Đáp. Đó là sinh vức của Đức Phật. Đức Phật có ba lãnh vực (khetta) là:

1- Sinh vức (jātikhetta).

Là khi Ngài giáng sinh vào lòng mẹ, cả 10 ngàn thế giới rung chuyển.

2- Uy vức (guṇakhetta).

Là khi Ngài thuyết giảng những bài pháp có ân đức sâu rộng như: Kinh Chyển pháp luân, kinh Maṅgala (Hạnh phúc), kinh Ratana (Châu báu) … cả một ngàn tỷ thế giới rung chuyển.

3- Tuệ vức (visayakhetta).

Lãnh vực trí tuệ của Đức Phật là vô biên.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Maṅgala.

Thắng hội I.

Sau 7 tuần hưởng vị giải thoát nơi cội cây Nāga, nhận lời giảng pháp do vị Đại phạm thiên khẩn cầu. Đức Thế Tôn Maṅgala theo đường hư không đến vườn Siri gần thành Sirivaḍḍha, nơi đây Ngài thuyết lên pháp thoại lần đầu, chuyển động Bánh xe pháp cho chạy đi, tế độ một ngàn tỷ nhân thiên chứng Thánh quả, trong đó có 30 triệu vị Tỳkhưu theo Ngài xuất gia trước đây chứng Thánh quả Alahán.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Patvāna bodhimatulaṃ; paṭhame dhammadesane.

Koṭisatasahassānaṃ; dhammābhisamayo ahu.

“Sau khi đạt Giác ngộ Vô song; lần đầu tiên giảng pháp.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội của Ngài”([21]).

Thắng hội II.

Trước khi lên cung trời Tāvatiṃsa (Ba mươi ba) để thuyết Tạng Thắng pháp, Đức Thế Tôn dùng Song thông lực nhiếp phục chúng ngoại giáo ở cổng thành Citta. Rồi Đức Thế Tôn Maṅgala lên cung trời Tāvatiṃsa thuyết lên tạng Thắng pháp, tế độ 900 tỷ chư thiên và Phạm thiên chứng đạt Thánh quả. Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Surindadevabhavane; buddho dhammamadesayi.

Navakoṭisahassānaṃ([22]); dutiyo samayo ahu.

“Nơi cung điện vua Trời; Đức Phật giảng pháp.

Có 900 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội thứ hai”(sđd.6).

Thắng hội III.

Trước khi Đức Chánh giác Maṅgala xuất hiện, vua Chuyển luân Sunanda cai trị toàn thể trái đất này, kinh thành của Ngài có tên là Surabhi.

Khi Đức Phật Maṅgala xuất hiện, xe báu xe dịch chỗ cũ theo truyền thuyết: “Khi xe báu xê dịch chỗ cũ là điềm báo vua Chuyển luân sắp mệnh chung”.

Thấy vậy vua Chuyển luân Sunanda phiền  muộn, cho họp triều thần đến để tìm hiểu nguyên nhân “vì sao xe báu xê dịch chỗ cũ”.

Các Đại thần thưa rằng:

– Thưa Đại vương, có ba lý do khiến xe báu trượt đi khỏi chỗ cũ là:

* Vua Chuyển luân sắp mệnh chung.

* Vua Chuyển luân xuất gia

* Đức Chánh giác xuất hiện.

Thưa Đại vương, thọ mạng của Đại vương vẫn còn vững lắm, hơn nữa Đại vương không có ý niệm xuất gia. Chính vì Đức Phật Maṅgala xuất hiện trên thế gian, nên xe báu dịch khỏi chỗ cũ.

Nghe vậy, vua Chuyển luân Sunanda tổ chức lễ cúng dường xe báu, quỳ trước xe báu, Ngài cầu khẩn rằng: “Thưa xe báu, tôi sẽ đến đảnh lễ và nương nhờ nơi ân đức của Đức Phật Maṅgala. Xin xe báu hãy trở về vị trí cũ”. Lập tức xe báu trở lại vị trí cũ.

 Vô cùng hân hoan, vua Chuyển luân Sunanda cùng đại chúng dày đặc 36 dotuần đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn Maṅgala.

Vua Chuyển luân Sunanda cúng dường trọng thể đến Đức Thế Tôn cùng với 100 ngàn vị ThánhAlahán, cúng dường y quý đến Đức Thế Tôn và chư Tăng. Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại phúc chúc, dứt pháp thoại tất cả đều chứng đắc Thánh quả Alahán tuệ phân tích, trong đó có Thái tử Anurāja (Phó vương), số lượng là 900 triệu vị. Tất cả đều được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …” Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Sunandassānucarā janatā; tadāsuṃ navutikoṭiyo.

Sabbepi te niravasesā; ahesuṃ ehi bhikkhukā.

“Sunanda cùng các tùy tùng; có được là 90 mười triệu vị.

Tất cả không trừ một ai; đã trở thành “hãy đến, này các Tỳkhưu.

*Ba Tăng hội của Đức Phật Maṅgala.

Tăng hội I.

Khi Đức Thế Tôn Maṅgala trú ngụ nơi thành Mekhala, hai vị Thượng thủ tương lai là Sudeva và Dhammasena, mỗi người có 10 ngàn tùy tùng([23]).

Vào ngày trăng tròn tháng Māgha, tất cả đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Sau thời pháp thoại của Đức Thế Tôn, tất cả đều chứng Thánh quả Alahán.

Thế rồi vào đêm trăng tròn hôm ấy, các vị Thánh Tăng Alahán từ các nơi trở về thành Mekhala hành lễ Uposatha (Bốtát).

Giữa hội chúng Tăng, Đức Phật ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội I của Ngài, có số lượng là một ngàn tỷ vị.

Tăng hội II.

Vào dịp khác, khi Đức Phật Maṅgala trú ngụ nơi kinh thành xinh đẹp Uttara, ở tự viện Uttara (Uttarārāma), quyến thuộc Ngài đã xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn, đã tụ hội lại làm lễ Bốtát (uposatha) nơi Tự viện Uttara. Giữa đại chúng Tăng là một tỷ vi, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát. Đây là Tăng hội II của Ngài.

Tăng hội III.

Một lần khác, vị Trưởng lão dẫn đầu là vua Chuyển luân Sunanda trước đây cùng với 900 triệu Tỳkhưu, đi đến Đức Thế Tôn hành lễ Bốtát.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau:

8- Sannipātā tayo āsuṃ; maṅgalassa mahesino.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

“Có ba lần Tăng hội; của vị Đại ẩn sĩ Maṅgala.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là Tăng hội trước nhứt của vị ấy”.

9- Dutiyo koṭisatasahassānaṃ; tatiyo navutikoṭinaṃ.

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ; tadā āsi samāgamo.

“Lần thứ hai có một ngàn 10 triệu; lần thứ ba có 9o mười triệu.

Các vị không còn ô nhiễm, trong sạch; các vị ấy đã tụ hội lại”([24]).

*Tiền thân Đức  Phật Gotama.

Vào thời ấy, có Bàlamôn Suruci sống nơi làng Suruci, vị này tinh thông ba tạng Veda (Vệđà) cùng với đại nhân tướng.

Bàlamôn Suruci nghe được pháp thoại của Đức Thế Tôn, khởi tâm tịnh tín muốn cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng, bạch hỏi rằng:

– Bạch Thế Tôn, con xin thỉnh Ngài và đại chúng Tỳkhưu đến thọ thực nơi nhà của con vào ngày mai.

– Này gia chủ, có rất đông các vị Tỳkhưu.

– Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu vị?

– Có 100 ngàn 10 triệu vị (1.000 tỷ) (dường như đây là Tăng đoàn đầu tiên của Đức Thế Tôn).

– Bạch Thế Tôn, con xin thỉnh tất cả.

Khi về nhà, Bàlamôn Suruci suy nghĩ: “Ta có khả năng cúng dường vật thực thượng vị đến tất cả Tăng chúng có Đức Thế Tôn là vị đứng đầu, nhưng làm sao có chỗ để các vị Tỳkhưu ngồi”.

Khi ấy, ngai vàng của vua trời Sakka nóng ran lên. Biết được nguyên nhân, vua Trời Sakka suy nghĩ: “Ta nên tạo công hạnh cho mình”.

Vua Trời Sakka hóa ra một người thợ mộc mang những dụng cụ làm gỗ, xuống nhân giới đi đến nhà Bàlamôn Suruci, rao rằng: “Ai có cần làm việc gì chăng?”. Bàlamôn Suruci hỏi:

– Này người thợ mộc, anh làm được những gì?

– Thưa chủ, tôi làm được tất cả mọi việc.

– Vậy có việc cho anh đây. Tôi có thỉnh 1.000 tỷ vị Tỳkhưu có Đức Phật là vị đứng đầu, đến nơi đây nhận vật thực. Nhưng Đại sảnh này này không đủ sức chứa số lượng Tỳkhưu ấy, vậy anh hãy làm một đại sảnh đủ chứa một ngàn tỷ vị Tỳkhưu đi.

– Được, nhưng chủ phải trả tiền công cho tôi.

– Được rồi, này anh thợ mộc.

 Thiên chủ Sakka với thần lực của mình, đã kiến tạo một tòa đại sảnh  rộng lớn, xinh đẹp, trang hoàng mỹ thuật, đầy đủ tiện nghi, tòa đại sảnh rộng đến 12 dotuần.

Bàlamôn Suruci nhìn tòa đại sảnh hiểu ngay rằng: “Đây là do thần lực của Thiên chủ Sakka”. Bàlamôn Suruci hoan hỷ cúng dường đến Đức Phật và đại chúng Tỳkhưu trọn 7 ngày.

Đại thí của Bàlamôn Suruci có tên gọi là Gavapāna vì được tổ chức để làm vinh danh Đức Phật; lễ vật chánh là một loại bánh làm bằng gạo nếp thơm, nấu với sữa và mật ong([25]).

Vào ngày thứ 7, sau khi dùng vật thực xong, Đức Thế Tôn đưa Phật trí quan xét, rồi Ngài tuyên bố giữa đại chúng Tỳkhưu rằng: “Này các Tỳkhưu, sau 2 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất nữa, thiện gia tử này sẽ trở thành Đức Chánh giác có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

Nghe lời tiên tri của Đức Thế Tôn Maṅgala, tâm Bàlamôn Suruci ngập tràn năm sự hỷ lạc. Một ý nghĩ xuất hiện trong tâmBàlamôn Suruci rằng: “Như lời tiên tri của Đức Chánh giác, chắc chắn ta sẽ thành vị Chánh giác. Như vậy ta còn sống đời sống tại gia có ích lợi gì, ta hãy xuất gia trong Giáo pháp của Đức Đạo sư ngay bây giờ”.

Bàlamôn Suruci bố thí hết tài sản ngay trong ngày và xin được xuất gia trước sự chứng minh của Đức Thế Tôn Maṅgala.

Sau khi học thông thuộc Pháp luật, Trưởng lão Suruci tích cực thiền tịnh, chẳng bao lâu thành tựu tám chiền chứng cùng 5 pháp thần thông. Mệnh chung vị ấy tái sinh về Phạm thiên giới.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Maṅgala.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn Maṅgala là Trưởng lão Sudeva và Trưởng lão Dhammasena. Thị giả là Trưởng lão Pālita.

 – Hai vị nữ thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn Maṅgala là Trưởng lão ni Sivalā và Trưởng lão ni Asokā.

– Hai cận sự nam tối thắng là Trưởng giả Nanda và trưởng giả Visākha.

– Hai cận sự nữ tối thắng là bà Anulā và bà  Sutanā.

– Các vị Samôn trong Giáo pháp của Đức Phật Maṅgala đều là những bậc ThánhAlahán.

Đức Thế Tôn Maṅgala sống 90 ngàn tuổi, Ngài viên tịch nơi vườn hoa Vessara([26]). Khi Đức Thế Tôn vừa viên tịch, ánh sáng tỏa ra từ thân của Ngài tắt lịm, cả 10 ngàn thế giới đột nhiên tối sầm lại, tiếng than khóc của chúng sinh trong 10 ngàn thế giới vang dội.

Xálợi của Ngài kết thành một khối được tôn thờ trong Bảo tháp cao 30 dotuần, làm bằng 7 loại ngọc quý, ngay trong khu vườn Vessara.

Có Kinh văn sau.

32- Uyyāne vassare nāma; buddho nibbāyi maṅgalo.

Tatthevassa jinathūpo; tiṃsayojanamuggatoti.

“Nơi công viên tên Vassara, Đức Phật Maṅgala tịch diệt.

Bảo tháp Chiến thắng của Ngài; cao 30 dotuần”([27]).

Dứt lịch sử Đức Phật Maṅgala.

 

4- Đức Phật Sumana.

Sau khi Đức Thế Tôn Maṅgala viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm xuống dần đến khi còn 10 năm, rồi tuổi thọ con người tăng dần đến atăng kỳ năm.

Sau đó ác pháp xuất hiện, tuổi thọ con người giảm xuống đến khi còn 90 ngàn năm, bấy giờ vị Chánh giác thứ 2 hiện khởi trong thế gian, đó là Đức Phật Sumana.

Từ cõi Tusita (Đẩu suất), Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Sirimā, cha Ngài là vua Sudatta trị vì kinh thành Mekhala.

Bồtát sống tại gia 9 ngàn năm trong ba cung điện: Canda, Sucanda và Vaṭaṃsa([28]), có 6 triệu 300 ngàn cung nữ xinh đẹp hầu hạ, vợ Ngài là công nương Vaṭaṃsikā.

Khi thấy đầy đủ bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn, Bồtát Sumana cưỡi voi Maṅgala (Hạnh phúc) ra đi xuất gia, có 300 triệu tùy tùng theo Ngài ra đi xuất gia, cũng trong ngày ấy nàng Vaṭaṃsikā vừa sinh ra người con trai là Thái tử Anupama.

Bồtát Sumana thực hành khổ hạnh 10 tháng, rồi thọ thực trở lại, hội chúng tùy tùng lìa bỏ Ngài.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Ngài thọ dụng bát cơm sữa do nàng Anupamā con gái trưởng giả Anupama nơi làng Anoma dâng cúng, Bồtát trú ngụ suốt ngày nơi rừng Sāla gần đó.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cội cây Nāga (Mù u), trên đường đi Ngài nhận 8 bó cỏ do du sĩ lỏa thể Anupama cúng dường. Đến cội cây Nāga, Bồtát đi quanh 3 vòng, rồi Ngài trải 8 bó cỏ nơi cội cây Nāga về hướng Đông bắc, một Bảo tọa Chiến thắng hiện khởi cho Ngài, trên Bảo tọa Chiến thắng Bồtát ngồi kiết già, mặt hướng về Đông, Bốtát chiến thắng quân ma, khi mặt trời vừa ló dạng Ngài chứng Vô thượng Chánh giác.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Sumana.

Thắng hội I.

Đại phạm thiên khẩn cầu Đức Thế Tôn khai mở Giáo pháp, Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Ngài theo đường hư không đi đến khu vườn Mekhala gần thành Mekhala cách cây Nāga 18 gāvuta (1 gāvuta là 4 km), nơi ấy có 300 triệu vị Tỳkhưu theo Ngài ra đi xuất gia trước đây đến trú ngụ, trong đó có người em trai khác mẹ với Ngài là Vương tử Sarana và con trai quan Tế lễ sư (purohita) là Bhavitatta.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại, cho bánh xe pháp chạy đi, tế độ chúng sinh chứng đắc Thánh quả là một ngàn tỷ vị.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Evametena yogena; uddharanto mahājanaṃ.

Bodhesi paṭhamaṃ satthā; koṭisatasahassiyo.

“Với phương thức như vậy; nâng đở tế  độ đại chúng.

Bậc Đạo sư lần đầu tiên giác ngộ; một trăm ngàn 10 triệu vị”([29]) .

Thắng hội II.

Nơi cây xoài trong thành phố Sunandavatī, Đức Thế Tôn Sumana thi triển Song thông lực nhiếp phục chúng ngoại giáo. Sau đó Ngài thuết giảng lên Pháp thoại tế độ chúng sinh, có một ngàn tỷ vị chứng đắc Thánh quả.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn.

8- Yamhi kāle mahāvīro; ovadī titthiye gaṇe.

Koṭisahassābhisamiṃsu; dutiye dhammadesane.

“Vào thời Đấng Đại Hùng; giáo huấn đồ chúng ngoại giáo.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; lần thứ nhì Ngài giảng pháp” (sđd.8).

Thắng hội III.

Có lần chư thiên và nhân loại  bàn luận với nhau về tịch diệt (nirodha)([30]), không ai chấp nhận ai.

Vào buổi chiều, vua Arindama cùng hội chúng của mình đi đến bạch hỏi Đức Thế Tôn Sumana: Làm thế nào để nhập vào thiền Diệt? Làm thế nào để xuất khỏi thiền Diệt?.

Đức Thế Tôn giải đáp các câu hỏi, nhân đó Ngài thuyết lên pháp thoại tế độ 900 triệu nhân loại, chư thiên và Phạm thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội lần III của Ngài. Có Kinh văn sau.

10- Tadāpi dhammadesane; nirodhaparidīpane.

Navutikoṭisahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Cũng vào dịp giảng pháp; giải thích đầy đủ về tịch diệt.

Có 90 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội thứ ba”. (sđd. 10).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Sumana.

Tăng hội I.

Đức Thế Tôn khi an cư mùa mưa đầu tiên tại khu vườn Mekhala, gần thành Mekhala. Vào ngày Pavāraṇā (Tự tứ), có một ngàn tỷ vị Thánh Alahán được xuất gia theo cách “Etha bhikkhave…”, cùng nhau tụ hội để hành lễ Pavāraṇā, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát giữa đại chúng Tăng ấy.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

11- Sannipātā tayo āsuṃ; sumanassa mahesino.

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ; santacittāna tādinaṃ.

“Đã có ba lần tụ hội; của Đại ẩn sĩ Sumana.

Các bậc không còn ô nhiễm, trong sạch; tâm thanh tịnh kiên định ”.

12- Vassaṃvutthassa bhagavato; abhighuṭṭhe pavāraṇe.

Koṭisatasahassehi; pavāresi tathāgato.

Đức Thế Tôn sau khi an cư mùa mưa; vào ngày lễ Tự tứ.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; Đấng Như Lai  hành lễ Tự tứ”(sđd.12).

Tăng hội II.

Khi Đức Thế Tôn ngự trú nơi núi Kañcana cao một gāvuta (4 km), vua Arindama cùng 900 triệu tùy tùng đến yết kiến Đức Thế Tôn Sumana.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích hợp, tất cả đều chứng quả Alahán, xin xuất gia và được xuất gia theo cách “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội thứ II của Ngài, có Kinh văn sau.

13- Tatoparaṃ sannipāte; vimale kañcanapabbate.

Navutikoṭisahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Lần khác có sự tụ hội, ở núi Kañcana những vị trong sạch.

Có 9o ngàn 10 triệu vị, là lần tụ hội thứ hại” (sđd. 13).

Tăng hội III.

Khi vua trời Sakka cùng hội chúng chư thiên đến chiêm ngưỡng Phật tướng, bấy giờ có 800 triệu Thánh Tăng Alahán được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave…”. Giữa đại chúng Tăng, Đức Thế Tôn Sumana ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội III của Ngài, có Kinh văn sau.

14- Yadā sakko devarājā; buddhadassanupāgami.

Asītikoṭisahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

“Khi vua trời Sakka; đến diện kiến Đức Phật.

Có 80 ngàn 10 triệu vị; là cuộc tụ hội thứ ba”([31]).

Đức Thế Tôn thể hiện Song thông lực để nhiếp phục ngoại giáo ở kinh thành Sunandavatī([32]),

Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là Rắn chúa Atula có nhiều thần lực. Rắn chúa Atula biết tin Đức Phật đã xuất hiện trên thế gian, khi vua trời Sakka cùng các thiên nhân tùy tùng cùng với vua Arindama và tùy tùng của Đức vua đến hỏi Đức Thế Tôn về tịch diệt (nirodha), Rắn chúa Atula cùng với tùy tùng cũng tháp tùng  đến yết kiến Đức Thế Tôn Sumana.

Sau thời pháp thoại của Đức Thế Tôn, rắn chúa Atula vô cùng hoan hỷ, đã cúng dường đến Đức Phật và một tỷ Thánh Tăng Alahán trọn 7 ngày với những thức ăn thượng vị.

Vào ngày thứ 7, sau khi cúnng dường vật thực xong, Rắn chúa dâng đến Đức Thế Tôn Sumana cùng tất cả Tỳkhưu mỗi vị một bộ tam y quý và Rắn chúa Atula xin nương nhờ Tam bảo.

Đức Thế Tôn Sumana tiên tri rằng: “ Sau 2 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, Rắn chúa Atula này sẽ trở thành vị Chánh giác có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Sumana.

– Đức Thế Tôn Sumana cao 90 hắc tay, như cột trụ bằng vàng, hào quang từ thân của Ngài tỏa ra khắp 10 ngàn thế giới([33]).

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Sumana là Trưởng lão Saraṇa và Trưởng lão Bhāvitatta. Thị giả là Trưởng lão Udena.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Sumana là Trưởng lão ni Soṇā và Trưởng lão ni Upasoṇā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Sumana là NgàiVaruṇa và Ngài Saraṇa.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Sumana là bà Cālā và bà Upacālā.

Đức Thế Tôn Sumana sống đến 90 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi đại tự Aṅgāra. Bảo tháp thờ Xálợi của Ngài cao bốn dotuần được kiến tạo ngay trong Đại tự Aṅgāra.

Dứt lịch sử Đức Phật Sumana.

 


5- Đức Phật Revata.

Sau khi Đức Thế Tôn Sumana viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm dần xuống còn 10 năm, rồi tuổi thọ nhân loại tăng dần đến atăng kỳ năm, lại giảm xuống đến thời còn 60 ngàn năm thì Đức Phật Revata xuất hiện trên thế gian.

Theo thông lệ của chư Phật, Bồtát đang hưởng an lạc nơi cung trời Tusita (Đẩusuất), chư thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới thỉnh Bồtát giáng trần.

Sau khi quán xét 5 điều tròn đủ, Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Vipulā, cha của Bồtát là Đức vua Vipula cai trị nơi kinh thành Sudhaññavatī.

Bồtát Revata sống tại gia 6 ngàn năm trong ba cung điện: Cung điện Sudassana, cunng điện Ratanagghi và cung điện Āvela, mỗi cung điện có 10 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Bồtát là công nương Sudassanā.

Khi Bồtát Revata chứng kiến bốn điều: Già, bịnh, chết và vị samôn; Bồtát lìa bỏ kinh thành ra đi xuất gia trên cổ xe do các con ngựa thuần chủng kéo đi, có bốn đạo binh chủng: Tượng binh, mã binh, Xa binh và bộ binh theo hộ vệ Ngài. Trong ngày ấy, nàng Sudassanā vừa sinh ra người con trai là Thái tử Varuṇa.

Khi Bồtát xuất gia, có 10 triệu người cùng xuất gia theo hầu Ngài.

Bồtát khổ hạnh 7 tháng rồi thọ thực trở lại, hội chúng Samôn tùy tùng lìa bỏ Ngài.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Bồtát nhận bát cơm sữa của nàng Sādhudevi con gái của một trưởng giả dâng cúng.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cội cây Nāga (Mù u), trên đường đi Ngài nhận 8 bó cỏ của du sĩ lỏa thể Varunindhara cúng dường.

Khi đến côi cây Nāga, Bồtát đi vòng quanh cội cây ba vòng, rồi Ngài trải 8 bó cỏ nơi cội cây Nāga về hướng Đông bắc, một Bảo tọa Chiến thắng hiện khởi cho Bồtát, Ngài ngồi trên Bảo tọa mặt hương về Đông, sau khi nhiếp phục toàn bộ ma quân, khi ánh mặt trời vừa lên cũng là lúc Ngài chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Revata.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn sau 7 tuần hưởng hương vị giải thoát quanh 7 chỗ nơi cội cây Nāga, Đại phạm thiên thỉnh cầu Đức Thế Tôn khai mở pháp giải thoát đến chúng sinh. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.

Ngài theo đường hư không đến vườn Varuṇā, nơi có 10 triệu vị Tỳkhưu theo Ngài đi xuất gia khi trước đang trú ngụ.

Sau thời Chuyển pháp Luân, 10 triệu vị Tỳkhưu chứng Thánh quả Alahán, chư thiên, Phạm thiên thành đạt ba Thánh quả thấp không thể đếm được. Đây là Thắng hội I của Ngài. Có kinh văn sau.

3- Tassābhisamayā tīṇi; ahesuṃ dhammadesane.

Gaṇanāya na vattabbo; paṭhamābhisamayo ahu.

“Ngài có ba Thắng hội; trong sự Giảng pháp của Ngài.

Hôi chúng này không thể đếm được; là Thắng hội đầu tiên”([34]).

Thắng hội II.

Vào thời điểm Đức Thế Tôn du hành đến thành Uttara, đây là kinh đô của vua Arindama. Kinh thành này được gọi là Uttara vì vượt trội hơn tất cả những kinh thành khác.

Vị vua này có danh hiệu là Arindama vì chiến thắng tất cả những kẻ nghịch (sabbarindama).

Vua Arindama được tin Đức Thế Tôn Revata đến viếng kinh thành Uttara của mình, Đức vua cùng đại chúng tùy tùng của mình là 30 triệu người ra khỏi Hoàng thành đón tiếp Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, Đức vua cho thắp sáng đèn dài 3 gāvuta (= 12 km) .

Đức vua Arindama thỉnh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng ngự đến Hoàng cung thọ thực vào ngày mai, Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.

Đức vua Arindama cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳkhưu trọn 7 ngày. Vào ngày thứ 7, sau khi thọ thực xong rồi, Đức Thế Tôn với pháp thoại chúc phúc đến hội chúng, pháp thoại phù hợp với ý nghĩ của hội chúng (manonukūla), mang đến Thánh quả cho 10 ngàn triệu chúng sinh (nhân loại và thiên nhân). Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn:

4- Yadā arindamaṃ rājaṃ; vinesi revato muni.

Tadā koṭisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Khi ấy vua Arindama; được Bậc ẩn sĩ Revata chỉ dạy.

Có một ngàn 10 triệu vị (hiểu pháp); là Thắng hội thứ hai ”(sđd.4).

Thắng hội III.

Khi Đức Thế Tôn Revata trú ngụ gần thị trấn Uttara, Ngài an trú vào định Diệt thọ tưởng 7 ngày. Cư dân nơi thị trấn Uttara mang vật thực … đến cúng dường đại chúng Tỳkhưu, bạch hỏi rằng:

– Thưa các Tôn giả, Đức Thế Tôn hiện đang ở đâu?

– Này các gia chủ, Đức Thế Tôn đang an trú trong định Diệt thọ tưởng 7 ngày.

Vào ngày thứ 7, khi Đức Thế Tôn Revata xuất khỏi thiền Diệt thọ tưởng, cư dân mang vật thực … đến cúng dường Đức Thế Tôn Revata.

Nhân đó, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại đề cập đến ân đức của sự chứng đạt thiền Diệt, những điều kiện thành tựu chứng đạt Thiền Diệt.

Pháp thoại mang lại Thánh quả Alahán cho một tỷ chúng sinh (chư thiên và nhân loại). Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn.

5- Sattāhaṃ paṭisallānā; vuṭṭhahitvā narāsabho.

Koṭisataṃ naramarūnaṃ; vinesi uttame phale.

Sau 7  ngày ra khỏi thiền tịnh; Bậc Nhân Ngưu đã chỉ dạy.

Một trăm 10 triệu  nhân thiên; chứng đạt quả tối thượng”(sđd.5).

*Ba Tăng hội của Đức Thế Tôn Revata.

Tăng hội I.

Nơi kinh thành Sudhaññavatī (là sinh quán của Bồtát Revata), giữa Đại chúng TăngAlahán không thể tính đếm được, không mời tự đến để hành lễ Uposatha (Bốtát). Đức Thế Tôn Revata ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Một lần khác, nơi thành phố Mekhala, có đến một tỷ Thánh Tăng Alahán được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”, cùng nhau tụ hội lại để hành lễ Uposatha (Bốtát). Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát đến hội chúng Tăng ấy. Đây là Tăng hội II củaNgài. Có Kinh văn sau.

7- Atikkantā gaṇanapathaṃ; paṭhamaṃ ye samāgatā.

Koṭisatasahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Hội chúng không thể đếm; lần đầu tụ hội lại.

Có 100 ngàn 10 triệu; là lần tụ hội thứ hai” (sđd. 7).

Tăng hội III.

Cũng nơi thành phố Mekhala này, vị Thượng thủ thinh văn đệ I của Đức Thế Tôn là NgàiVaruṇa lâm trọng bệnh, bấp bênh giữa sống và chết.

Đức Thế Tôn Revata ngự đến kinh thành Mekhala viếng thăm NgàiVaruṇa, Ngài thuyết lên pháp thoại đề cập đến Tam tướng, có đến một ngàn tỷ nam cư sĩ đến thăm hỏi bịnh tình của Trưởng lão Varuṇa, được nghe pháp thoại của Đức Thế Tôn, chứng đắc Thánh quả Alahán. Tất cả xin được xuất gia và Đức Thế Tôn đã cho tất cả xuất gia bằng cách “Etha bhikkhave …”.

Vào đêm trăng tròn, tất cả tụ hội lại để hành lễ Uposatha (Bốtát), giữa Đại chúng TăngAlahán, Đức Thế Tôn Revata ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

9- Tassa gilānapucchāya; ye tadā upagatā munī.

Koṭisahassā arahanto; tatiyo āsi samāgamo.

“Hỏi thăm bịnh vị ấy, Bậc Ẩn sĩ đến nơi ấy.

Có 100 ngàn 10 triệu; là lần tụ hội thứ ba”. (sđd. 9).

*Tiền thân của Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, thiền thân Đức Phật Gotama là Bàlamôn có tên là Atideva cư trú nơi thành Rammavatī, Ngài tinh thông mọi nghệ thuật của giai cấp Bàlamôn.

Có lần Bàlamôn Atideva đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, nghe pháp thoại từ Đức Thế Tôn Revata, Bàlamôn Atideva hân hoan với pháp thọai của Đức Thế Tôn, tán thán ân đức của Đức Thế Tôn như: Giới , định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến Revata với 1.000 kệ ngôn.

Bàlamôn Atideva cúng dường đến Đức Thế Tôn chiếc y choàng trị giá 1.000 đồng vàng của mình. Nhân đó Đức Thế Tôn Revata tiên tri trước đại chúng rằng: “ Sau 2 atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, Bàlamôn Atideva này sẽ là bậc Chánh giác tương lai có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Revata.

Đức Phật Revata cao 80 hắc tay, hào quang của Ngài chiếu sáng xa 1 dotuần, cả ngày lẫn đêm.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Revata là Trưởng lão Varuṇa và Trưởng lão Brahmadeva. Thị giả là Trưởng lão Sambhava.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Revata là Trưởng lão ni Bhadā và Trưởng lão ni Subhaddā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Revata là Ngài Paduma và Ngài Kuñjara.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Revata là bà Sirimā và bà Yasavatī.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Revata là 60 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi vườn hoa Mahāsāra, trước khi viên tịch Đức Phật Revata nguyện Xálợi của Ngàn phân tán khắp các phương([35]).

Bảo tháp thờ Xá lợi của Ngài được nhân loại và chư thiên lễ bái cúng dường.

Dứt lịch sử Đức Phật Revata.

6- Đức Phật Sobhita.

Sau khi Đức Phật Revata viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm dần đến khi còn 10 năm rồi lại tăng dần đến atăngkỳ năm. Sau đó lại giảm xuống, khi nhân loại có tuổi thọ là 90 ngàn năm thì Đức Thế Tôn Sobhita hiện khởi trên thế gian.

Đức Thế Tôn Sobhita thực hành pháp Balamật viên mãn với thời gian là 4 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất.

Bồtát sống nơi cung trời Tusita thọ hưởng an lạc, chư thiên và Phạm thiên từ 10 ngàn thế giới đi đến thỉnh Bồtát giáng sinh về cõi người để chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

Sau khi quán xét thấy hội đủ năm điều, Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Sudhammā, cha Ngài là Đức vua Sudhamma trị vì kinh thành có tên là Sudhamma.

Sau 10 tháng trú trong thai bào, Bồtát ra khỏi lòng mẹ nơi vườn hoa Sudhamma.

Bồtát Sobhita sống đời tại gia 9 ngàn năm trong ba cung điện là: Cung điện Kumuda, cung điện Nalina và cung điện Paduma với 70 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là công nương Makhiladevī([36]) (nàng còn có tên gọi là Samaṅgī ([37]).

Khi nàng Makhiladevī vừa sinh ra người con trai là Thái tử Sīha, Bồtát thấy hình ảnh vị Samôn, kinh cảm trí (saṃvegañāṇa) hiện khởi đến Bồtát Sobhita, Ngài quyết định xuất gia.

Bồtát Sobhita xuất gia ngay chính trong tòa cung điện Ngài đang sống, Bồtát thực hành pháp niệm hơi thở, chứng đắc Tứ thiền, cũng chính trong tòa cung điện này, Ngài thực hành khổ hạnh 7 ngày.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Bồtát thọ dụng bát cơm sữa do chính tay bà Hoàng Makhiladevī cúng dường.

Sau khi thọ dụng cơm sữa, Ngài phát nguyện rằng: “Rất đông chúng sinh đang tìm kiếm ta, cung điện được trang hoàng xinh đẹp này hãy đi vào không trung, đến nơi ta sẽ giác ngộ. Tất cả những người của cung điện này hãy ra đi theo ý của họ”.

Khi Bồtát Sobhita phát nguyện vừa dứt lời, tòa cung điện bay bổng lên không trung trước sự kinh ngạc và hân hoan của cư dân trong kinh thành Sudhamma. Hào quang từ cung điện phát ra chiếu sáng khắp mọi hướng, gió thổi vào những chùm chuông treo quanh cung điện tạo ra những âm thanh vi diệu như những nhạc công đại tài tấu lên những bản nhạc tuyệt diệu. Các nữ nhạc trong cung điện cùng nhau hát lên những khúc ca với âm dịu du dương làm say đắm lòng người nghe.

Cung điện đi trong không trung không quá nhanh cũng không quá chậm, không quá cao cũng không quá thấp, bốn đạo binh chủng gìn giữ  cung điện của Bồtát cũng bay lơ lửng trong không trung, như bốn đoàn binh trời theo bảo hộ cung điện.

Cung điện theo đường hư không đi đến vùng trung tâm trái đất rồi hạ xuống nơi cội cây Nāga cao 18 hắc tay với tàn nhánh tỏa rộng.

Các cung nữ luôn cả bà Hoàng Makhiladevī cũng tỏa đi khắp nơi để vui thích với cảnh trí thiên nhiên của vùng đất trung tâm quả địa cầu. Bốn đoàn binh chủng cũng tản mác khắp nơi,

Bồtát ngồi yên nơi trong cung điện, sau khi chiến thắng những đạo quân ma, Ngài chứng đắc Vô thượng Chánh giác khi mặt trời vừa ló dạng.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Sobhita.

Thắng hội I.

Trải qua 49 ngày hưởng hương vị giải thoát ở 7 nơi quanh cội cây Nāga, Đức Phật Sobhita nhận lời khai mở pháp giải thoát của vị Đại phạm thiên.

Ngài suy xét: “Ai là người được tế độ trước tiên?”. Ngài thấy duyên lành của hai vương tử Asama và Sumetta (là hai người em khác mẹ với Ngài).

Đức Thế Tôn Sobhita theo đường hư không đến vườn Ngự Uyển Sudhamma, bảo người giữ vưởn gọi hai vương tử  Asama và Sumetta đến. Hai vương tử cùng đông đảo tùy tùng của mình đi đến vườn Ngự Uyển Sudhamma đảnh lễ Đức Thế Tôn Sobhita.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại Chuyển Pháp luân, tế độ vô số chúng sinh (nhân loại, chư thiên và Phạm thiên) chứng đắc Thánh quả.

 Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Tāya parisāya sambuddho; dhammacakkaṃ pavattayi.

Gaṇanāya na vattabbo; paṭhamābhisamayo ahu.

“Đấng Chánh giác có ba lần lãnh hội pháp; Ngài chuyển  động bánh xe pháp.

Hội chúng không thể đếm được; là Thắng hội đầu tiên”([38]).

 Thắng hội II.

Vào dịp Đức Thế Tôn Sobhita thể hiện Song thông lực nơi cây Cittapātalī, gần cổng thành Sudassana để nhiếp phục ngoại đạo. Rồi Ngài ngự lên cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi ba), thuyết lên tạng Thắng pháp (Abhidhamma), dứt pháp thoại có đến 900  triệu chư thiên và Phạm thiên chứng đạt Thánh quả Alahán, trong đó có vị thiên tử Sudhamma (hậu thân của bà Hoàng Sudhammā, là mẹ của Bồtát Sobhita).

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Tato parampi desente; marūnañca samāgame.

Navutikoṭisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Lần khác khi giảng pháp, nơi hội chúng chư thiên.

Có 90 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội thứ hai” (sđd.5).

Thắng hội III.

Vương tử Jayasena cho kiến tạo một Đại tự rộng một dotuần , ngoài ra còn kiến tạo một vườn hoa với những cây quý như: Asoka (Vô ưu),  Campaka, Punnāga, cây có lỏi cứng, Vakula … cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

Trong lễ dâng cúng Đại tự và vườn hoa quý, Đức Thế Tôn Sobhita phúc chúc bằng thời pháp thoại thích hợp.

Dứt pháp thoại có mười ngàn triệu chúng sinh chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Tassa yāgaṃ pakittento; dhammaṃ desesi cakkhumā.

Tadā koṭisahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Khi vị ấy cúng dường; Bậc Hữu Nhãn giảng pháp.

Nơi ấy có một ngàn 10 triệu; là Thắng hội lần ba” (sđd.7).

*Ba Tăng hội của Đức Thế Tôn Sobhita.

Tăng hội I.

Vua Uggata trị vì nơi kinh thành Sunandavatī, vua Uggata kiến tạo  nơi kinh thành Sunandavatī, ngôi Đại tự  Surinda (Surindārāma) cúng dường đến Đức Thế Tôn Sobhita và chư Tỳkhưu Tăng.

Trong lễ hội cúng dường Tự viện Sunanda, có một tỷ Alahán xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …” tham dự.

Vào đêm trăng tròn của ngày cúng dường tự viện, một ngàn triệu vị Thánh Alahán tụ hội lại để hành lễ Bốtát (uposatha).

Đức Thế Tôn Sobhita đã ban lời Giáo giới giải thoát đến hội chúng Tăng ấy. Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Sannipātā tayo āsuṃ; sobhitassa mahesino.

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ; santacittāna tādinaṃ.

“Vị có ba Tăng hội; là Bậc Đại ẩn sĩ Sobhila.

Không còn ô nhiễm, trong sạch; có tâm an tịnh như vậy”.

9-Uggato nāma so rājā; dānaṃ deti naruttame.

Tamhi dāne samāgañchuṃ; arahantā satakoṭiyo.

“Vua Uggata; cúng dường đến bậc Tối Thượng.

Trong lần cúng dường này; có 100 koṭi Alahán hội lại”(sđd.8-9).

Tăng hội II.

Lại nữa, vua Uggata xây dựng ngôi đại tự Dhammaganārāma trong thành phố Mekhala cúng dường đến Đức Phật Sobhita và Tăng chúng.

Có 900 triệu Alahán tụ hội lại để hành lễ Uposadha (Bốtát), Đức Thế Tôn Sobhita ban lời Giáo giới giải thoát đến hội chúng Tăng ấy.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

10- Punāparaṃ puragaṇo; deti dānaṃ naruttame.

Tadā navutikoṭīnaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Vào lần khác, nhóm người tụ hội; dâng cúng vật thí đến Đấng Tối Thượng.

Khi ấy có 90 mười triệu vị; là lần tụ hội hai”(sđd.10).

 Tăng hội III.

Đức Thế Tôn Sobhita trú ngụ nơi cung trời Tāvatiṃsa ba tháng (tính theo cõi nhân loại) để thuyết tạng Thắng pháp.

Sau đó Ngài ngự về nhân giới vào ngày trăng tròn, có 800 triệu vị Thánh Alahán tụ hội lại để hành lể Bốtát.

Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát trước Hội chúng Tăng ấy.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có kinh văn sau.

11- Devaloke vasitvāna; yadā orohatī jino.

Tadā asītikoṭīnaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

“Sau khi đã cư ngụ cõi trời; Đấng Chiến Thắng xuống trần.

Khi ấy có 80 mười triệu; là lần tụ hội thứ ba”(sđd.11).

* Tiền thân Đức Phật Gotama.

Bấy giờ  nơi thành Rammavatī, có một Bàlamôn kiệt xuất là Sujāta.

Vào một lần an cư mùa mưa của Đức Thế Tôn Sobhita và Tăng chúng nơi thành Rammavatī, Bàlamôn Sujāta nghe được pháp thoại của Đức Thế Tôn, Bàlamôn Sujāta quy ngưỡng Tam Bảo.

Bàlamôn Sujāta cúng dường vật thực đến Đức Phật cùng Tăng chúng trọn cả ba tháng mùa mưa.

Đức Thế Tôn tán thán công hạnh của Bàlamôn Sujāta, tiên tri giữa Đại chúng rằng: “ Sau 2 atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất nữa, Bàlamôn Sujāta là vị Chánh giác tương lai, có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Sobhita.

Đức Phật Sobhita cao 58 hắc tay, hào quang của Ngài chiếu sáng khắp 10 phương xa bao nhiêu tùy theo ý của Ngài

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Sobhita là Trưởng lão Asama và Trưởng lão Sunetta. Thị giả là Trưởng lão Anoma.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Sobhita là: Trưởng lão ni Nakulā và Trưởng lão ni Sujātā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Sobhita là Ngài Ramma và Ngài Sudatta.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Sobhita là bà Nakulā và bà Cittā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Sobhita là 90 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi tự viện Sīha, trước khi viên tịch, Ngài nguyện Xálợi của Ngài phân tán khắp nơi và được nhân lọai cùng chư thiên lập những Bảo tháp tôn thờ Xálợi của Ngài, ngày đêm lễ bái cúng dường.

Phụ lục.

*Trưởng lão Kaṇhadinna([39]).

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Sobhita, tiền thân của Ngài có cúng dường đến Đức Phật Sobita bông punnāga([40]).

Một lần khác, khi ở Cittakūṭa (núi Citta),tiền thân của Ngài có cúng dường đến Đức Phật Sobhita trái  giripunnāga, Ngài chính là Trưởng lão Giripunnāgiya được đề cập trong tập Apadāna (Ký sự)([41]).

Dứt lịch sử Đức Phật Sobhita.

Sau khi Đức Phật Sobhita viên tịch, trải qua 1 atăng kỳ trái đất không có vị Chánh giác nào xuất hiện trên thế gian.

Tiếp đến một kiếp trái đất có 3 vị Chánh giác xuất hiện (gọi là varakappa), là: Đức Phật Anomadassī, Đức Phật Paduma và Đức Phật Narada.

7- Đức Phật Anomadassī.

Sau khi hoàn tất 30 pháp Balamật với thời gian là 16 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, Bồtát tái sinh về cõi Tusita (Đẩu suất).

Theo lời thỉnh cầu của chư thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới, Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Yasodharā, cha Bồtát là Đức vua Yasavā trị vì nơi kinh thành Candavatī.

Khi Bồtát còn nằm trong thai bào, một vầng hào quang từ thân bà Hoàng Yasodharā tỏa ra khoảng 80 hắc tay, vầng hào quang này át cả ánh sáng mặt trời và mặt trăng.

Sau 10 tháng nằm trong thai bào, Bồtát ra khỏi lòng mẹ nơi vườn hoa Sunanda([42]), có một trận mưa 7 loại châu báu rơi xuống, người ta mải mê  ngắm nhìn những giọt mưa châu ngọc xinh đẹp. Do vậy, vị Thái tử  sơ sinh được đặt tên là Anomadassī.

Bồtát Anomadassī sống tại gia 10 ngàn năm trong ba tòa Cung điện: Cung điện Siri, cung điện Upasiri và cung điện Vaḍḍha([43]), có 23 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là công nương Sirimā.

Khi thấy  được đầy đủ bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn, Bồtát Anomadassī quyết định xuất gia, Ngài dùng kiệu ra đi xuất gia, có 30 triệu tùy tùng theo Ngài cùng xuất gia, vào ngày hôm ấy, nàng Sirimā vừa sinh ra Thái tử Upavāna.

Bồtát khổ hạnh 10 tháng, rồi Ngài thọ thực trở lại, hội chúng Samôn tùy tùng lìa bỏ Ngài đến vườn Sudassana gần thành Subhavatī trú ngụ.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Bồtát đi đến làng Bàlamôn Anupama thọ nhận bát cơm sữa do nàng Anupamā con của trưởng giả Anupama cúng dường.

Vào buổi chiều từ rừng cây Sāla, Bồtát đi đến cội cây Ajjuna, Ngài nhận 8 bó cỏ của du sĩ lỏa thể Anupama cúng dường.

Bồtát trải 8 bó cỏ nơi cội cây Ajjuna về hướng Đông bắc, một Bảo tọa Chiến thắng hiện khởi cho Ngài.

Bồtát Anomadassī ngồi trên Bảo tọa chiến thắng quân ma, khi mặt trời vừa lên Ngài chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

Khi ấy phước tướng của Đức Phật hiển lộ, bất kỳ người hay chư thiên,  Phạm thiên khi nhìn thấy Phật tướng đều phát sinh tâm hân hoan.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Anomadassī.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn Chuyển pháp luân nơi vườn Sudassana gần thành Subhavatī, tế độ chúng sinh chứng đắc Thánh quả không thể đếm được, trong đó có 30 triệu vị Tỳkhưu xuất gia theo Ngài trước đây chứng đạt Thánh quả Alahán.

Đây là thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Dhammābhisamayo tassa; iddho phīto tadā ahu.

Koṭisatāni abhisamiṃsu; paṭhame dhammadesane.

“Thắng hội pháp của vị ấy; thành tựu với số lượng.

Hằng trăm 10 triệu không tính được; là lần giảng pháp đầu tiên”([44]).

Thắng hội II.

Sau khi thể hiện Song thông lực nơi cây Asana gần cổng thành Osadhī để nhiếp phục chúng ngoại đạo.

Đức Thế Tôn ngự lên cung trời Tāvatiṃsa thuyết lên tạng Thắng pháp trọn ba tháng tính theo cõi nhân loại, tế độ  800 triệu chư thiên và Phạm thiên chứnng đạt Thánh quả.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Tato paraṃ abhisamaye; vassante dhammavuṭṭhiyo.

Asītikoṭiyobhisamiṃsu; dutiye dhammadesane.

“Lại Thắng hội khác; cơn mưa pháp trút xuống.

Có 80 mười triệu vị lãnh hội; lần thứ nhì giảng pháp”(sđd.6).

Thắng hội III.

Một lần khác, Đức Thế Tôn thuyết lên bài kinh Maṅgala (Hạnh phúc), tế độ 780 triệu chúng sinh chứng đạt Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Tatoparañhi vassante; tappayante ca pāṇinaṃ.

Aṭṭhasattatikoṭīnaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Lại lần khác, cơn mưa (pháp); làm mát dịu chúng sinh.

Có 78 mười triệu vi; là Thắng hội lần ba” (sđd.7).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Anomadassī.

Tăng hội I.

Một thời Đức Thế Tôn trú ngụ nơi thành Soreyya, Ngài thuyết pháp thoại tế độ vua Isidatta cùng với 800 ngàn tùy tùng của Đức vua.

Dứt pháp thoại, tất cả đều chứng Thánh quả Alahán và được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Sannipātā tayo āsuṃ; tassāpi ca mahesino.

Abhiññābalappattānaṃ; pupphitānaṃ vimuttiyā.

“Có ba lần tụ hội; của Bậc Đại Ẩn sĩ ấy.

Bậc chứng đạt Thắng trí lực; đã kết hoa giải thoát”.

9- Aṭṭhasatasahassānaṃ; sannipāto tadā ahu.

Pahīnamadamohānaṃ; santacittāna tādinaṃ.

Có 800 ngàn vị; đã tự tụ hội lại.

Đã diệt trừ tham, si; tâm an tịnh kiên định” (sđd.8-9)..

Tăng hội II.

Một lần khác, nơi thành Rādhavatī Đức Thế Tôn thuyết pháp thoại tế độ vua Madhurindhara cùng với 700 ngàn tùy tùng.

Dứt Pháp thoại tất cả đều chứng Thánh quả Alahán và được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

10- Sattasatasahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

Anaṅgaṇānaṃ virajānaṃ; upasantāna tādinaṃ.

“Có 700 ngàn vị; là lần tụ hội thứ hai.

Không ô nhiễm, không bụi trần; có sự an tịnh kiên định” (sđd. 10).

Tăng hội III.

Cũg nơi kinh thành Soreyya, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại tế độ vua Soreyya cùng với 600 ngàn tùy tùng.

Dứt Pháp thoại tất cả đều chứng Thánh quả Alahán và được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

11- Channaṃ satasahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

Abhiññābalappattānaṃ; nibbutānaṃ tapassinaṃ.

“Có 600 ngàn vị; là lần tụ hội thứ ba.

Đã đạt Thắng trí lực; nỗ lực chứng tịch diệt” (sđd.11).

*Tiền thân của Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là một đại tướng dạxoa, cai quản vô số dạxoa.

Được tin Đức Phật hiện khởi trên thế gian, vị tướng dạxoa kiến tạo một đại sảnh bằng 7 loại ngọc báu có hình dạng như mặt trăng, vô cùng nguy nga tráng lệ, cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng.

Đồng thời Tướng dạxoa còn cúng dường vật thực đến Đức Phật và Tăng chúng trọn 7 ngày.

Vào ngày thứ 7, Đức Thế Tôn Anomadassī tiên tri rằng: “Sau 1 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, tướng dạxoa này trở thành bậc Chánh giác có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Anomadassī.

Đức Phật Sobhita cao 58 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng tự nhiên là 12 dotuần.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Anomadassī là Trưởng lão Nisabha và Trưởng lão Anoma. Thị giả là Trưởng lão Anoma.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Anomadassī là Trưởng lão ni Sundarī  và Trưởng lão ni Sumanā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Anomadassī là Ngài Nandivaḍḍha  và Ngài Sirivaḍḍha.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Anomadassī là bà Uppalā và bà Padumā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Anomadassī  là 100 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi khu vườn Dhammārāma, Xálợi của Ngài được tôn thờ trong Bảo tháp cao 25 dotuần.

Phụ lục.

*Chính thời pháp của trưởng lão Nisabha làm cho đạo sĩ Sarada có ước nguyện trở thành vị Thượng thủ thinh văn tay phải của Đức Chánh giác tương lai (là Ngài Sāriputta sau này), sau đó trưởng giả Sirivaḍḍha đã ước nguyện thành Thượng thủ thinh văn tay trái (là Ngài Moggallāna sau này) và Đức Thế Tôn Anomadassī đã thọ ký cho hai vị ấy.

*Cũng trong thời Đức Phật Anomadassī, tiền thân của Trưởng lão Bakkula là một đạo sĩ khổ hạnh.

Khi Đức Phật Anomadassī bị bịnh, đạo sĩ khổ hạnh đã tìm thuốc quý cúng dường đến Đức Phật([45]).

*Trưởng lão Mattaji.

Trong thời Đức Phật Gotama còn tại tiền, Ngài sinh ra trong xứ Magadha, con của một gia tộc Bàlamôn, được đặt tên là Mettaji.

Thấy được đau khổ của các dục lạc, Ngài xuất gia làm ẩn sĩ.

Được nghe sứ mạng của ĐứcThế Tôn là tế độ chúng sinh thoát khỏi khổ luân hồi, do tiền duyên thúc đẩy ẩn sĩ Mettaji đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, bạch hỏi về sự tu tập được trăng trưởng hay tu tập bị thối giảm (pavattiyo).

Sau khi nghe Đức Thế Tôn giải đáp, Ngài hân hoan xin được xuất gia trong Tăng đoàn, nỗ lực hành pháp chẳng bao lâu chứng Thánh quả Alahán.

Để nói lên chánh trí của mình, Ngài có kệ ngôn sau.

94- ‘Namo hi tassa bhagavato; sakyaputtassa sirīmato.

Tenāyaṃ aggappattena; aggadhammo sudesito’ti.

“Kính lễ Đức Thế Tôn ấy, Đấng an lành giòng Thích tử.

Ngài chứng đạt tối thượng; thuyết giảng pháp tối thượng”([46]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Anomadassī, tiền thân Ngài Mettaji là một gia chủ, có xây dựng một tường rào quanh cội Bồđề.

Vào 100 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài là vị vua có vương hiệu là Sabbaghana (Sabbosana)([47]).

Ngài chính là trưởng lão Anulomadāyaka nói trong tập Apadāna([48]).

*Trưởng lão Ambādāyaka.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Anomadassī, tiền thân của Ngài là con khỉ ở núi Tuyết, có dâng lên Đức Phật Anomadassī một quả xoài, do phước báu này, hâu thân con khỉ được tự tại trên thiên giới 57 kiếp trái đất và làm vua 14 lần với vương hiệu Ambaṭṭhaja([49]).

*Trưởng lão Pañcasilāsamādāniya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn Mahāsāla trong thành Vesāli, chứng đắc Thánh quả Alahán khi được 7 tuổi.

Khi nghe cha mẹ thọ trì 5 giới, Ngài nhớ lại tiền kiếp, vào thời Đức Phật Anomadassī, tiền thân của Ngài là người chèo đò ở thành Candavatī.

Người chèo đò này quy ngưỡng Tam bảo và thọ trì năm giới từ nơi Trưởng lão Nisabha (một trong hai nam cận sự tối thắng của Đức Phật Anomadassī), giữ gìn 5 giới trong sạch suốt 10 ngàn năm.

Tiền thân Ngài làm vua trời Sakka 30 lần, làm vị Đại đế nơi nhân giới là 500 lần([50]).

*Trưởng lão Bharata.

Ngài là một gia chủ ở thành Campā, nghe Ngài Soṇa Koḷivisa xuất gia, Ngài cùng em trai là Nandaka cũng xuất gia trong Tăng đoàn, không bao lâu Ngài chứng Thánh quả Alahán.

Ngài cùng em trai Nandaka đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, trình lên Đức Thế Tôn về sự tu tập Phạmhạnh của mình.

Trước Đức Thế Tôn, Ngài nói lên hai kệ ngôn tuyên bố chánh trí của mình, để sách tấn Nandaka và giúp đở Nandaka chứng đạt Thắng trí.

175 – Ehi nandaka gacchāma; upajjhāyassa santikaṃ.

Sīhanādaṃ nadissāma; buddhaseṭṭhassa sammukhā.

“Hãy đến này Nandaka; cùng đến gần Tế độ sư.

Rống lên tiếng rống sư tử; trước Đức Phật tối thượng”.

176- Yāya no anukampāya; amhe pabbājayī muni.

So no attho anuppatto; sabbasaṃyojanakkhayo’’ti.

“Có lòng bi mẫn với chúng ta; Bậc Ẩn sĩ cho chúng ta xuất gia.

Ta thành đạt mục đích; cắt đứt tất cả mọi trói buộc”([51]).

Tiền sự.

Vào thời ĐứcPhật Anomadassī, tiền thân của Ngài có cúng dường đến Đức Phật đôi dép đẹp rất tiện dụng([52]).    

Dứt lịch sử Anomadassī.

 

8- Đức Phật Paduma.

Sau khi Đức Phật Anomadassī viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm dần đến khi còn 10 năm rồi lại tăng dần lên đến atăng kỳ năm.

Sau đó lại giảm xuống cho đến thời tuổi thọ là 100 ngàn năm, khi ấy Đức PhậtPaduma xất hiện trên thế gian.

Khi đã tròn đủ 30 pháp Balamật, Bồtát tái sinh về cõi Tusita, rồi giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Asamā (bà có tên là Asamā vì có sắc đẹp không ai sánh nổi), cha Ngài là Đức vua Asama([53]), cai trị vì kinh thành Campa.

Bồtát sinh ra nơi vườn hoa Campaka, bấy giờ có một trận mưa hoa sen rơi khắp cõi Diêmphù (Jambu). Do sự kiện này, Bồtát được đặt tên là Paduma (Liên hoa).

BồtátPaduma sống đời tại gia là 10 ngàn năm, trong ba tòa cung điện: Cung điện Uttara, cung điện Vasuttara và cung điện Yasuttara([54]), mỗi cung điện có 10 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là Công nương Uttarā.

Khi thấy đầy đủ bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn, Bồtát Paduma quyết định ra đi xuất gia, Ngài ra đi xuất gia trên cổ xe do hai con ngựa thuần chủng kéo đi, theo Ngài có 10 triệu nam tử tùy tùng cùng xuất gia làm Samôn. Vào hôm ấy nàng Uttarā vừa sinh ra Thái tử Ramma.

Bồtát thực hành khổ hạnh 8 tháng, rồi Ngài thọ thực lại, hội chúng tùy tùng lìa bỏ Ngài.

Vào ngày Ngài chứng Vô thượng Chánh giác, Bồtát thọ dụng bát cơm sữa của nàng Dhaññavatī, con gái của trưởng giả Sudhañña cư ngụ nơi thành phố Sudhaññavatī cúng dường.

BồtátPaduma nhận tám bó cỏ của du sĩ Titthaka, Ngài chứng Vô thượng Chánh giác nơi cội cây Soṇa.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Paduma.

Thắng hội I.

 Đức Thế Tôn Paduma Chuyển pháp luân nơi vườn Dhanañjaya gần thành Dhaññavatī, tế độ 1o triệu vị Tỳkhưu xuất gia với Ngài chứng đạt Thánh quả Alahán.Thời pháp thoại này mang Thánh quả đến một tỷ chúng sinh. Đây là Thắng hội I của Ngài.

Thắng hội II.

Khi Đức Thế Tôn Paduma trở về Hoàng cung tế độ quyến thuộc, Ngài truyền phép xuất gia đến vương tử Sāla và vương tử Upasāla là hai người em trai khác mẹ với Ngài cùng với tùy tùng của hai vương tử. Pháp thoại mang đến Thánh quả cho 900 triệu chúng sinh.

Đây là Thắng hội II của Ngài, có Kinh văn sau.

4- Paṭhamābhisamaye buddho; koṭisatamabodhayi.

Dutiyābhisamaye dhīro; navutikoṭimabodhayi.

“Đức Phật có Thắng hội đầu tiên; là 100 mười triệu vị.

Bậc trí tuệ có Thắng hội lần hai; 90 mười triệu giác ngộ”([55]).

Thắng hội III.

Khi thấy con trai Ngài là Ramma trí đã tăng trưởng, Đức PhậtPaduma thuyết kinh Giáo giới Ramma, mang Thánh quả đến 800 triệu chúng sinh chứng đắc Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài, có Kinh văn sau.

5- Yadā ca padumo buddho; ovadī sakamatrajaṃ.

Tadā asītikoṭīnaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“ Và khi Đức Phật Paduma; giáo huấn người con trai của mình.

Có 80 mười triệu; là Thắng hội thứ ba”(sđd.5).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Paduma.

Tăng hội I.

Đức vua Bhāvitatta([56]) cùng với tùy tùng là một tỷ (100 ngàn koṭi) người đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Thấy được duyên lành Thánh quả của đại chúng này, Đức Thế Tôn thuyết lên Pháp thoại thích hợp.

Dứt pháp thoại tất cả đếu chứng Thánh quả Alahán, được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Vào ngày trăng tròn, tất cả không mời cùng tụ hội nơi Đức Thế Tôn Paduma. Giữa đại chúng Tăng 100 ngàn koṭi vị, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Sannipātā tayo āsuṃ; padumassa mahesino.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

“Có ba lần tu hội; Bậc Đại ẩn sĩ Paduma.

Có 100 ngàn mười triệu vị; là tụ hội đầu tiên”(sđd.6).

Tăng hội II.

Khi Đức Thế Tôn Paduma an cư  mùa mưa trong rừng gần thành phố Usabhavatī. Vào ngày hành lễ Pavāraṇā (Tự tứ), đại chúng trong thành Usabhavatī cùng nhau đến nơi Đức Thế Tôn Paduma đang an cư mùa mưa, cúng dường đến Đức Thế Tôn nhiều lễ vật đi theo với niềm tịnh tính đặt nơi Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích ứng, dứt pháp thoại có 300 ngàn thiện giatử chứng đắc Thánh quả Alahán, rồi tất cả xin được xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật, tất cả được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Khi các cư sĩ hiểu phước báu cùng lợi ích cao thượng về sự cúng dường y Kaṭhina, cùng nhau tiến hành thực hiện lễ cúng dường y Kaṭhina đến các vị Tỳkhưu.

Trưởng lão Sāla vị Tướng quân Chánh pháp (Dhammasenāpati) được các vị Tỳkhưu an cư mùa mưa cử ra nhận lãnh y Kaṭhina. Các vị Tỳkhưu cùng phụ giúp Tướng quân Chánh pháp cắt vải Kaṭhina, may y … Đức Phật có tham dự một phần như xỏ kim …

Sau khi tiến hành nhận lãnh y kaṭhina xong,  vào đêm trăng tròn, giữa đại chúng Tăng có 300 ngàn vị TỳkhưuAlahán, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Kathinatthārasamaye; uppanne kathinacīvare.

Dhammasenāpatitthāya; bhikkhū sibbiṃsu cīvaraṃ.

“Vào thời điểm tiến hành Kaṭhina; y kaṭhina phát sinh lên.

Có Tướng quân chánh pháp; các Tỳkhưu may y, giao y cho vị ấy”.

8- Tadā te vimalā bhikkhū; chaḷabhiññā mahiddhikā.

Tīṇi satasahassāni; samiṃsu aparājitā.

“Các Tỳkhưu trong sạch; có sáu thắng trí, đại thần lực.

 Có 300 ngàn vị; những vị không còn bị khuất phục”(sđd.7-8).

Tăng hội III.

Vào dịp khác, Đức Thế Tôn Paduma an cư mùa mưa trong khu rừng giống như rừng Gosiṅga(Sừng bò), cư dân quanh vùng đi đến cúng dường Đức Thế Tôn và Tăng chúng, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích ứng.

Dứt pháp thoại có 200 ngàn thiện gia tử chứng đắc Thánh quả Alahán, được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

9- Punāparaṃ so narāsabho; pavane vāsaṃ upāgami.

Tadā samāgamo āsi; dvinnaṃ satasahassinaṃ.

“Vào dịp  khác, bậc Nhân Ngưu; đã an cư mùa mưa trong rừng.

Có cuộc tụ hội nơi đây; có 200 ngàn vị”(sđd.9).

*Tiền thân Đức Phật  Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân của Đức Phật Gotama là sư tử vương.

Khi Đức Thế Tôn Paduma ngự trú trong rừng, Sư tử chúa trong thấy Đức Thế Tôn Paduma đang an trú trong định Diệt thọ tưởng, sư tử chúa khởi tâm tịnh tín, đi vòng quanh Đức Thế Tôn ba vòng, rồi rống lên ba tiếng rống để xua đuổi thú rừng, giữ an tịnh cho Đức Thế Tôn.

Sư tử chúa nằm hầu Đức Thế Tôn trọn 7 ngày, không đi tìm vật thực, trong tâm sư tử chúa luôn ghi nhận hình ảnh của Đức Thế Tôn với sự hân hoan.

Sau 7 ngày, Đức Thế Tôn xuất khỏi thiền Diệt, nhìn thấy sư tử chúa nằm hầu bên cạnh mình, Đức Thế Tôn quyết định rằng: “Các vị Tỳkhưu hãy đến đây”, khi ấy hằng chục triệu vị Thánh Tăng nhận được lịnh của Đức Thế Tôn, cùng nhau đi đến hầu Đức Thế Tôn.

Nhìn thấy chư Tăng đi đến, sư tử chúa phát sinh niềm tin nơi chư Thánh Tăng. Giữa Đại chúng Tăng, Đức PhậtPaduma tuyên bố rằng: “ Sau một atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, Sư tử chúa này sẽ là bậc Chánh giác trong tương lai với tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Paduma.

Đức Phật Paduma cao 58 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng xa bao nhiêu là tùy theo ý Ngài .

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Paduma là Trưởng lão Sāla và Trưởng lão Upasāla. Thị giả là Trưởng lão Varuṇa.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Paduma là Trưởng lão ni Rādhā và Trưởng lão ni Surādhā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Paduma là Trưởng giả Bhuyya  và Trưởng giả Asama.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Paduma là bà Rucī  và bà Nandarāmā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Padma  là 100 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi khu vườn Dhammārāma, Xálợi của Ngài được rải tản khắp nhân thiên.

Phụ lục.

*Trưởng lão Aṅkolaka pupphiya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Ngài  được xem là Trưởng lão Anūpama trong tập Kệ ngôn trưởng lão Tăng (Theragāthā).

Ngài sinh ra trong một gia tộc giàu có ở xứ Kosala. Được gọi là Anūpama (không thể so sánh được) vì Ngài rất xinh đẹp.

Khi trưởng thành, do duyên lành thôi thúc nên Ngài xuất gia trong Tăng đoàn, đi vào rừng thực hành thiền Quán.

Tuy vậy, tâm của Ngài mãi rong chơi một thời gian, về sau Ngài dạy tâm rồi nỗ lực hành pháp, chứng Thánh quả Alahán.

Có hai kệ ngôn của Ngài trong tập Theragāthā.

213- Nandamānāgataṃ cittaṃ; sūlamāropamānakaṃ.

Tena teneva vajasi; yena sūlaṃ kaliṅgaraṃ.

“Tâm đến nơi hoan lạc kiêu hãnh; bị giáo nhọn đâm trúng.

Nếu ngươi mãi sống như vậy; là sống với gậy cùng giáo nhọn”.

‘‘Tāhaṃ cittakaliṃ brūmi, taṃ brūmi cittadubbhakaṃ;

Satthā te dullabho laddho, mānatthe maṃ niyojayī’’ti.

“Ta gọi ngươi, này tâm; ngươi phá vỡ hạnh phúc.

Bậc Đạo sư khó gặp, ngươi được; chớ dẫn ta đến nơi có hại”([57]).

*Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Paduma, tiền thân của Ngài có cúng dường đến Đức Phật Paduma hoa Aṅkola([58]).

Vào 30 kiếp trái đất trước, tiền thân của Ngài có cúng dường đến Đức Phật Độc giác Paduma([59]).

*Trưởng lão Asokapūjaka.

Vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Paduma, tiền thân của Ngài là người giữ vườn Ngự Uyển Tivarā, có cúng dường đến Đức Phật Paduma bông Asoka.

Vào 70 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua 16 lần với vương hiệu Arunañjaha([60]).

*Trưởng lão ni Dhammadinnā.

Về công hạnh của vị Thánh nữ Alahán “đệ nhất giảng pháp” trong hàng nữ đệ tử của Đức Phật Gotama, chúng tôi sẽ trình bày ở những tập sau. Ở đây chỉ nêu lên tiền sự của bà trong thời Đức Phật Paduma.

Vào thời Đức Phật Paduma, tiền thân bà Dhammadinnā là một nô tỳ, nàng cúng dường đến Đức Phật Paduma bột cary khi thấy Đức Phật đang đi khất thực, chủ của nàng thấy vậy, nhận nàng là con dâu.

Về sau khi đi nghe pháp nơi vị Trưởng lão ni của Đức Phật Paduma, được nghe vị Thánh nữ này là “đệ nhất giảng pháp” trong hàng nữ Thinh văn của Đức Phật Paduma, nàng ao ước được địa vị ấy trong tương lai.

            Dứt lịch sử Đức Phật Paduma.

 

9- Đức Phật Nārada.

Sau khi Đức PhậtPaduma viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm dần đến khi còn 10 năm, rồi tăng dần đến atăng kỳ năm.

Sau đó lại giảm xuống, đến thời nhân loại có tuổi thọ là 90 ngàn năm, bấy giờ Đức Thế Tôn Nārada xuất hiện trong thế gian.

Bồtát từ cung trời Tusita (Đẩu suất) giáng sinh vào thai bào của bà Anomā, Chánh hậu của vua Chuyển Luân Sudeva cai trị nơi kinh thành Dhaññavatī.

Sau 10 tháng nằm trong thai bào, Bồtát sinh ra nơi vườn hoa Dhanañjaya. Vào ngày lễ đặt tên của Bồtát, từ trên trời những cây như ý (maṇirukkha) nhiều loại y phục quý cùng vô số trang sức rơi xuống hoặc tuôn ra không ngớt, do sự kiện này, Bồtát được đặt tên là Nārada (NARA nghĩa là: “Vật trang sức quý, thích hợp; DA nghĩa là người cho).

Bồtát Nārada sống tại gia là 9 ngàn năm trong ba tòa cung điện là: Cung điện Jitā, cung điện Vijita và cung điện Abhirāmā([61]), có 120  ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là công nương Jitasenā([62]).

Khi chứng kiến được bốn sự kiện: Già, bịnh, chết và vị Samôn.

Thông thường các vị Bồtát Chánh giác kiếp chót, các Ngài thấy đủ bốn hiện tượng trên đường đi đến vườn Thượng Uyển của Hoàng cung, rồi sau đó Bồtát đi đến một địa điểm khác để xuất gia, do đó các Ngài dùng phương tiện di chuyển như voi, ngựa, xe ngựa, kiệu.

Riêng Bồtát Nārada cùng với bốn đạo quân tùy tùng bảo vệ Ngài, đi đến khu vườn Thượng Uyển Dhanañjaya của Hoàng cung, vườn Thượng Uyển này nằm bên ngoài kinh thành Dhaññavatī.

Chính nơi vườn Thượng Uyển này, Bồtát thấy được đủ bốn hiện tượng trên với thời gian cách xa nhau.

Lần cuối Ngài thấy được hình ảnh vị Sa môn nơi cổng vào vườn Thượng Uyển, ngay khi ấy Ngài khởi ý nghĩ: “Ta sẽ xauất gia như vị Samôn này”, khi ấy Bồtát được tin nàng Jitasenā vừa sinh ra người con trai là Thái tử Nanduttara.

Bồtát từ bỏ tất cả những vật trang điểm đang mang trên người, giao lại cho người quản kho, bằng cách bộ hành Bồtat đi vào vườn  Thượng Uyển tìm nơi hợp ý. Nơi đây Ngài quyết định cắt tóc xuất gia, Ngài ném tóc lên hư không, vua trời Sakka hứng lấy tóc mang về cung trời Tāvatiṃsa (Ba mươi ba) tôn thờ trong tháp Cūḷamaṇi.

Có một triệu tùy chúng của Bồtát cùng xuất gia với Bồtát.

Bồtát thực hành khổ hạnh 7 ngày, vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Bồtát thọ nhận bát cơm sữa do bàHoàng Jitasenā (vợ Ngài) cúng dường.

Vào buổi chiều, Bồtát một mình đi đến cây Mahāsoṇa , quan giữ vườn Thượng Uyển là Sudassana thấy Ngài tỏ ý muốn ngồi nơi cội cây, nên dâng lên Ngài 8 bó cỏ.

Bản Sớ giải Lịch sử chư Phật có giải chi tiết về cây Mahāsoṇa này như sau: Cây cao 90 hắc tay, thân cây rất lớn và tròn nhẳn, những nhánh lớn xòe rộng ra như cánh dù, những nhánh nhỏ đều đặn cân đối đan sát vào nhau, lá cây có màu xanh đậm đan kín vào nhau dày đặc không có kẻ hở khiến ánh sáng mặt trời không thể xuyên qua được. vị thần cây trú ngụ nơi ấy đã xua đuổi các loài chim, nên chúng không thể đến cây Mahāsoṇa làm tổ hoặc phóng uế nơi ấy, hoa cây Soṇa có màu đỏ tươi thắm.

Cây Mahāsoṇa được xemn như cây chúa trong thời ấy và rất nổi tiếng (vipulo rukkho). Nơi cội cây Mahāsoṇa, Bồtát Nārada trải tám bó cỏ và Bảo tọa Chiến thắng xuất hiện cho Ngài.

Khi mặt trời vừa ló dạng, Ngài chứng Vô thượng Chánh giác.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Nārada.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn khai thị pháp giải thoát (Chuyển pháp luân) nơi vườn Thượng Uyển Dhanañjaya, dứt thời Pháp thoại của Đức Thế Tôn có 1.000 tỷ chúng sinh chứng Thánh quả, trong đó có 100 ngàn vị Samôn theo Ngài xuất gia chứng Thánh quả Alahán.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Pāpuṇitvāna sambodhiṃ; dhammacakkaṃ pavattayi.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Sau khi chứng Toàn giác; Ngài Chuyển Pháp Luân.

Có 100 ngàn mười triệu;  là Thắng hội đầu tiên”([63]).

Thắng hội II.

Nơi thành phố Mahādoṇa cạnh sông lớn linh thiêng (như con sông Hằng thời Đức Phật Gotama) có con rắn chúa Doṇa có đại thần lực, rất hung hăng. Nếu cư dân dọc theo sông không tế lễ đến rắn chúa Doṇa, rắn chúa Doṇa sẽ dâng nước làm lủ lụt, phá hại mùa màng, hay làm hạn hán, hoặc tạo ra những cơn mưa đá hay mưa lớn cuốn trôi tài sản cùng dân cư quanh bờ sông.

Đức Thế Tôn Nārada với Phật trí quán thấy duyên lành của đại chúng, Ngài suy nghĩ: “Như Lai đến nhiếp phục rắn chúa Doṇa, đại chúng sẽ nhận được lợi ích lớn, quả báu lớn”.

Đức Thế Tôn Nārada cùng đại chúng Tỳkhưu du hành đến thành phố Mahādoṇa, đi đến đền thờ rắn chúa Doṇa.

Khi trông thấy Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu, cư dân trong thành phố Mahādoṇa thỉnh cầu Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, kính thỉnh Ngài đừng đến nơi ấy, nơi ấy có con rắn chúa Doṇa rất hung dữ.

Nhưng Đức Thế Tôn im lặng đi đến nơi, ngồi lên bảo tọa kết bằng những loại hoa thơm dành cho rắn chúa.

Với Phật lực vô biên, Đức Thế Tôn Nārada nhiếp phục được rắn chúa Doṇa, rồi Đức Thế Tôn Nārada thể hiện Song thông lực làm sinh khởi niềm tin của đại chúng, kế tiếp Đức Thế Thôn thuyết lên Pháp thoại mang Thánh quả đến cho 900 ngàn triệu nhân thiên.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Mahādoṇaṃ nāgarājaṃ; vinayanto mahāmuni.

Pāṭiheraṃ tadākāsi; dassayanto sadevake.

“Rắn chúa Mahādoṇa; được Đại ẩn sĩ nhiếp phục.

Ngài thể hiện điều kỳ diệu([64]); tất cả nhân thiên đều trông thấy”.

8- Tadā devamanussānaṃ; tamhi dhammappakāsane.

Navutikoṭisahassāni; tariṃsu sabbasaṃsayaṃ.

“Khi ấy chư thiên cùng nhân loại; được nghe pháp từ vị ấy.

Có 90 ngàn mười triệu; tất cả đều vượt qua nghi  hoặc”(sđd.7-8).

Thắng hội III.

Khi thấy trí của con trai Ngài là Tỳkhưu Nanduttara thuần thục, Đức Thế Tôn Nārada thuyết giảng pháp thoại giáo giới đến Ngài Nanduttara.

Dứt pháp thoại Ngài Nanduttara chứng Thánh quả Alahán, có 800 triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

9- Yamhi kāle mahāvīro; ovadī sakamatrajaṃ.

Asītikoṭisahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Vào thời điểm Đấng Đại Hùng; giáo giới con trai mình.

Có 80 ngàn mười triệu; là Thắng hội III của Ngài”(sđd.9).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Nārada.

Tăng hội I.

Nơi thành phố Thullakoṭṭhita có hai thanh niên bạn thân với nhau là Bàlamôn Bhaddasāla và Bàlamôn Vijitamitta([65]) (hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Nārada sau này), cùng nhau đi tìm pháp bất tử.

Hai thanh niên Bàlamôn này đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Nārada, nhìn thấy được 32 đại nhân tướng của Đức Thế Tôn, hai người kết luận rằng: “Chắc chắn đây là Bậc Chánh giác, là Bậc Đạo sư của chúng ta”.

Sau thời Pháp thoại của Đức Thế Tôn, hai vị cùng 1.000 tỷ tùy tùng chứng Thánh quả Alahán.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

10- Sannipātā tayo āsuṃ; nāradassa mahesino.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

“Có ba lần tụ hội của vị ấy; Đại ẩn sĩ Nārada.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là lần tụ hội đầu tiên”(sđd. 10).

Tăng hội II.

Khi Đức Thế Tôn Nārada trở về kinh thành để tế độ quyến thuộc.

Ngài thuật lại công hạnh của Ngài kể từ khi Ngài phát nguyện thành bậc Chánh giác cho đến khi Ngài thành bậc Chánh giác.

Dứt pháp thoại có đến 900 ngàn triệu vị chứng Thánh quả Alahán.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

11-Yadā buddho buddhaguṇaṃ; sanidānaṃ pakāsayi.

Navutikoṭisahassāni; samiṃsu vimalā tadā.

“Vào lúc Đức Phật giảng ân đức Phật; duyên khởi của điều này.

Có 9o ngàn 10  triệu vị; không còn mọi ô nhiễm tụ hội”(sđd.11).

Tăng hội III.

Một rắn chúa là Verocana cảm phục uy lực của Đức Thế Tôn, kiến tạo một khánh sảnh rộng ba gāvuta canh bờ sông, thỉnh Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu đến khách sảnh để cúng dường vật thực.

Hội chúng rồng cùng với nhân thiên đến tham dự buổi đại thí của rắn chúa Verocana.

Sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại chúc phúc đến rắn chúa Verocana. Dứt pháp thoại có 800 ngàn thiện gia tử chứng Thánh quả.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

12- Yadā verocano nāgo, dānaṃ dadāti satthuno;

Tadā samiṃsu jinaputtā, asītisatasahassiyo.

“Vào lúc rắn Verocana; cúng dường đến Bậc Đạo sư.

Khi ấy con Bậc Chiến thắng tụ hội; là tám trăm ngàn  vị”(sđd.12).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Lúc bấy giờ tiền thân của Đức Phật Gotama là một ẩn sĩ tóc bện (jaṭila) sống ẩn cư nơi núi rừng, Ngài chứng đạt tám tầng thiền cùng 5 pháp thần thông.

Quán xét thấy được công hạnh của ẩn sĩ tóc bện, với lòng bi mẫn Đức Thế Tôn Nārada cùng với đại chúng Tỳkhưu và 800 triệu nam cận sự, tất cả đều chứng Thánh quả Anahàm đến nơi ẩn cư của ẩn sĩ tóc bện.

Ẩn sĩ tóc bện với tâm hân hoan kiến tạo nơi ngụ cho Đức Thế Tôn cùng đại chúng. Sau khi nghe pháp thoại của Đức Thế Tôn, ẩn sĩ tán thán ân đức Đức Phật.

Vào buổi sáng hôm sau, Ẩn sĩ tóc bện đến Bắc Cưu lư châu tìm vật thực thượng vị mang về cúng dường đến Đức Phật cùng đại chúng xuất gia lẫn tại gia. Ẩn sĩ đã cúng dường đến Đức Phật và đại chúng như thế trọn 7 ngày.

Để tỏ lòng tôn kính vô hạn với Bậc Đạo sư, Ẩn sĩ tóc bện đi vào rừng sâu tìm lỏi cây chiênđàn quý nhất, mang về cúng dường đến Đức Phật Nārada.

Đức Thế Tôn tiên tri giữa đại chúng rằng: “ Sau 1 atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, Ẩn sĩ tóc bện này sẽ trở thành Bậc  Chánh giác với tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

  *Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Nārada.

Đức Phật Nārada cao 88 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng một dotuần.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Nārada là Trưởng lão Bhaddasāla và Trưởng lão Vijitamitta. Thị giả là Trưởng lão Vāseṭṭha.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Nārada là Trưởng lão ni Uttarā  và Trưởng lão ni Phaggunā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Nārada là Trưởng giả Uggarinda và Trưởng giả Vasabha.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Nārada là bà Nidavarī và bà Caṇḍī.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Padma  là 90 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi vườn Sudassana, Bảo tháp thờ Xálợi của Ngài cao bốn dotuần.

*Phụ lục.

*Trưởng lão Naḷāgārika.

Làvị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Nārada, tiền thân của Ngài có  dựng cho Đức Phật một thảo am gần núi Hārita.

Hậu thân gia chủ này làm vua trên cõi chư thiên 74 lần, làm vua nhân giới là 34 lần([66]).

Ngài có thể là Trưởng lão Valliya được ghi nhận trong Theragāthā (Kệ ngôn trưởng lão Tăng)([67]).

Dứt lịch sử Đức Phật Nārada.

 

Sau khi Đức Phật Nārada viên tịch, giáo pháp của Ngài được kéo dài đến 90 ngàn năm rồi biến mất.

Trải qua 1 Atăng kỳ  trái đất, không có vị Chánh giác nào xuất hiện trên thế gian, gọi là kiếp trống (sññakappa).

Cách hiền kiếp này trở về trước là 100 ngàn kiếp trái đất, trong kiếp trái đấy này chỉ có một vị Chánh giác xuất hiện, gọi là sārakappa, đó là Đức Chánh giác Padumuttara (Liên Hoa).

10- Đức Phật Padumuttara.

Sau khi viên mãn 30 pháp Balamật, Bồtát tái sinh về cung trời Tusita (Đẩusuất), thọ hưởng thiên lạc với thời gian là 576 triệu năm.

Vào thời nhân loại có tuổi thọ là 100 ngàn năm, nhận lời thỉnh cầu của chư thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới Bồtát giáng phàm.

Từ cung trời Tusita, Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Sujātā([68]), cha Bồtát là Đức vua Ānanda([69]) trị vì kinh thành Hamsavatī.

Bồtát ở trong thai bào 10 tháng rồi ra khỏi lòng mẹ nơi vườn Thượng Uyển Haṃsavatī, ngày Ngài sinh ra có trân mưa hoa sen rơi xuống khắp quốc độ, do sự kiện này Bồtát được đặt tên là Padumuttara.

BồtátPadumuttara sống tại gia là 10 ngàn năm trong ba tòa cung điện: Cung điện Navavāhana, cung điện Yasavāhana, cung điện Vasavattī, mỗi cung điện có 40 ngàn cung nữ xinh đẹp hầu hạ; vợ Ngài là Công nương Vasudattā([70]).

Vào ngày nàng Vasudattā sinh ra Thái tử Uttara([71]), Bồtát thấy được hiện tượng thứ tư là vị Samôn, Ngài trở về cung điện của mình.

Ý niệm xuất gia vừa khởi lên trong tâm của Ngài, lập tức tòa cung điện Vasavattī bốc lên hư không, di chuyển trong hư không như tòa cung điện chư thiên, cả bốn đạo binh chủng bảo vệ cung điện cũng theo đường hư không theo sau tòa cung điện. Cung điện Vasavattī đi đến vùng đất trung tâm gần cây Đại giác (mahābodhi) liền hạ  xuống.

BồtátPadumuttara bước ra khỏi cung điện, cắt tóc xuất gia trở thành vị Samôn, tòa cung điện cùng các nữ nhân trong cung điện theo đường hư không trở vể chỗ cũ. Bốn đạo binh chủng theo gương Ngài, cùng xuất gia ngay khi ấy. BồtátPadumuttara khổ hạnh 7 ngày.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesakha, Ngài lìa bỏ hội chúng, rồi thọ dụng bát cơm sữa do nàng Rucinandā([72])con gái một trưởng giả trong làng Ujjenī  cúng dường.

Vào buổi chiều Bồtát đi đến cội cây Salala, Ngài nhận tám bó cỏ do một du sĩ lỏa thể là Sumitta cúng dường, tám bó cỏ này trở thành Bảo tọa chiến thắng của Ngài nơi cội cây Salala. Trên Bảo tọa chiến thắng, Bồtát thành tựu Vô thượng Chánh giác khi mặt trời vừa ló dạng, ngay lập tức một trân mưa hoa sen rơi xuống khắp cả thế gian.

Sau 7 ngày thiền tịnh nơi Bảo tọa chiến thắng, Đức Thế Tôn khởi ý: “Ta sẽ bước xuống Bảo tọa”, Ngài duỗi chân ra  bước xuống Bảo tọa, khi Ngài vừa đặt chân xuống dù nơi đó có nước hay không có nước, một bông sen lớn rẻ đất nổi lên nở ra đở lấy chân Đức Thế Tôn, bông sen ấy  có cánh sen trải rộng 90 hắc tay, các tua nhụy sen tỏa rộng khoảng 30 hắc tay, gương sen lớn khoảng 10 hắc tay([73]), phấn sen tung cao khi chân Ngài đạp xuống khoảng 58 hắc tay([74]). Mỗi bước chân của Đức Phật đều có một cánh sen như thế đở lấy chân Ngài.

Các vị Giáo thọ sư Tương ưng kinh cho biết: “Chính vì điều kỳ diệu này, Bậc Đạo sư Padumuttara nổi tiếng khắp thế gian”.

 * Ba Thắng hội của Đức Phật Padumuttara.

Thắng hội I.

Nhận lời thỉnh cầu của Đại Phạm thiên, Đức PhậtPadumuttara quán xét thế gian thấy được duyên lành của hai Tử hoàng là Devala và Sujāta (hai vị Thượng thủ thinh văn) đang trú ngụ nơi vườn Ngự Uyển Mithilā.

Theo đường hư không Đức PhậtPadumuttara đến vườn Ngự  Uyển Mithilā, bảo người giữ vườn thông báo hai vị Tử hoàng đang vui chơi trong vườn. Nghe người giữ vườn báo tin, hai vị Tử hoàng bàn luận với nhau rằng: “Thái tử Padumuttara, con trai của bác chúng ta đã thành bậc Chánh giác, Ngài đang ngự đến vườn Ngự Uyển Mithilā, chúng ta hãy đến đảnh lễ Ngài”.

Hai vị tử hoàng cùng với đoàn tùy tùng đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại, vận chuyển bánh xe pháp cho lăn đi; dứt pháp thoại có 1.00o tỷ nhân thiên chứng Thánh đạo.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

3- Padumuttarassa bhagavato; paṭhame dhammadesane.

Koṭisatasahassānaṃ; dhammābhisamayo ahu.

“Đức Thế Tôn Padumuttara; thuyết giảng pháp lần đầu.

Có 100 ngàn 10  triệu vị; là Thắng hội của Ngài”([75]).

*Thắng hội II.

Lần khác, khi đạo sĩ Sarada (người sinh ra trước Đức Phật) rao giảng cho tín đồ của mình về chủ thuyết sai lệch (tà kiến), chủ thuyết này sẽ dẫn người thực hành theo rơi vào khổ cảnh.

Đức Thế Tôn Padumuttara đi đến hội chúng ấy, thuyết lên pháp thoại phá tà kiến.

Sau thời pháp thoại có 3 triệu 700 ngàn chúng sinh chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

4-Tato parampi vassante; tappayante ca pāṇine.

Sattatiṃsasatasahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Vào lúc khác là trận mưa (pháp), làm êm dịu hài lòng.

Có 37 trăm ngàn; là Thắng hội hai”(sđd. 4).

*Thắng hội III.

Khi Đức Thế Tôn Padumuttara cư ngụ nơi thành Mithilā, Đức vua Ānanda (cha của BồtátPadumuttara) sai 20 vị đại thần cùng 20 ngàn tùy tùng thỉnh Đức Thế Tôn ngự về kinh thành Haṃsavatī.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại tế độ 20 vị Đại thần cùng 20 ngàn tùy tùng chứng Thánh quả và tất cả xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Đức Thế Tôn trở về kinh thành Haṃsavatī, Ngài thể hiện Song thông lực để nhiếp phục tính ngã mạn của thân tộc, rồi thuyết lên Lịch sử chư Phật.

Dứt pháp thoại có 5 triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Yamhi kāle mahāvīro; ānandaṃ upasaṅkami.

Pitusantikaṃ upagantvā; āhanī amatadundubhiṃ.

“Vào thời điểm Đấng Đại Hùng; đi  đến Ānanda.

 Trước sự hiện diện người cha; Ngài gióng lên trống bất tử”.

6- Āhate amatabherimhi; vassante dhammavuṭṭhiyā.

Paññāsasatasahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Trống bất tử  gióng lên; cơn mưa pháp rơi xuống.

Có 50 trăm ngàn; là Thắng hội lần ba”(sđd.5-6).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Padumuttara.

Tăng hội I.

Vào ngày trăng tròn tháng Māgha ( tháng giêng âl, theo lịch VN), nơi vườn Mithilā có 1.000 tỷ vị ThánhAlahán xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave..” tự tụ hội lại.

Đức Thế Tôn Padumuttara ban lời Giáo giới giải thoát đến Đại chúng Tăng. Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Sannipātā tayo āsuṃ; padumuttarassa satthuno.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

“Vị ấy có ba lần tụ hội; là Bậc Đạo Sư Padumuttara.

Có 100 ngàn mười triệu; là lần tụ hội đầu tiên” (sđd. 8).

Tăng hội II.

Khi an cư mùa mưa trên núi Vebhāra, Đức Thế Tôn Padumuttara thuyết pháp tế độ đại chúng đến yết kiến Ngài. Có 900 triệu người được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

9- Yadā buddho asamasamo; vasi vebhārapabbate.

Navutikoṭisahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Khi Đức Phật như các bậc Vô song; trú ở núi Vebhāra.

Có 90 ngàn 10 triệu; là lần tụ hội thứ hai” (sđd.9).

Tăng hội III.

Khi Đức Thế Tôn du hành đến những làng quê để tế độ chúng sinh, một Tăng hội xuất hiện với số lượng là 800 triệu vị ThánhAlahán.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

10- Puna cārikaṃ pakkante; gāmanigamaraṭṭhato.

Asītikoṭisahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

“Lại nữa, trong lần Ngài du hành; từ làng, thị trấn, quốc độ.

 Có 80 ngàn 10 triệu vị; là lần tụ hội thứ ba” (sđd.10).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là vị Đại thần cai quản thành Jatika([76]), có đại tài sản.

Vị Đại thần tổ chức một cuộc đại thí cúng dường vật thực thượng vị cùng y quý đến Đức Thế Tôn Padumuttara và đại chúng Tỳkhưu Tăng.

Giữa đại chúng, Đức Thế Tôn Padumuttara tiên tri rằng: “Sau 100 ngàn kiếp trái đất kể từ kiếp này trở đi, Thiện gia tử này trở thành vị Chánh giác có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Padumuttara.

Trong thời Đức Phật Padumuttara không còn những tôn chủ dị giáo, truyền thuyết nói: “Đó là do lời nguyện của Ngài trong quá khứ”.

Khi Đức PhậtPadumuttara xuất hiện khai giảng pháp bất tử, các tôn chủ ngoại giáo vô cùng sầu khổ, họ bị mất uy lực và bị suy tàn. Họ không còn được sự tôn kính, cúng dường hay những điều tương tự.

Thực ra, với điều kỳ diệu của Đức PhậtPadumuttara là: “Mỗi bước chân của Ngài, có đóa sen đở lấy” làm phát sinh niềm tin mãnh liệt nơi đại chúng, nên những chủ thuyết sai lệch của những tôn chủ dị giáo đã bị đại chúng bác bỏ, khi họ đến bất cứ nơi nào đều bị cư dân nơi ấy tẩn xuất ra khỏi trú xứ.

Những tôn chủ dị giáo cùng đồ chúng phải đi đến xin nương nhờ nơi Đức PhậtPadumuttara. Với lòng bi mẫn, Đức Thế Tôn Padumuttara đã an trú tất cả vào Tam quy và năm giới.

Một điều kỳ diệu nữa là: Giáo pháp của Ngài luôn được rực sáng bởi những vị ThánhAlahán thành tựu được 5 pháp tự tại (tức là không có những vị ThánhAlahán Nhứt minh, tối thiểu từ Tam minh trở lên).

Khi chứng kiến Đức Thế Tôn ban cho đệ tử Ngài địa vị tối thắng trong hàng Tỳkhưu, Tỳkhưu ni, cận sự nam, cận sự nữ. Những thiện gia nam nữ cư sĩ đã ước nguyện đạt địa vị Tối thắng trên, những vị ấy đã thành tựu ước nguyện trong thời Đức Phật Gotama, như: Ngài AññaKoṇḍañña, Ngài Mahā Kassapa, Ngài Anuruddha, Ngài Ānanda, Ngài Revata …

Đức Phật Padumuttara cao 58 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng 12 dotuần, không bị ngăn cản bất cứ vật gì như núi, tường, vách …

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Padumuttara là Trưởng lão  Devala([77]) và Trưởng lão Sujāta. Thị giả là Trưởng lão Sumana.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Padmuttara là Trưởng lão ni Amittā và Trưởng lão ni Asamā .

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Padumuttara là Trưởng giả Vitiṇṇa và Trưởng giả Tissa.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Padumuttara là bà Haṭṭhā và bà Vicittā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Padumuttara là 100 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi tự viện Nanda (Nadārāma), Bảo tháp thờ Xálợi của Ngài cao 12 dotuần.

*Phụ lục.

Những vị Thánh đệ tử  có ước nguyện “hạnh tối thắng”  như đệ nhất về hạnh mặc y cũ rách, đệ nhất về thiên nhãn, đệ nhất về Giáo giới Tỳkhưu ni, đệ nhất về hạnh ở rừng … chúng tôi sẽ lần lượt trình bày sau.

Trong phần phụ lục này chúng tôi chỉ nêu ra những vị có tạo phước lành vào thời Đức Phật Padumuttara và chứng đắc Thánh quả Alahán thời Đức Phật Gotama.

*Trưởng lão Ajita.

Có thể  là Ajitamānava (thanh niên Ajita)([78]) là đệ tử của Bàlamôn Bāvarī([79]), nhưng chuyện của Ngài hoàn toàn khác với Ngài Ajitamānava được tường thuật trong bản Sớ giải “Kệ ngôn trưởng lão Tăng”.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân của Ngài có đốt đèn cúng dường ánh sáng đến Đức Phật Padumuttara. Nhờ phước lành này, Ngài hưởng an lạc trên thiên giới 60.000 kiếp trái đất.

Vào thời Đức Phật Gotama, Ngài từ cung trởi Tusita (Đẩusuất) tái sinh về nhân giới. Vào ngày Ngài sinh ra, tất cả những kim loại, châu ngọc trong kinh thành Kosala rực sáng, nên Ngài được đặt tên là Ajita.

Khi Ngài tu tập nơi núi Tuyết (Himavā), biết được tin “Đức Phật đã xuất hiện trên thế gian”.

Về sau Ngài gia nhập Tăng đoàn, chứng đắc Thánh quả Alahán.

*Trưởng lão Añjanavaniya.

Ngài là con một vương tử ở kinh thành Vesālī của xứ Vajjī.

Khi kinh thành Vesālī bị ba tai nạn: Hạn hán, bịnh dịch và phi nhân, vua xứ Vajjī thỉnh Đức Thế Tôn ngự đến kinh thành Vesālī.

Đức Thế Tôn giải tỏa ba tai nạn ấy bằng bài kinh Ratanasutta (kinh Châu báu), Ngài có mặt trong thính chúng, hân hoan với ân đức Tam bảo, Ngài xin được xuất gia trong Giáo đoàn.

Sau khi xuất gia Ngài đi vào rừng Añjana (añjanavana) ở Sāketa để  trú ngụ. Khi mùa an cư đến, Ngài tìm được chiếc ghế dài bị quăng bỏ, Ngài kê chiếc ghế dài của mình lên bốn hòn đá, phủ kín cỏ bên ngoài chỉ chừa một lổ nhỏ để ra vào, Ngài thiền tịnh trên chiếc ghế ấy, sau một tháng Ngài chứng Thánh quả Alahán([80]). Hân hoan Ngài nói lên kệ ngôn:

55- Āsandiṃ kuṭikaṃ katvā; ogayha añjanaṃ vanaṃ.

Tisso vijjā anuppattā; kataṃ buddhassa sāsana’’nti.

“Làm am thất, giường nằm; nơi rừng sâu Añjana.

Ba minh ta đạt được; lời Phật dạy làm xong”([81]).

 Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân của Ngài là thợ kết vòng hoa tên là Sudassana, có cúng dường hoa đến Đức Phật Padumuttara.

Hậu thân gia chủ Sudassana được làm vua 16 lần với vương hiệu Devuttara.

Ngài được xác nhận là Trưởng lão Muṭṭhipupphiya trong tập Apadāna([82]).

*Trưởng lão Isimuggadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài có cúng dường bánh Isimugga  trộn mật ong đến Đức Phật Padumuttara cùng 108.000 vị Tỳkhưu. Do phước lành này, 44 kiếp trái đất trước hậu thân vị ấy đã 38 lần làm vua với vương hiệu Mahisamanta([83]).

*Trưởng lão Ukkhitapadumiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là người làm vòng hoa ở kinh thành Haṃsavatī.

Có lần người thơ hoa đang hái hoa sen trong hồ, nhìn thấy Đức Thế Tôn cùng các vị Tỳkhưu đang đi du hành, người thợ hoa tung những cánh bông sen lên không trung với ước nguyện là  trở lành lọng che cho Đức Phật.

Đức Phật dùng thần thông khiến những cánh hoa sen lơ lửng trên không thành lọng che nắng cho Đức Thế Tôn.

Do hạnh sự này, hậu thân người thợ hoa sinh về cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi ba), là cung chủ tòa thiên cung Satapatta.

Và được làm vua trên thiên giới 1.000 lần, làm vua nơi nhân giới là 500 lần([84]).

*Trưởng lão Uttareyadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là giáo sư ở kinh thành Haṃsavatī.

Một hôm vị giáo sư cùng các đệ tử đi tắm, gặp Đức Phật, vị giáo sư cúng dường thượng y (uttarīya) đến Đức Phật.

Tấm thượng y bay lơ lửng trên không trung che nắng cho Đức Phật và các vị Tỳkhưu.

Do hạnh sự này, hâu thân vị ấy có 30 ngàn kiếp trái đất sinh về thiên giới, làm vua Trời là 50 lần, vua cõi nhân giới là 36 lần.

Ở nơi nào Ngài đi đến đều được che bởi những vải quý và muốn gì đều được như ý([85]).

*Trưởng lão Udakadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài cúng dường nước đến Đức Phật Padumuttara.

Do phước lành này này,  hậu thân của vị ấy có thể tìm thấy nước bất kỳ nơi nào theo ý ([86]).

Kệ ngôn trong Apadāna của Ngài được thấy trong Bản Sớ giải Theragāthā dưới tên Trưởng lão Mahā Gavaccha([87]) và Trưởng lão Gaṅgātīriya([88]).

*Trưởng lão Udāna (hay Udena).

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một ẩn sĩ sống cùng 84.000 đệ tử trong khu ẩn xá gần núi Paduma (Padumapabbata) của rặng núi Tuyết.

Nghe một dạxoa tán thán ân Đức Phật, ẩn sĩ tìm đến yết kiến Đức Phật và cúng dường đến Đức Phật một cánh bông sen, đồng thời nói lên những kệ ngôn tán thán ân đức Phật([89]).

Ngài có thể là Trưởng lão Udena được đề cập trong kinh Ghoṭamukha([90]).

Sau khi Đức Thế Tôn Gotama viên tịch, Trưởng lão Udena trú ngụ ở rừng xoài Khemiya (Khemiyambavana) gần thành Bārāṇasī (Balanại).

Bàlamôn Ghoṭamukha ở kinh thành Pāṭaliputta (Hoa thị thành) đi đến thành Bārāṇasī do có vài việc  cần phải.

Bàlamôn Ghoṭamukha đến viếng Ngài Udena, hỏi pháp nơi Ngài; sau buổi đàm đạo, Bàlamôn Ghoṭamukha hoan hỷ xin làm đệ tử cư sĩ và xin cúng dường Ngài Udena mỗi ngày 500 tiền vàng, lợi lộc mà vua Aṅga ban cho Bàlamôn Ghoṭamukha hằng ngày.

Nhưng Trưởng lão  Udena từ chối, khuyên Bàlamôn Ghoṭamukha dùng số tiền này kiến tạo một Giảng đường cho các Tỳkhưu ở kinh thành Pāṭaliputta và Giảng đường này có tên gọi là Ghoṭamukhī.

Theo Bản Sớ giải([91]), Bàlamôn Ghoṭamukha có quan điểm: “Mỗi người phải tìm vinh quang cho chính mình, dù phải hy sinh mẹ hay cha”.

Tuy có quan điểm như thế, nhưng khi mệnh chung, ông vẫn tái sinh về thiên giới, nơi cõi chư thiên.

Biết được phước lành của mình, từ thiên giới vị thiên tử này hóa thân xuống nhân giới, gặp người em gái, chỉ cho bà nơi chôn dấu tài sản trước kia, bảo người em gái dùng tiền này trùng tu một trai đường trong một Tự viện mà các vị Tỳkhưu đang tu sửa.

*Trưởng lão Upaḍḍhadussadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là người cày ruộng, thấy Trưởng lão Alahán Sujāta đi tìm vải cũ rách để may y, người cày ruộng dâng cho Trưởng lão phân nửa chiếc áo đang mặc.

Do hạnh sự này, hậu thân người cày ruộng sinh làm Thiên vương 33 lần, làm vua cõi người  77 lần([92]).

*Trưởng lão Upasīva.

Ngài là một trong 16 môn đệ của Bàlamôn Bāvarī([93]).

Khi cùng các đồng môn đến viếng Đức Phật Gotama, các câu hỏi của Ngài được ghi lại thành kinh Upasīvamānava pucchā (những câu hỏi của thanh niên Upasīva)([94]).

Sau khi nghe Đức Thế Tôn giải đáp, Ngài UpaSīva cùng 1.000 đệ tử chứng Thánh quả Alahán và tất cả xin gia nhập vào Tăng đoàn.

Theo tập Apadāna (Ký sự), vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân của Ngàilà một ẩn  sĩ khổ hạnh, tu tập nơi núi Anoma.

Có lần Đức Phật Padumuttara đến nơi cư ngụ của ẩn sĩ, ẩn sĩ soạn sẵn nơi ngồi cho Đức Thế Tôn, bằng cách trải cỏ và hoa tươi, rồi cúng dường đến Đức Thế Tôn trái cây và nhiều thỏi trầm hương quý.

Do hạnh sự này, hậu thân ẩn sĩ tái sinh về thiên giới 30 kiếp trái đất, làm Thiên vương 71 lần.

Nhưng trong tập Apadāna không đề cập đến Bàlamôn Bāvarī ([95]).

*Trưởng lão ni Ubbirī.

Trong thời Đức Phật Gotama tại tiền, bà sinh vào một gia đình quyền quý nơi kinh thành Sāvatthi.

Bà rất xinh đẹp nên được tuyển vào hậu cung của vua Kosala (có thể là vua Pasenadi). Vài năm sau, bà sinh ra một nàng con gái rất xinh đẹp đặt tên là Jivā (Jīvantī), vua Kosala hài lòng đặt bà lên địa vị Hòang hậu, nhưng vài năm sau nàng Jivā mệnh chung, bà Ubbirī trở nên điên loạn, hằng ngày ra nghĩa địa than khóc cho người con gái Jivā của mình.

Một hôm bà muốn đi đến yết kiến Bậc Đạo sư, nhưng lại đi ra bờ sông Aciravatī than khóc.

Thấy được duyên lành của bà Ubbirī, Đức Thế Tôn ngự đến bờ sông Aciravatī, hỏi bà rằng:

– Vì sao nàng than khóc?

– Bạch Thế Tôn, con khóc cho con của con là Jivā vắn số.

– Nơi đây đã từng chôn xác 84.000 người con gái của nàng cùng có tên  là Jivā, vậy nàng khóc cho Jivā nào?

Đức Thế Tôn nói lên kệ ngôn:

 51- Amma jīvāti vanamhi kandasi; attānaṃ adhigaccha ubbiri.

Cullāsītisahassāni; sabbā jīvasanāmikā.

Etamhāḷāhane daḍḍhā; tāsaṃ kamanusocasi.

“Ngươi than khóc trong rừng, hỡi Jīvā; Ubbiri đến tột độ cái ta.

Có 84.000 người; tất cả tên là Jīva.

Nơi thiêu xác chết này([96]); ngươi sầu muộn người nào”.

Bà quán tưởng lời dạy của Bậc Đạo sư, chứng đắc Thánh quả Alahán.

Bà nói lên hai kệ ngôn sau:

52- Abbahī vata me sallaṃ; duddasaṃ hadayassitaṃ.

Yaṃ me sokaparetāya; dhītusokaṃ byapānudi.

“Mũi tên khó thấy được; đâm trúng trái tim ta.

Ngài nhỗ ra tên sầu muộn; sầu con gái bức hại”.

53- Sājja abbūḷhasallāhaṃ; nicchātā parinibbutā.

Buddhaṃ dhammañca saṅghañca; upemi saraṇaṃ muni’’nti.

“Mũi tên nhỗ ra rồi; chấm dứt mọi ham muốn.

Đức Phật, Giáo pháp và Tăng chúng; ta đến nương nhờ tịch lặng”([97]).

Bản Sớ giải “Kệ ngôn Trưởng lão ni” không đề cập đến việc bà Ubbirī xuất gia trong Ni đoàn, nhưng bản Apadāna (Ký sự) có đề cập đến.

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân bà Ubbirtī là một thiếu nữ ở trong thành Haṃsavatī.

Nàng thiếu nữ ở nhà một mình, nhìn thấy vị Thánh Alahán đang đi khất thực, nàng cúng dường vật thực đến Ngài.

Do phước lành này, hậu thân nàng thiếu nữ sinh về thiên giới, 80 lần làm vị Thiên hậu, làm Chánh hậu cõi nhân loại là 70 lần([98]).

*Trưởng lão Ekacintita.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một thiên tử trên thiên giới, khi thấy mình sắp mệnh chung, thiên tử sầu muộn, không biết sẽ tái sinh về cảnh giới nào.

Thiên tử xuống đảnh lễ Ngài Sumana là đệ tử của Đức Phật Padumuttara, Trưởng lão Sumana khuyên vị thiên tử nên nương nhờ ân đức Phật. Vị thiên tử làm theo lời dạy và tâm tư vị ây không còn sầu khổ trước sự chết sắp đến([99]).

*Trưởng lão Ekadīpiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một gia chủ thắp đèn nơi cội Đại giác Saḷala của Đức Phật Padumuttara.

Do hạnh sự này, 16 ngàn kiếp trái đất về trước, hậu thân gia chủ ấy làm vua bốn lần với vương hiệu là Candābha([100]).

*Trưởng lão Ekasussadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là người cắt cỏ ở thành Haṃsavatī, có cúng dường đến Đức Phật Padumuttara chiếc thượng y.

Do hạnh sự này, hậu thân gia chủ ấy là thiên vương 36 lần, vua cõi nhân loại là 33 lần. Ngài có thần thông do phước là “muốn có y phục khi nào thì có ngay khi ấy”([101]).

*Trưởng lão Ekapadumiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là thiên nga chúa.

Có lần thiên nga chúa thấy Đức Thế Tôn thiền tịnh nơi bờ hồ gần chỗ thiên nga chúa trú ẩn, Thiên nga chúa cúng dường đến Đức Phật Padumuttara một cành hoa sen([102]).

*Trưởng lão Ekāsanadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một ẩn sĩ khổ hạnh tên là Nārada Kassapa, sống ở gần núi Kosika.

Có lần nhìn thấy Đức Phật Padumuttara đi ngang qua rừng, ẩn sĩ cúng dường đến Đức Phật chiếc ghế ngồi và nói lời tán thán ân đức Phật.

Đức Thế Tôn Padumuttara phúc chúc đến ẩn sĩ thời pháp ngắn.

Do hạnh sự này, hậu thân ẩn sĩ  được 50 lần làm Thiên vương và làm vua cõi nhân loại 80 lần, một thần thông do phước củaNgài là: “Bất cứ nơi đâu, Ngài đều có thể tìm ra ghế ngồi theo ý muốn, dù là trong rừng hay dưới nước”([103]).

*Trưởng lão Opavuyha.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

 Tiền thân Ngài muốn cúng dường đến Đức Phật Padumuttara con ngựa Ajāniya, nhưng các vị đệ tử Phật bảo: “Đức Thế Tôn không nhận lễ phẩm là sinh vật còn sống”, vị gia chủ cúng dường lễ phẩm có giá trị tương đương với con ngựa quý.

Hậu thân gia chủ ấy  được làm đại đế 28 lần; vào 24 kiếp trái đất trước, vị ấy là vua Chuyển Luân có đại uy lực([104]).

*Trưởng lão Kumudadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Tiền thân Ngài là con chim Kakudha thời Đức Phật Padumuttara, con chim có cúng dường đến Đức Thế Tôn một cành hoa sen,

Vào 1.600 kiếp trái đất trước hậu thân con chim có 8 lần làm vua với vương hiệu Varuṇa([105]), có khả năng Ngài chính là Trưởng lão Malitavambha([106]).

*Trưởng lão Kassapa.

Ngài là con của Bàlamôn Udicca ở kinh thành Sāvatthi (Xávệ), cha Ngài mất khi Ngài còn nhỏ.

Có lần Ngài đi đến Đại tự Jetavana (KỳViên), nghe Đức Phật thuyết pháp chứng Sơ quả, Ngài xin mẹ được xuất gia trong Giáo đoàn của Đức Phật.

Có lần Ngài theo Đức Thế Tôn đi du hành sau khi mản mùa an cư, Ngài về cáo từ mẹ, mẹ Ngài khuyên nhủ Ngài bằng kệ ngôn.

82- Yena yena subhikkhāni; sivāni abhayāni ca.

Tena puttaka gacchassu; mā sokāpahato bhavā’’ti.

“Đi đến nơi dễ xin ăn; an toàn và không lo sợ.

Con hãy đến nơi ấy; đừng va chạm sợ hãi, với hữu”.

Ngài suy nghĩ: “Mẹ ta mốn ta hãy đi đến nơi giải thoát khỏi sinh hữu”, Ngài nỗ lực triển khai thiền quán, chứng Thánh quả Alahán.

Và Ngài lập lại kệ ngôn trên để nói lên Thánh trí của mình([107]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padmuttara, tiền thân của Ngài là một Bàlamôn tinh thông ba tạng Veda (Vệđà).

Một hôm được trông thấy Đức Phật Padumuttara, vị Bàlamôn thông thái đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi tung nắm hoa Sumana lên không trung cúng dường Đức Thế Tôn, nắm hoa Sumana kết thành lọng che cho Đức Phật.

Hậu thân Bàlamôn đã làm vua 25 lần với vương hiệu Ciṇṇamāla (Cittamāla)([108]). Ngài là Trưởng lão Sereyyaka nói trong tập Apadāna([109]).

*Trưởng lão Kūṭivihārī (1).

Ngài là con một Vương tử ở kinh thành Vesālī.

Khi kinh thành Vesālī bị ba tai nạn: Hạn hán, bịnh dịch và phi nhân.

Chứng kiến được uy lực của Đức Phật qua bài kinh Châu báu (Ratanasutta), Ngài xuất gia trong giáo đoàn .

Trong khi phát triển tuệ quán Ngài đi ngang qua cánh đồng, trời đổ mưa, Ngài đi vào căn chòi trống của người giữ ruộng.

Ngồi trong chòi lá, Ngài triển khai tuệ quán, chứng đắc Thánh quả Alahán ngay tại nơi ấy.

Người giữ ruộng đi đến căn chòi của mình, thấy Ngài ngồi trong đó, hỏi rằng: “Ai ở trong chòi lá này?”. Ngài đáp rằng: “Vị Tỳkhưu ở trong chòi lá” và nói lên kệ ngôn.

56- Ko kuṭikāyaṃ bhikkhu kuṭikāyaṃ; vītarāgo susamāhitacitto.

Evaṃ jānāhi āvuso; amoghā te kuṭikā katā’’ti.

“Ai trong chòi, Tỳkhưu trong chòi; tâm định tỉnh, ly tham.

Hiền giả hãy biết như vậy; người trong chòi không mê muội”([110]).

Người giữ ruộng hân hoan rằng: “Thật may mắn cho tôi,thật khéo may mắn cho tôi. Tôn giả đã đến và ngồi trong chòi này”.

Với thiên nhĩ siêu nhân, Đức Thế Tôn nghe sự đối đáp giũa hai vị, từ Hương thất Ngài phóng hào quang đến chòi lá nói lên kệ ngôn với người giữ ruộng.

Vihāsi kuṭiyaṃ bhikkhu; santacitto anāsavo.

Tena kammavipākena; devindo tvaṃ bhavissasi.

“Tỳkhưu trú trong chòi; tâm định tỉnh vô nhiễm.

Quả của việc làm này; ngươi nhận được thiên giới”

Chattiṃsakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissasi;

Catuttiṃsakkhattuṃ cakkavattī, rājā raṭṭhe bhavissasi;

Ratanakuṭi nāma paccekabuddho, vītarāgo bhavissasī’’ti.

“Sáu, 7 lần thiên giới; trở thành vị vua trời.

Bốn mươi lần Chuyển Luân; nhận được vua quốc độ.

Độc giác tên Ratanakuṭi; diệt tham ái chứng đạt”([111]).

Kể từ đó Ngài được gọi là Kuṭivihāriṃ.

Tiền sự.

Trong thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài có cúng dường Đức Phật nước mát.

Ngài có thể là Trưởng lão Udakapūjaka được nói đến trong tập Apadāna([112]).

*Trưởng lão Kuṭivihārī (2).

Chuyện của Ngài tương tự như trên, có chi tiết sai khác như sau.

Khi Ngài ngồi trong căn chòi cũ nát của mình, Ngài khởi lên ý nghĩ: “Chòi này cũ nát, ta nên cất lại căn chòi mới”.

Một thiên nhân đang tầm cầu pháp giải thoát, muốn tâm Ngài giao động mạnh nên nói lên kệ ngôn lời giản dị nhưng ý thâm sâu như sau.

57- Ayamāhu purāṇiyā kuṭi; aññaṃ patthayase navaṃ kuṭiṃ.

Āsaṃ kuṭiyā virājaya; dukkhā bhikkhu puna navā kuṭī’’ti.

“Căn chòi này cũ kỹ; Ngài muốn chòi mới khác.

Hãy dẹp bỏ chòi mới; chòi mới, Tỳkhưu  hãy biết khổ”([113]).

Ngài xúc động mạnh, nỗ lực phát triển tuệ quán chứng đạt Thánh quả Alahán. Trưởng lão dùng kệ ngôn trên nói lên Thánh trí của mình([114]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân của Ngài có cúng dường Đức Phật cây quạt.

Ngài có thể là Trưởng lão Naḷamāliya được nói trong tập Apadāna([115]).

*Trưởng lão Kosalavihārī.

Ngài là con một Vương tử trong thành Vesālī, chứng kiến uy lực Ratanasutta (kinh Châu báu), Ngài xuất gia là Sadi.

Đến tuổi Ngài thọ giới Tỳkhưu, khi thọ Tỳkhưu giới Ngài sống trong rừng gần ngôi làng trong xứ Kosala.

Một gia chủ cúng dường cho Ngài căn chòi lá ở cạnh cội cây, nơi căn chòi lá này, Ngài tinh tấn phát triển tuệ quán chứng đạt Thánh quả Alahán.

Hân hoan Ngài nói lên kệ ngôn.

59- Saddhāyāhaṃ pabbajito; araññe me kuṭikā katā.

Appamatto ca ātāpī; sampajāno patissato’’ti .

“Xuất gia với niềm tin; trong rừng ta ở chòi lá.

Thận trọng và tinh cần; tỉnh giác cùng với niệm”([116]).

Ngài được gọi là Kosalavihārī vì sống rất lâu trong xứ Kosala([117]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là ẩn sĩ khổ hạnh.

Có lần ẩn sĩ cúng dường đến Đức Phật nhiều rễ củ.

Vào 54 kiếp trái đất trước, hậu thân ẩn sĩ làm vua với vương hiệu Sumekhalisama.

Ngài chính là Trưởng lão Bilādiyāyaka được nói trong tập Apadāna([118]).

*Trưởng lão Khaṇḍasumana.

Ngài sinh ra trong một gia đình tộc trưởng Pāvā của xứ Malla.

Ngài có tên gọi là Khaṇḍasumana (hoa lài) vì ngày Ngài sinh ra, nhà Ngài có đầy hoa lài và đường mía.

Khi nghe Đức Thế Tôn giảng pháp nơi rừng xoài của gia chủ Cunda ở Pāvā, Ngài hân hoan xin xuất gia.

Không bao lâu sau Ngài chứng đạt sáu thắng trí, nhớ lại tiền hạnh của mình là: Vào thời Đức Phật Kassapa, tiền thân của Ngài muốn cúng dường hoa đến Bảo tháp thờ Xálợi Đức Phật Kassapa, nhưng không tìm được hoa vì Đức vua đã mua hết tất cả hoa, nên Ngài đành phải mua hoa lài để cúng dường Bảo tháp thờ Xálợi Phật Kassapa([119]).

Hân hoan Ngài nói lên kệ ngôn sau.

96-Ekapupphaṃ cajitvāna; asīti vassakoṭiyo.

Saggesu paricāretvā, sesakenamhi nibbuto’’ti.

Từ bỏ một cánh hoa; có 80 mười triệu năm.

Nơi thiên giới, sau khi từ bỏ; còn lại sống tịch tịnh”([120]).

*Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài có xây hàng rào bằng gỗ trầm hương quanh Bảo tháp thờ Xálợi Đức Phật Padumuttara.

Ngài có thể là Trưởng lão Saparivāriya được nói trong tập Apadāna([121]).

*Trưởng lão Khitaka.

Trong thời Đức Phật Gotama còn tại tiền, Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn trong thành Sāvatthi (Xávệ).

Được nghe danh tiếng đệ nhất thần thông của Ngài Moggallāna (MụcKiềnLiên), Ngài nghĩ: “Ta sẽ thành tựu thần thông lực như Ngài Moggallāna”.

Ngài xin xuất gia trong Tăng đoàn, nỗ lực tu tập thiền chỉ và thiền quán, chứng đạt sáu thắng trí.

Ngài tế độ chúng sinh bằng các thắng trí ấy nhất là thần túc thông và tha tâm thông; khi các vị Tỳkhưu hỏi Ngài:

– Này hiền giả Khitaka, có phải hiền giả dùng thần thông?

Ngài trả lời bằng kệ ngôn.

104- Lahuko vata me kāyo; phuṭṭho ca pītisukhena vipulena.

Tūlamiva eritaṃ mālutena; pilavatīva me kāyo’’ti.

“Thân ta thật nhẹ nhàng; và xúc chạm hỷ lạc mạnh.

Như bông nhẹ trước gió; thân ta nhẹ trôi đi”([122]).

 Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một Dạxoa chúa.

Có lần dạxoa chúa này đi đến đảnh lễ và nghe pháp từ Đức Phật Padumuttara.

Vào 80 kiếp trái đất trước, hậu thân dạxoa chúa là vị vua với vương hiệu Sumaṅgala([123]).

Ngài có thể là Trưởng lão Supāricariya được nói trong tập Apadāna([124]).

*Trưởng  lão Hārita.

Ngài sinh vào một gia tộc Bàlamôn ở kinh thành Sāvatthi (Xávệ), vì tự hào dòng dõi Bàlamôn của mình, Ngài thường gọi người khác là “hạ đẳng”.

Nghe được Giáo pháp của Đức Thế Tôn, Ngài khởi niềm tin xuất gia trong Tăng đoàn nhưng vì thói quen nên vẫn còn tật xấu ấy.

Khi nghe Đức Thế Tôn giảng pháp, quán xét lại tâm tư mình, Ngài buồn khổ vì thói xấu kiêu mạn về dòng tộc này, Ngài nỗ lực diệt trừ tính kiêu mạn, chứng đắc Thánh quả Alahán.

Hân hoan Ngài nói lên kệ ngôn.

261- Yo pubbe karaṇīyāni; pacchā so kātumicchati.

Sukhā so dhaṃsate ṭhānā; pacchā ca manutappati.

“Người nào, việc cần làm trước; người ấy lại làm sau.

Tự phá hoại an lạc địa; sau sầu khổ hối tiếc”.

262- Yañhi kayirā tañhi vade; yaṃ na kayirā na taṃ vade.

Akarontaṃ bhāsamānaṃ; parijānanti paṇḍitā.

“Điều có làm, nói lên; điều không làm, không nói.

Không làm lại nói lên; bậc hiền trí thấu rõ”.

263- Susukhaṃ vata nibbānaṃ; sammāsambuddhadesitaṃ.

Asokaṃ virajaṃ khemaṃ; yattha dukkhaṃ nirujjhatī’’ti.

“Đạt Nípbàn, khéo an lạc; Bậc Chánh giác giảng dạy.

An ổn, không sầu, không nhơ bẩn; nơi ấy chấm dứt mọi đau khổ”([125]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài có cúng dường nắm hương liệu vào hỏa đài của Đức Phật Padumuttara([126]).

Ngài có thể là Trưởng lão Gandhapūjaka được nói trong tập Apadāna([127]).

*Trưởng lão Gandhokadāyaka.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Trong thời Đức Phật Padumuttara, một lễ hội được tổ chức cúng dường cây Đại giác của Đức Phật Padumuttara, tiền thân của Ngài dùng nước thơm tưới vào cội Đại  giác để vinh danh Đức Thế Tôn.

Một trận mưa lớn khởi lên và sét đánh trúng Ngài, mệnh chung Ngài tái sinh về Thiên giới. Từ thiên giới vị Thiên tử cùng thiên chúng tùy tùng đi đến nơi hỏa thiêu xác Ngài, vị thiên tử nói lên những vần kệ tán thán Giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Vào 128 kiếp trái đất trước tiền thân của Ngài là vị Đại đế có vương hiệuSaṃvasita([128]).

*Trưởng lão Dhotaka.

 Ngài là một trong 16 môn đệ của Bàlamôn Bāvarī được cử đến viếng Đức Thế Tôn Gotama.

Những câu hỏi của Ngài và lời giải đáp của Đức Phật được ghi thành tập kinh Dhotakamānavapucchā([129]).

Sau lời giải đáp của Đức Phật, Ngài cùng 1.000 môn đệ chứng Thánh quả Alahán và tất cả xin xuất gia trong Tăng đoàn của Đức Phật Gotama.

Tiền sự,

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là vị Giáo thọ Chalaṅga, có 1.800 đệ tử.

Vị Giáo thọ sư cùng đệ tử xây cây cầu Bhagīrathī để Đức Thế Tôn cùng chư Tỳkhưu sử dụng([130]).

*Trưởng lão Jambuphaliya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Trong thời Đức Phật Padumuttara tiền thân Ngài là một gia chủ có cúng dường đến Đức Phật những trái đào đầu mùa([131]).

Ngài có thể là Trưởng lão Nadī Kassapa([132]).

*Trưởng lão Jātipupphiya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Trong thời Đức Phật Padumuttara tiền thân Ngài có đặt một vòng hoa  lên nhục thân của Đức Phật Padumuttara trong lễ hỏa thiêu nhục thân Đức Phật. Mệnh chung, hậu thân vị ấy tái sinh về cõi Nimmānaratī (Hóa lạc thiên)([133]).

*Trưởng lão Ti-Ukkādhāriya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Trong thời Đức Phật Padumuttara tiền thân Ngài thắp ba ngọn đuốc (ukkā) và cầm đuốc đứng nơi cội Đại giác của Đức Phật để cúng dường ánh sáng([134]).

*Trưởng lão Ti-Padumiya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Trong thời Đức Phật Padumuttara tiền thân Ngài là thợ làm vòng hoa, trên đường đến Hoàng cung để giao hoa, thấy Đức Phật Padumuttara, người thợ hoa tung ba cánh hoa sen cúng dường đến Đức Phật.

Ba cánh hoa sen tạo thành vòng hoa trên đầu Đức Thế Tôn.

Mệnh chung, người thợ kết hoa tái sinh về thiên giới là chủ thiên cung Mahāvitthārika cao 300 dotuần([135]).

*Trưởng lão Sirima.

Trong thời Đức Phật tại tiền, Ngài sinh vào một gia tộc trong thành Sāvatthi, Ngài được đặt tên là Sirima vì khi mẹ Ngài mang thai Ngài, gia đình luôn được may mắn.

Ngài có người em trai tên là Sirivaḍḍha vì khi mang thai vị này, tài sản gia đình tăng trưởng.

Khi Trưởng giả Anāthapiṇḍika cúng dường Đại tự KỳViên (Jetavanavihāra), hai Ngài cảm phục uy lực của Đức Thế Tôn nên xin xuất gia trong Tăng đoàn.

Dù chưa chứng đắc Thánh quả nhưng Ngài Sirivaḍḍha được hàng xuất gia cũng như hàng cư sĩ cung kỉnh, còn riêng Ngài Sirima do ảnh hưởng một ác nghiệp nên không được tôn kính.

Tuy vậy, Ngài Sirima luôn tinh cần tu tập chỉ và quán, chứng đạt sáu thắng trí.

Các vị Tỳkhưu phàm xem thường Ngài và cung kỉnh Ngài Sirivaḍḍha. Để cảnh tỉnh những vị ấy, Ngài nói lên kệ ngôn.

159- Pare ca naṃ pasaṃsanti; attā ce asamāhito.

Moghaṃ pare pasaṃsanti; attā hi asamāhito.

“Người khác tán thán nó; kẻ tự ngã không an tịnh.

Ngưởi khác khen ngu muội; kẻ tự ngã không an tịnh”.

160- Pare ca naṃ garahanti; attā ce susamāhito.

Moghaṃ pare garahanti; attā hi susamāhito’’ti.

“Người khác khinh thường nó; kẻ tự ngã khéo an tịnh.

Người khác khinh thường sai lầm; kẻ tự ngã khéo an tịnh”([136]).

Ngài Sirivaḍḍha nghe kệ ngôn, tâm xúc động mạnh, tinh cần thiền quán chẳng bao lâu chứng Thánh quả Alahán.

Những vị kinh thường Ngài Sirima trước đây đã sám hối Ngài.

Tiền sự.

Trước khi Bồtát Padumuttara giáng sinh vào lòng mẹ, tiền thân của Ngài là ẩn sĩ Devala hướng dẫn một hội chúng đông đảo.

Ẩn sĩ Devala xây dựng một tháp để cúng dường chư Phật.

Khi Đức Thế Tôn Padumuttara xuất hiện trên thế gian, ẩn sĩ Devala mệnh chung sinh về cõi Phạm thiên. Từ cõi Phạm thiên Ngài xuống nhân giới dạy các môn đệ trước đây của mình nên xuất gia trong giáo pháp của Đức Thế Tôn([137]).

Ngài chính là Trưởng lão Puḷinuppādaka được nói trong tập Apadāna([138]).

*Trưởng lão Dhajadāyaka.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Trong thời Đức Phật Padumuttara tiền thân Ngài là một gia chủ, có treo cờ quanh cội Đại giác của Đức Phật.

Hậu thân vị ấy làm vua hai lần với vương hiệu là Uggata và Megha([139]).

*Trưởng lão Dhammasava.

Nggài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn trong xứ Magadha, được nghe Đức Thế Tôn giảng pháp ở Dakkhināgiri (Nam sơn), Ngài xuất gia trong Tăng đoàn. Nhờ tinh cần hành pháp chẳng bao lâu Ngài chứng Thánh quả Alahán. Hân hoan Ngài nói lên kệ ngôn.

107- Pabbajiṃ tulayitvāna, agārasmānagāriyaṃ.

Tisso vijjā anuppattā; kataṃ buddhassa sāsana’’nti.

“Suy tư, cân nhắc ta xuất gia; sống đời sống không nhà.

Ba minh ta đạt được; lời Phật dạy làm xong”([140]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân của Ngài là vị ẩn sĩ khổ hạnh có tên là Suvaccha sống trong một chòi lá.

Có lần Đức Thế Tôn thi triển thần thông gần chòi lá của ẩn sĩ, ẩn sĩ hoan hỷ, đi đế đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi cúng dường đến Đức Thế  Tôn những cánh hoa nāga (mù u).

Cách đây 31 kiếp trái đất, hậu thân ẩn sĩ Suvaccha là vị vua có vương hiệu là Mahāratha([141]).

Ngài có thể là Trưởng lão Nāgapupphiya được nói trong tập Apadāna([142]).

*Trưởng lão Vidhūpanadāyaka.

Trong thời Đức Phật Gotama.

Ngài chứng Thánh quả Alahán khi được 7 tuổi .

Trong thời Đức Phật Padumuttara tiền thân Ngài là một gia chủ, có cúng dường đến Đức Thế Tôn cây quạt và tán thán Đức Thế Tôn trong lúc Ngài hầu quạt Đức Thế Tôn.

Hậu thân gia chủ ấy làm vua 16 lần với vương hiệu là Vijamāna([143]).

*Trưởng lão Sataraṃsika.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài thấy Đức Phật khởi tâm tịnh tín, đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Trong hiện kiếp Ngài xuất gia lúc 7 tuổi và thân Ngài luôn chiếu sáng.

Cách đây 60 ngàn kiếp trái đất tiền thân Ngài bốn lần làm vua với vương hiệu Roma([144]).

*Trưởng lão Sannidhāpaka.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một ẩn sĩ, có cúng dường đến Đức Phật Padumuttara trái bí (āmaṇḍa) và nước uống.

Cách đây 41 kiếp trái đất, hậu thân ẩn sĩ là vị vua có vương hiệu là Arindama([145]).

*Trưởng lão Saparivāracchattadāyaka(1).

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một gia chủ.

Khi nghe Đức Phật giảng pháp, gia chủ hoan hỷ giương dù rồi tung lên hư không, che cho Đức Phật.

Vào thời Đức Phật Gotama, hậu thân gia chủ này xuất gia lúc 7 tuổi, khi vi ấy thọ giới Tỳkhưu, Bàlamôn Sunanda che lọng cho Ngài, Trưởng lão Sāriputta thấy vậy thốt lời hoan hỷ([146]).

Ngài tinh cần hành pháp chứng Thánh quả Alahán.

*Trưởng lão Saparivāracchattadāyaka (2).

Là vị Thánh Alaáhn thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài đóng hàng rào bằng gỗ trầm hương quanh tháp thờ Đức Phật Padumuttara.

Cách đây 15 kiếp trái đất, Ngài làm vua 8 lần với vương hiệu Pamatta([147]).

*Trưởng lão Saparivārāsana.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara tiền thân Ngài là một gia chủ, có thỉnh Đức Thế Tôn đến tư gia cúng dường vật thực.

Gia chủ trang trí nơi ngồi của Đức Thế Tôn xinh đẹp bằng hoa lài, rồi cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn khi Ngài ngồi vào ghế ngồi([148]).

*Trưởng lão Sayanadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài có cúng dường Đức Phật chiếc giường([149]).

*Trưởng lão Sucinta.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là nông dân, có cúng dường đến Đức Phật nông phẩm đầu mùa của mình([150]).

*Trưởng lão Susārada.

Ngài là thân tộc xa với Trưởng lão Sāriputta (XáLợiPhất), vì cơ thể Ngài chậm phát triển,và chậm hiểu nên được gọi là Susārada.

Khi nghe Trưởng lão Sāriputta giảng pháp, Ngài khởi lên niềm tin xuất gia trong Tăng đoàn, nhờ tinh cần hành pháp, Ngài chứng đạt Thánh quả Alahán, hân hoan với Thánh quả đã đạt được, Ngài nói lên kệ ngôn.

75- Sādhu suvihitāna dassanaṃ; kaṅkhā chijjati buddhi vaḍḍhati.

Bālampi karonti paṇḍitaṃ; tasmā sādhu sataṃ samāgamo’’ti.

“Lành thay, khéo tu tập thấy biết; cắt đứt nghi, tăng trưởng hiểu biết.

Kẻ ngu trở thành người trí; do vậy, kết giao với thiện lành thay”([151]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài là một ẩn sĩ Bàlamôn có cúng dường đến Đức Phật trái cây ngọt khi ẩn sĩ thấy Đức Phật đi khất thực.

Cách đây 700 kiếp trái đất trước, tiền thân của Ngài là vị vua có vương hiệu là Smaṅgala([152]).

Ngài là Trưởng lão Phaladāyaka được nói trong tập Apadāna([153]).

*Trưởng lão Rakkhita.

Ngài sinh ra trong một gia tộc quyền quý ở Vedehanigama trong thành Devadaha. Là một trong 500 Thích tử được hội đồng bộ tộc Sākya (Thích Ca) và Koliya cho xuất gia theo hầu Đức Thế Tôn để tạ ơn Đức Thế Tôn đã giảng hòa hai bộ tộc khi tranh chấp nước giòng sông Rohinī.

Khi nghe Đức Phật thuyết Bổn sự Kuṇāla (Kuṇāla jātaka), Ngài nhận thức được hiểm nguy của dục lạc, phát triển tuệ quán, chứng đắc Thánh quả Alahán. Ngài tuyên bố chánh trí của mình qua kệ ngôn.

79- Sabbo rāgo pahīno me; sabbo doso samūhato.

Sabbo me vigato moho; sītibhūtosmi nibbuto’’ti.

“Tất cả tham ta cắt đứt; tất cả sân được nhổ bỏ.

Tất cả si ta từ bỏ; ta tịch tịnh mát lạnh”([154]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, tiền thân Ngài nghe Đức Phật giảng pháp, Ngài nói lên kệ ngôn tán thán sự uyên bác của Đức Phật([155]).

Ngài chính là Trưởng lão Sobhita được nói đến trong tập Apadāna([156]).

Dứt lịch sử Đức Phật Padumuttara.

 

Sau kiếp trái đất xuất hiện Đức Chánh giác Padumuttara, trải qua 70 ngàn kiếp trái đất không có vị Chánh giác nào hiện khởi trong thế gian.

Cách hiền kiếp này trở về trước 30 ngàn kiếp trái đất, có kiếp trái đất  xuất hiện hai vị Chánh giác (gọi là maṇḍakappa), đó là Đức Phật Sumedha và Đức Phật Sujāta.

11- Đức Phật Sumedha.

Sau khi thực hành tròn đủ 30 pháp Balamật, Bồtát tái sinh về cõi Tusita (Đẩu suất) thọ hưởng thiên lạc với thời gian là 576 triệu năm. Theo truyền thống chư Bồtát Chánh giác kiếp chót, Ngài nhận lời thỉnh cầu của chư thiên, Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới, Ngài giáng phàm.

Bồtát tái sinh vào thai bào của bà Hoàng Sudattā, cha Ngài là Đức vua Sudatta trị vì kinh thành Sudassana.

Sau 10 tháng, Bồtát ra khỏi thai bào nơi vườn Ngự Uyển Sudassana, khi Ngài vừa ra khỏi thai bào cũng là lúc mặt trời xé màn đêm hiện ra chói lọi, do sự kiện này Bồtát được đặt tên là Sumedha.

Bồtát Sumedha sống tại gia 9 ngàn năm, trong ba cung điện: Cung điện Sucanda([157]), cung điện Kañcana([158]) và cung điện Sirivaḍḍha([159]), có 48 ngàn cung nữ xinh đẹp hầu hạ, vợ Bồtát là công nương Sumanā.

Khi thấy đầy đủ bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn; Bồtát quyết định xuất gia. Ngài ngồi trên lưng voi rời khỏi Hoàng thành ra đi xuất gia, có khoảng 110 triệu người cùng theo Ngài xuất gia.

Vào ngày hôm ấy, nàng Sumanā vừa sinh ra Thái tử Sumitta (hay Punabbasumitta).

Bồtát Sumedha khổ hạnh trong 8 tháng rồi thọ thực trở lại, hội chúng tùy tùng lìa bỏ Ngài đi đến vườn Sudassana trú ngụ.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesakha, Bồtát thọ dụng bát cơm sữa do nàng Nakulā, con gái của một trưởng giả nơi làng Nakula cúng dường.

Vào buổi  chiều Ngài đi đến cội cây Nīpa([160]), nhận 8 bó cỏ do du sĩ lỏa thể Sirivaḍḍha dâng cúng. Tám bó cỏ trở thành Bảo tọa chiến thắng của Bồtát Sumedha nơi cội cây Nīpa, trên Bảo tọa chiến thắng, Bồtát chiến thắng ngũ ma, chứng đắc Vô thượng Chánh giác vào lúc mặt trời vừa lên.

*Ba thắng hội của Đức Phật Sumedha.

Thắng hội I.

Nhận lời thỉnh cầu của Đại Phạm thiên, Đức Thế Tôn Sumedha khai mở pháp giải thoát nơi vườn hoa Sudassana gần kinh thành Sudassana, tế độ 110 triệu vị Samôn tùy tùng trước đây của Ngài, trong đó có 2 vị Tử hoàng là Saraṇa và Sabbakāma (hai vị Thượng thủ của Ngài sau này).

Pháp thoại lần đầu tiên của Đức Phật Sumedha mang Thánh quả đến cho một ngàn tỷ nhân thiên.

Đây là thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Tassāpi abhisamayā tīṇi; ahesuṃ dhammadesane.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Vị ấy có ba thắng hội; việc thuyết giảng pháp của vị ấy.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội đầu tiên của Ngài”([161]).

Thắng hội II.

Vào dịp khác, sau khi xuất khỏi Đại bi định, Đức Thế Tôn Sumedha dùng Phật trí quán xét thế gian tìm người hữu duyên nên tế độ.

Đức Thế Tôn quyết định tế độ dạxoa ăn thịt người có tên là Kumbhakaṇṇa, Ngài một mình đi đến đền thờ của dạxoa Kumbhakaṇṇa.

Với uy lực của bậc Chánh giác Ngài đã nhiếp phục dạxoa Kubhakaṇṇa, dạxoa xin quy ngưỡng ân đức Tam bảo.

Ngày hôm sau, đức vua quốc độ ấy phải mang Thái tử đến làm tế vật cho dạxoa, đại chúng mang theo những lễ vật cùng với Thái tử đến khu đền của dạxoa; daxoa ẳm Thái tử rồi trao đến Đức Thế Tôn Sumedha.

Nghe được tin tốt đẹp này, đại chúng cùng nhau đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại, mang Thánh quả đến cho nhân thiên là 900 triệu vị, trong đó dạxoa Kumbhakaṇṇa.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn.

5- Punāparaṃ kumbhakaṇṇaṃ; yakkhaṃ so damayī jino.

Navutikoṭisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Lần khác với Kumbhakaṇṇa; Đấng Chiến Thắng nhiếp phục dạxoa.

Có 90 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội lần hai” (sđd. 5)

Thắng hội III.

Một lần khác nơi kinh thành Upakāri, trong vườn Sirinanda, Đức Thế Tôn thuyết giảng bài pháp “bốn sự thật”, mang Thánh quả đến cho 800 tỷ nhân thiên. Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Punāparaṃ amitayaso; catusaccaṃ pakāsayi.

Asītikoṭisahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Một lần khác, bậc có danh tiếng vô hạn; giảng giải về bốn sự thật.

Có 80 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội thứ ba” (sđd.6).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Sumedha.

Tăng hội I.

Vào lúc Đức Phật Sumedha khai mở pháp bất tử nơi vườn Ngự Uyển Sudassana, có 100 mười triệu vị chứng Thánh quả Alahán và được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave…”.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Sudassanaṃ nāma nagaraṃ; upagañchi jino yadā.

Tadā khīṇāsavā bhikkhū; samiṃsu satakoṭiyo.

“Thành phố tên Sudassana; Bậc Chiến Thắng ngự đến đó.

Nơi đây những Tỳkhưu sạch ô nhiễm; tụ hội lại một tỷ vị”(sđd.8).

Tăng hội II.

Đức Thế Tôn Sumedha an cư mùa mưa nơi núi Devakūṭa. Đại chúng tổ chức dâng y Kaṭhina, có 900 triệu vị TỳkhưuAlahán tụ hội lại.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

9-Punāparaṃ devakūṭe; bhikkhūnaṃ kathinatthate.

Tadā navutikoṭīnaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Vào lúc khác nơi núi Devakūṭa; lễ Kaṭhina của các Tỳkhưu.

Nơi đây có 90 mười triệu vị, là lần tụ hội thứ hai”(sđd.9).

Tăng hội III.

Vào lần khác, Đức Thế Tôn du hành tế độ chúng sinh, có 800 triệu vị Alahán theo hầu Ngài. Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

10- Punāparaṃ dasabalo; yadā carati cārikaṃ.

Tadā asītikoṭīnaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

 “Lần khác Đấng Thập lực; Ngài đi du hành.

Có 80 mười triệu vị; là lần tụ hội thứ ba”(sđd.10).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là một thanh niên tên là Uttara có đại tài sản là 800 triệu mỗi thứ.

Thanh niên Uttara cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng rất trọng thể. Giữa đại chúng Đức Thế Tôn Sumedha tuyên bố rằng: “Sau 30 ngàn kiếp trái đất kể từ kiếp trái đất này, thiện gia tử này sẽ trở thành Đức Chánh giác có tộc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

Nghe lời tiên tri của Đức Phật Sumedha, tâm thanh niên Uttara vô cùng hân hoan, đã bố thí hết tài sản của mình và xuất gia là Tỳkhưu trong Giáo pháp của Đức Phật Sumedha.

Sau khi thông thạo pháp học, Bồtát thực hành thiền tịnh, chứng đạt tám tầng thiền cùng 5 thắng trí. Mệnh chung sinh về Phạm thiên giới.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Sumedha.

Đức Phật Sumedha cao 88 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng một dotuần, không bị ngăn cản bất cứ vật gì như núi, tường, vách …

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Sumedha là Trưởng lão Saraṇa  và Trưởng lão Sabbākāma. Thị giả là Trưởng lão Sāgara.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Sumedha là Trưởng lão ni Rāmā và Trưởng lão ni Surāmā .

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Sumedha là Trưởng giả Uruvela và Trưởng giả Yasava.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Sumedha là bà Yasodharā và bà Sirimā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Sumedha là 90 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi tự viện Medha (Medhārāma), Xálợi của Ngài rải tản khắp nhân thiên.

Phụ lục.

*Thiên tử Anekavaṇṇa.

Là một thiên tử ở cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi ba), có hào quang át cả hào quang của vua trời Sakka, nhờ tạo phước trong Phật giáo thời Đức Phật Gotama còn tại tiền, khi gặp vị thiên tử này vua Trời Sakka phải lánh mặt vì hổ thẹn([162]).

Vào thời Đức Phật Sumedha, tiền thân vị thiên tử này là vị Tỳkhưu, nhưng sau đó vị ấy hoàn tục.

Khi Đức Thế Tôn Sumedha viên tịch, vị Tỳkhưu ấy hối tiếc đã bỏ lở cơ hội, nên đi đến đảnh lễ Bảo tháp thờ Xálợi Đức Phật Sumedha và nguyện giữ giới([163]).

*Trưởng lão Abhaya.

Là một Bàlamôn trong thành Sāvatthi, khi nghe Đức Thế Tôn giảng pháp, Ngài xuất gia trong Tăng đoàn.

Có lần Ngài đi khất thực, nhìn thấy một nữ nhân trang điểm xinh đẹp, Ngài bị dục tưởng chi phối, nhưng Ngài trấn tỉnh được, phát triển tuệ quán chứng Thánh quả Alahán([164]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Sumedha, tiền thân Ngài có gặp Đức Phật Sumedha trong rừng và cúng dường đến Đức Phật vòng hoa Salala.

Cách đây 19 kiếp trái đất, tiền thân Ngài làm vua 16 lần với vương hiệu Mimmita.

Ngài được xác định là Trưởng lão Vaṭaṃsakiya được nói trong tập Apadāna([165]).

*Trưởng lão Uttiya.

Ngài sinh ra trong một gia tộc vương tử dòng Sākya (Thích Ca) nơi thành Kapilavatthu (Catỳlavệ).

Khi Đức Thế Tôn trở về kinh thành Kapilavatthu (Catỳlavệ) để thăm thân tộc, Ngài chứng kiến uy lực Song thông của Đức Thế Tôn nên khởi niềm tin, xuất gia trong Tăng đoàn.

Trong thời gian tu học, Ngài đi vào làng khất thực, nghe một nữ nhân ca hát, thiền định của Ngài bị thối thất, khởi lên dục cảm. Ngài cố gắng chế ngự những tư tưởng dục lạc bằng sự suy quán về những thể trược, khi đi vào liêu thất để thiền tịnh, tâm của Ngài rất giao động và cố gắng nhiếp phục những tư tưởng xấu.

 Ngài chọn buổi trưa để thực hành thiền tịnh, nỗ lực thiền quán, nhờ nhàm chán các dục lạc Ngài thoát khỏi khổ sinh tử.

Hân hoan Ngài nói lên kệ ngôn.

99- Saddaṃ sutvā sati muṭṭhā, piyaṃ nimittaṃ manasikaroto;

Sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa tiṭṭhati;

Tassa vaḍḍhanti āsavā, saṃsāraṃ upagāmino’’ti.

“Nghe âm thanh, mất ghi nhận; ý hướng đến tướng luyến ái.

Tâm nhận lấy thích thú;  an trú với tướng đắm nhiễm.

Khiến ô nhiễm tăng trưởng; là dẫn đến luân hồi” ([166]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Sumedha, tiền thân Ngài là một gia chủ có cúng dường đến Đức Phật chiếc giường cùng với mùng mền và thảm

Cách đây 20 kiếp trái đất, tiền thân Ngài ba lần làm vua với vương hiệu Suvaṇṇābha([167]).

Ngài có thể là Trưởng lão Pallaṅkadāyaka được nói đến trong tập Apadāna([168]).

*Trưởng lão Candanamāliya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Sumedha, tiền thân Ngài là một trưởng giả có đại tài sản, sau khi bố thí hết gia sản Ngài xuất gia làm ẩn sĩ.

Ẩn sĩ có cúng dường đến Đức Phật sàng tọa, xoài, hương trầm và hoa Sāla.

Có lần tiền thân Ngài làm vua trị vì kinh thành Vebhāra do do Thiên thần kiến trúc Vissakamma kiến tạo([169]).

Ngài có thể là Trưởng lão Valliya được ghi nhận trong tập Theragāthā([170]).

*Trưởng lão Pañcahatthiya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Sumedha, tiền thân Ngài có cúng dường đến Đức Phật năm nắm hoa huệ, tạo thành một vòng hoa trên đầu Đức Phật.

Tiền thân Ngài làm vua năm lần với vương hiệu Hatthiya([171]).

*Trưởng lão Bhaddāli.

Có lần Ngài an cư mùa mưa nơi Đại tự KỳViên (Jetavanavihāra), nghe Đức Thế Tôn  giảng pháp môn “ăn một chỗ ngồi” (nhất tọa thực), Ngài cảm thấy bất bình nên lánh mặt Đức Phật suốt ba tháng.

Khi Đức Thế Tôn sắp du hành, theo lời khuyên các vị đồng phạm hạnh, Ngài đến sám hối Đức Phật, Đức Phật nhân đó thuyết lên kinh Bhaddāli([172]).

Tương truyền, có một kiếp tiền thân Ngài tái sinh làm quạ rất háu đói,  trong kiếp này Ngài thường đói bụng, nên có biệt hiệu là Mahāchātaka (Kẻ ăn nhiều)([173]).

Thời Đức Phật Sumedha, tiền thân Ngài gặp Đức Phật đang thiền tịnh trong rừng, tiền thân Ngài đi đến dọn dẹp chung quanh chỗ ngồi của Đức Phật và cầm lọng che cho Đức Phật([174]).

*Trưởng lão Madhudāyaka.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Sumedha, tiền thân Ngài là một ẩn sĩ sống tu tập cạnh bờ sông Sindhu, có cúng dường đến Đức Phật đường mật.

Truyền thuyết nói rằng: Ngày Ngài sinh ra, có một trận mưa mật ngọt rơi xuống([175]). Có khả năng Ngài chính là Trưởng lão Mahānāma([176]).

Dứt lịch sử Đức Phật Sumedha.

 

12- Đức Phật Sujāta.

Sau khi Đức Phật Sumedha viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm dần cho đến khi còn 10 năm, rồi tăng dần lên đến atăng kỳ năm. Sau đó giảm dần xuống, đến khi tuổi thọ nhân loại là 90 ngàn năm thì Đức Phật Sujāta xuất hiện trên thế gian.

Sau khi viên mãn 30 pháp Balamật, Bồtát tái sinh về cõi Tusita (Đẩusuất), nhận lời thỉnh cầu của chư thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới. Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà HoàngPabhācatī, cha Ngài là Đức vua Uggata trị vì kinh thành Sumaṅgala.

Từ khi Bồtát giáng sinh vào thai bào, mọi người đều an lạc, nên Bồtát được đặt tên là Sujāta.

Bồtát Sujāta sống tại gia là 9 ngàn năm trong ba tòa cung điện: Cung điện Siri, cung điện Upasiri và cung điện Nanda, có 23 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là công nương Sirinandā.

Sau khi nhìn thấy bốn điềm tướng, Bồtát cưỡi ngựa thuần chủng Haṃsavāha ra đi xuất gia, có 90 triệu người theo Bồtát ra đi xuất gia. Vào ngày hôm ấy, nàng Sirinandā vừa sinh ra Thái tử Upasena.

Bồtát Sujāta thực hành khổ hạnh 9 tháng, vào ngày trăng tròn tháng Vesakha Bồtát thọ dụng bát cơm sữa do con gái của trưởng giả Sirinanda trong thành phố Sirinanda cúng dường.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cây Mahāveḷu (Đại Trúc), trên đường đi Ngài nhận 8 bó cỏ của một du sĩ lỏa thể là Sunanda cúng dường.

Cây tre (veḷu) này có thân rất lớn, tàn lá đan vào nhau dày đặc khiến ánh sáng mặt trời không thể xuyên qua, cây tre thẳng tắp trông rất khả ái.

Cây tre chỉ có một đốt nằm phía trên cao, từ đốt tre này những tàn nhánh tỏa ra như chiếc lọng lớn rất xinh đẹp, xem như cây tre này không có đốt nơi thân, thân tre hoàn toàn không có gai.

Nơi cội cây Mahāveḷu, Bồtát trải tám bó cỏ làm Bồđoàn, một Bảo tọa chiến thắng hiện ra cho Ngài.

Trên Bảo tọa chiến thắng, Bồtát thắng phục năm loại ma vương, diệt trừ mọi ô nhiễm. Khi mặt trời vừa ló dạng, Ngài chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Sujāta.

Nhận lời thỉnh cầu giảng pháp Bất tử của Đại Phạm thiên.

Với Phật trí, Đức Phật Sujāta thấy được duyên lành của Tử hoàng Sudassana (là em trai khác mẹ với Ngài) cùng với con trai quan Tế tự là Deva (Sudeva).

Theo đường hư không, Đức Thế Tôn ngự đến vườn hoa Sumaṅgala gần kinh thành Sumaṅgala, nơi đây Đức Thế Tôn khai mở bánh xe pháp.

Dứt pháp thoại có 800 triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Desente pavaraṃ dhammaṃ; sujāte lokanāyake.

Asītikoṭī abhisamiṃsu; paṭhame dhammadesane.

“Khai giảng pháp cao quý; Sujāta, bậc Lãnh đạo thế gian.

*Có 80 mười triệu trong Thắng hội này; là lần đầu tiên giảng pháp”([177]).

Thắng hội II.

Khi Đức Thế Tôn thể hiện Song thông lực ở ngay cổng thành Sudassana nơi cội cây cổ thụ Sāla để nhiếp phục ngoại giáo, rồi Ngài ngự lên cung trời Tāvatiṃsa (Ba mươi ba) thuyết lên tạng Thắng pháp.

Thời pháp thoại này mang đến Thánh quả cho 3.700.000 chư Thiên và Phạm thiên.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Yadā sujāto amitayaso, deve vassaṃ upāgami;

Sattatiṃsasatasahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.

“Sujāta, vị có danh tiếng vô lượng; an cư mùa mưa ở cõi trời.

Có 37 trăm ngàn; là Thắng hội lần hai” (sđd.5).

Thắng hội III.

Khi trở về Hoàng cung để tế độ thân quyến, Đức Thế Tôn Sujāta thuyết pháp thoại tế độ chúng sinh. Có 6 triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn.

6- Yadā sujāto asamasamo; upagacchi pitusantikaṃ.

Saṭṭhisatasahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Sujāta, tương đương với bậc Vô song; đi đến gặp người cha.

Có 60 trăm ngàn vị; là Thắng hội lần thứ ba”(sđd.6).

*Ba Tăng hội của Đức Thế Tôn Sujāta.

Tăng hội I.

Nơi thành Sudassana, trong vườn Ngự Uyển Sudassana, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát đến đại chúng Tăng, là 6 triệu người chứng Thánh quả Alahán và được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Abhiññābalappattānaṃ; appattānaṃ bhavābhave.

Saṭṭhisatasahassāni; paṭhamaṃ sannipatiṃsu te.

“Thắng trí lực chứng đạt; không đến hữu này hữu khác.

Có 60 trăm ngàn; lần tụ hội đầu tiên của  Ngài”(sđd.8).

Tăng hội II.

Khi Đức Thế Tôn Sujāta từ cung trời Tāvatimsa (Ba mươi ba) trở về nhân giới.

Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát đến Đại chúng Tăng, là 5 triệu vị ThánhAlahán, xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave ..”.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

9- Punāparaṃ sannipāte; tidivorohaṇe([178]) jine.

Paññāsasatasahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Lần tụ hội khác, Bậc Chiến Thắng tử cõi trời trở về.

Có 50 trăm ngàn; là lần tụ hội thứ hai” (sđd.9).

Tăng hội III.

Vị Tướng quân Chánh pháp của Đức Phật Sujāta là Trưởng lão Sudassana, dẫn 400 ngàn thiện gia tử đến yết kiến Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn với pháp thoại tế độ tất cả chứng đắc Thánh quả Alahán và cho tất cả xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

10- Upasaṅkamanto narāsabhaṃ; tassa yo aggasāvako.

Catūhi satasahassehi; sambuddhaṃ upasaṅkami.

“Đến gần bậc Nhân Ngưu; là đệ tử Tối thắng của vị ấy.

Có bốn trăm ngàn; Bậc Chánh giác có lần tụ hội kế” (sđd.10).

*Tiền thân Đức Phật Gotanma.

Vào thời ấy, tiền thân của Đức Phật Gotama là vị vua Chuyển Luân.

Sau khi đến yết kiến Đức Thế Tôn Sujāta, vua Chuển Luân cúng dường trọng thể đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng trọn 7 ngày.

Giữa đại chúng, Đức Phật Sujāta tiên tri rằng: “Sau 30 ngàn kiếp trái đất, kể từ kiếp trái đất này. Vị vua Chuyển Luân này trở thành vị Chánh giác có tộc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

Nghe được lời tiên tri này, vua Chuyển Luân phát sinh hỷ lạc, cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng toàn bộ vương quốc của mình, rồi xuất gia trở thành vị Tỳkhưu trong Tăng đoàn.

Sau khi thông suốt pháp học, Ngài thực hành thiền tịnh chứng đắc 8 thiền chứng cùng 5 pháp thần thông.

Mệnh chung, Bồtát tái sinh về Phạm thiên giới.

 *Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Sujāta.

Đức Phật Sujāta cao 50 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng khắp moị phương hướng, xa bao nhiêu tùy ý.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Sujāta là Trưởng lão Sudassana  và Trưởng lão Sudeva. Thị giả là Trưởng lão Nārada.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Sujāta là Trưởng lão ni Nāgā và Trưởng lão ni Nāgasamātā .

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Sujāta là Trưởng giả Sudatta và Trưởng giả Citta.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Sujāta là bà Subhaddā và bà Padumā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Sujāta là 90 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi tự viện Sīlarāma, Bảo tháp thờ Xálợi của Ngài cao 3 gāvuta.

Dứt lịch sử Đức Phật Sujāta.

 

Sau khi Đức Phật Sujāta viên tịch, trải qua thời gian dài kiếp trống (suññakappa) là 28.200 kếp trái đất không có vị Chánh giác nào xuất hiện.

Cách hiền kiếp này trở về trước 1800 kiếp trái đất, trái đất này có ba vị Chánh giác xuất hiện (gọi là varakappa) là: Đức Phật Piyadassī, Đức Phật Aṭṭhadassī và Đức Phật Dhammadassī.

 

13- Đức Phật Piyadassī.

Như thông lệ chư Phật, vị Bồtát đã hoàn mãn 30 pháp Balamật, Ngài tái sinh về cung trời Tusita (Đẩusuất) thọ hưởng thiên lạc là 576 triêu năm.

Nhận lời thỉnh cầu của chư Thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới, Bồtát tái sinh về nhân giới, Ngài nhập thai bào của bà Hoàng Sucandā (hay Candā), cha của Bồtát là Đức vua Sudatta trị vì kinh thành Sudhaññavatī (hay Sudassana).

Sau 10 tháng trú trong thai bào, Bồtát đản sinh nơi vườn Ngự Uyển Varuṇa. Vào ngày lễ đặt tên cho Bồtát, mọi người đều nhìn nhau với sự thân thương, đồng thời rất nhiều điều dễ thương xuất hiện, nên Ngài được đặt tên là Piyadassī,

Bồtát sống tại gia 9 ngàn năm trong ba tòa cung điện: Cung điện  Sunimala([179]), cung điện Vimala và cung điện Giribrahā([180]), có 30 ngàn cung nữ xinh đẹp hầu hạ, vợ Ngài là công nương Vimalā.

Khi chứng kiến trọn vẹn bốn hiện tượng, Bồtát ra đi xuất gia trên chiếc xe có ngựa thuần chủng kéo đi, có 10 triệu người cùng xuất gia theo Ngài, cũng trong ngày hôm ấy, nàng Vimalā vừa sinh ra Thái tử Kañcanavela([181]).

Bồtát Piyadassī hành khổ hạnh 6 tháng, vào ngày trăng tròn tháng Vesakha, Bồtát thọ dụng bát cơm sữa của nàng con gái Bàlamôn trưởng giả Vasabha ở làng Varuṇā dâng cúng.

Vào buổi chiều Bồtát đi đến cội cây Kakudha (cây Bàng), Bồtát nhận 8 bó cỏ do du sĩ lỏa thể Sujāta dâng cúng, tám bó cỏ trở thành Bảo tọa chiến thắng của Ngài. Ngồi trên Bảo tọa chiến thắng Bồtát chiến thắng năm loại ma vương, khi mặt trời vừa ló dạng Ngài chứng Vô thượng Chánh giác.

   *Ba Thắng hội của Đức Phật Piyadassī.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn Piyadassī chuyển Pháp Luân  nơi vườn Usabhavana gần thành Usabhavatī, tế độ 10 triệu vị Samôn xuất gia theo Ngài khi trước, Đức Thế Tôn mang Thánh quả đến cho 1.000 tỷ nhân thiên.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

3- Tassāpi atulatejassa; ahesuṃ abhisamayā tayo.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Vị có uy lực vô song; có ba lần Thắng hội.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội đầu tiên”([182]).

Thắng hội II.

Có Thiên chủ Sudassana cư ngụ trên núi Sudassana không xa kinh thành Subhavatī lắm, Thiên chủ này chủ trương tà kiến.

Hàng năm cư dân khắp quốc độ thời ấy phải mang lễ phẩm đến dâng cúng cho thiên chủ Sudassana.

Đức Thế Tôn Piyadassī đến núi Sudassana để tế độ thiên chủ Sudassana, bấy giờ thiên chủ Sudasana đi dự đại hội dạxoa. Đức Thê1 Tôn ngồi vào chỗ ngồi của thiên chủ Sudasana, Ngài phát ra hào quang 6 màu xinh đẹp soi sáng cả vùng núi Sudassana, các tùy tùng của Sudasana cúng dường Đức Thế Tôn vô số các loại hương hoa …

Khi thiên chủ Sudassana trở về, thấy hào quang 6 máu phát ra từ cung điện của mình, Sudassana suy nghĩ: “Ta chưa hề thấy được hào quang sáu màu rực rỡ xinh đẹp như thế này, người này là ai? Người hay thiên nhân mà dám chiếm chỗ cư ngụ của ta”.

Khi Thiên chủ Sudasana nhìn thấy Đức Thế Tôn đang thiền tịnh trên bảo tọa, các tùy tùng đang ngồi hầu bên dưới.

Sudassana nổi cơn giận dữ rằng: “Ông Samôn trọc đầu này đang ngồi nơi Bảo tọa vinh quang của ta, được hội chúng của ta vây quanh. Được, ta sẽ cho ông Samôn ấy biết sức mạnh của ta”.

Thiên chủ Sudassana biến ngọn núi trở thành khối lửa khổng lồ, nhìn vào trong ánh lửa, y thấy Đức Phật vẫn bình thản vô sự, hào quang từ thân của Ngài càng chiếu ra xinh đẹp bội phần, y nghĩ: “Ông Samôn này chịu đựng được lửa. Ta sẽ nhận chìm ông Samôn này trong nước”. Y hóa ra khối nước khổng lồ ngập tràn cả cung điện, nhưng cả đến chéo y hay một sợi lông của Ngài cũng không hề thấm ướt.

Thấy Đức Phật vô sự giữa bức tường nước dày đặc, hào quang từ thân của Ngài lại càng xinh đẹp tỏa ra từ khối nước khổng lồ. Thiên chủ Sudassana càng tức giận, liền tạo ra chín trân mưa với 9 loại vũ khí để sát hại vị Samôn, nhưng tất cả đều trở thành vật cúng dường dưới chân Đức Phật.

Càng tức tối, Sudassana tóm lấy hai chân Đức Phật, y vượt qua đại hải mênh mông đến tận núi Cakkavāla (Luân vi), ném Đức Phật ra khỏi thế giới này, nhưng khi trở về chỗ ngụ y thấy Đức Phật vẫn  ngồi yên trên Bảo tọa nơi cung điện của y.

Y suy nghĩ: “Ồ! Vị Samôn này có đại uy lực, ta không thể trục xuất vị ấy ra khỏi chỗ ngụ được, nếu có ai chứng kiến sự thất bại của ta thì thật là nhục nhã cho ta. Trước khi không có ai trông thấy ta hãy bỏ ra đi”.

Biết được ý nghĩ của thiên chủ Sudassana, Đức Thế Tôn Piyadassī quyết định: “Tất cả nhân loại, chư thiên, Phạm thiên hãy trông thấy Sudassana đang ôm chân Như Lai”.

Và Sudassana không thể rời bỏ chỗ ngụ, y đang ôm lấy chân Đức Thế Tôn.

Ngày hôm ấy, tất cả các vị vua cùng dân chúng mang lễ vật đến cung tế cho Thiên chủ Sudassana, nhìn thấy Sudassana đang ôm chân Đức Phật, ngạc nhiên, tất cả đều la lên rằng: “Thiên vương Sudassana của chúng ta đang xoa bóp chân vị Samôn. Ân đức của Ngài quả thật kỳ diệu”.

Với tâm thành kính tất cả chấp tay lên trán đảnh lễ Đức Phật để tỏ lòng tôn kính. Trước hội chúng ấy, Đức Thế Tôn thuyết pháp thọai, có 900 triệu nhân thiên chứng Thánh quả Alahán.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Sudassano devarājā; micchādiṭṭhimarocayi,

Tassa diṭṭhiṃ vinodento; satthā dhammamadesayi.

“Thiên vương Sudassana; đã chủ trương tà kiến.

Khi xua tan tà kiến vị ấy; Bậc Đạo sư giảng pháp”.

5- Janasannipāto atulo; mahāsannipatī tadā.

Navutikoṭisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Một cuộc tụ hội vô song; đó là cuộc tụ hội lớn.

Có 90 ngàn 10 triệu; là Thắng hội thứ hai”(sđd. 4-5).

Thắng hội III.

Nơi kinh thành Kamuda rộng khoảng 9 dotuần, có Tỳkhưu Soṇa là người chống lại Đức Phật Piyadassī.

Tỳkhưu Soṇa thuyết phục Thái tử Mahāpaduma giết cha cướp ngôi, rồi cùng vua Mahāpaduma âm mưu sát hại Đức Phật.

Sau nhiều lần thất bại, Tỳkhưu Soṇa xúi giục vua Mahāpaduma thả voi hung dữ nhất là voi Doṇamukha để sát hại Đức Phật khi Ngài đi vào kinh thành khất thực.

Người quản tượng tên là Doṇamukha lại là người thiếu trí, suy ngĩ rằng: “Nếu ta không làm theo lời Đức vua, vị ấy sẽ hại ta mất chức hay giết chết ta”.

Sau khi cho voi Doṇamuka uống nhiều rượu mạnh, y thả voi ra để sát hại Đức Phật, nhưng với từ tâm của Đức Phật, voi Doṇamukha quỳ mọp dưới chân Đức Phật.

Chứng kiến điều kỳ diệu này, tất cả cư dân kinh thành Kamuda tán thán ân đức Phật vang dội.

Đức Thế Tôn thuyết pháp đến hội chúng, có 800 triệu  nhân thiên chứng đạt Thánh quả Alahán.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Yadā doṇamukhaṃ hatthiṃ; vinesi narasārathi.

Asītikoṭisahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

 “Khi voi Doṇamukha; được Đấng Lãnh Đạo điều phục.

Có 80 ngàn 10 triệu; là Thắng hội lần ba”.

*Ba Tăng hội của Đức Phật Piyadassī.

Tăng hội I.

Nơi kinh thành Sumaṅgala có hai thanh niên bạn thân, đó là Thái tử Pālita và Sabbadassī con của Tế lễ sư.

Được nghe Đức Thế Tôn Piyadassī du hành đến thành Sumaṅgala; hai người cùng với tùy tùng là 100 ngàn 10 triệu người đến yết kiến Đức Thế Tôn, nghe được pháp thoại của Đức Thế Tôn Piyadassī, tâm hoan hỷ tổ chức cuộc đại thí đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng trọn 7 ngày

Vào ngày thứ 7, sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn phúac chúc  bằng thời pháp thoại. Dứt pháp thoại, Pālita và Sabbadassī cùng hội chúng hai vị chứng đạt Thánh quả Alahán.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Sannipātā tayo āsuṃ; tassāpi piyadassino.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

“Có ba lần tụ hội; của Đức Phật Piyadassī.

Có 100 ngàn 10 triệu; là lần tụ hội đầu tiên” (sđd.7).

Tăng hội II.

Vào lúc Đức Thế Tôn thu phục thiên vương Sudassana, pháp thoại của Ngài mang đến Thánh quả Alahán cho 900 triệu người. Tất cả được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave…”. Đây là Tăng hội II của Ngài.

Tăng hội III.

Khi Đức Thế Tôn thu phục voi Doṇamkha, pháp thoại của Ngài mang Thánh quả Alahán đến cho 800 triệu người. Tất cả đều được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Tato paraṃ navutikoṭī; samiṃsu ekato munī.

Tatiye sannipātamhi; asītikoṭiyo ahū.

“Lại lần khác, 90 mười triệu vị; các vị ẩn sĩ tụ hội.

Cuộc tụ hội lần ba; có 80 mười triệu vị” (sđd.8).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy tiền thân Đức Phật Gotama là thanh niên Bàlamôn Kassapa có đại tài sản.

Thanh niên Kassapa nghe pháp thoại của Đức Thế Tôn, đã kiến tạo một ngôi đại tự rộng lớn xinh đẹp, cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng, đồng thời quy ngưỡng Tam bảo.

Vào ngày lễ cúng dường đại tự đến Đức Phật và Tăng chúng, giữa đại chúng Đức Thế Tôn Piyadassī tiên tri rằng: “Sau 1,800 đại kiếp kể từ đại kiếp này trở đi, thiện gia tử này sẽ là vị Chánh giác có tộc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

    *Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Piyadassī.

Đức Phật Piyadassī cao 80 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng khắp moị phương hướng, xa bao nhiêu tùy ý.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Piyadassī là Trưởng lão Pālita và Trưởng lão Sabbadassī. Thị giả là Trưởng lão Sobhita.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Piyadassī là Trưởng lão ni Sujātā và Trưởng lão ni Dhammadinnā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Piyadassī là Trưởng giả Sannaka và Trưởng giả Dhammika.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Piyadassī là bà Visākhā và bà Dhammadinnā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Piyadassī là 90 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi tự viện Assattha (Assatthārāma), Bảo tháp thờ Xálợi của Ngài cao 3 dotuần.

Phụ lục.

*Trưởng lão Nigrodha.

Trong thời Đức Phật Gotama còn tại tiền, Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn danh tiếng trong thành Sāvatthi (Xávệ).

Khi Đại tự Kỳviên (Jetavanavihāra) được cúng dường đến Tăng đoàn có Đức Phật là vị Thượng thủ, Ngài hân hoan với  những đại nhân tướng cùng vẽ uy nghiêm của Đức Phật nên xuất gia trong Tăng đoàn, Ngài nỗ lực hành pháp chẳng bao lâu chứng Thánh quả Alahán cùng 5 thắng trí.

Suy tư đến lợi ích của Giáo pháp dẫn xuất ra khỏi sinh tử luân hồi, Ngài nói lên kệ ngôn.

21- Nāhaṃ bhayassa bhāyāmi; satthā no amatassa kovido.

Yattha bhayaṃ nāvatiṭṭhati; tena maggena vajanti bhikkhavo’’ti.

“Với ta, không còn sợ hãi; Bậc Đạo sư chúng ta thông suốt bất tử.

Nơi sợ hãi không chỗ trú; Tỳkhưu đi trên đường ấy”([183]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Piyadassī tiền thân Ngài là một trưởng giả, sau khi từ bỏ gia sản Ngài xuất gia làm ẩn sĩ, sống trong rừng cây Sāla, chứng đắc thiền định cùng 5 thắng trí..

Có lần ẩn sĩ thấy Đức Thế Tôn đang an trú trong định diệt thọ tưởng, ẩn sĩ làm mái che cho Đức Thế Tôn rồi đứng chấp tay hầu Ngài cho đến khi Đức Phật xuất khỏi đại định. Đức Thế Tôn khởi ý nghĩ: “Các Tỳkhưu đệ tử Như Lai hãy đến đây”.

Nhận được lịnh của Đức Thế Tôn, chư Tỳkhưu tề tựu đến khu rừng Sāla, ẩn sĩ cúng dường chỗ ngồi đến Đức Phật và các vị Tỳkhưu. Giữa đại chúng Tỳkhưu, Đức Thế Tôn tiên tri về sinh thú của ẩn sĩ([184]).

Ngài có thể là Trưởng lão Sālamaṇḍapiya được nói trong tập Apadāna([185]).

*Trưởng lão Padumakūṭāgāriya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Piyadassī tiền thân Ngài là thợ săn, có lần thấy Đức Phật Piyadassī an trú trong định diệt thọ tưởng trong rừng, người thợ săn cất cho Đức Phật một căn lều để Đức Phật trú ẩn ([186]).

*Trưởng lão Pabbhāradāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Piyadassī tiền thân Ngài có lần dọn chỗ cho Đức Phật trú (pabbhāra), đồng thời múc nước đổ vào nơi chứa để Đức Phật sử dụng.

Cách đây 20 kiếp trái đất tiền thân Ngài là vị vua có vương hiệu là Susuddha([187]).

*Trưởng lão Pāpanivāriya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Piyadassī tiền thân Ngài quét dọn sạch sẽ con đường kinh hành của Đức Phật và tinh cần trong mọi công tác phật sự.

Cách đây 11 kiếp trái đất, tiền thân Ngài là vị vua có vương hiệu Aggideva([188]).

*Trưởng lão Hemaka.

Là một trong 16 môn đệ của Bàlamôn Bāvarī.

Ngài đến gặp Đức Phật để hỏi pháp, khi Đức Thế Tôn giải đáp các câu hỏi của Ngài, Ngài cùng 1.000 môn đệ chúng Thánh quả Alahán rồi xuất gia trong Tăng đoàn([189]).

Trong thời Đức Phật Piyadassī tiền thân Ngài là ẩn sĩ Anoma, có cúng dường Ðức Phật một bảo tọa([190]).

*Trưởng lão Tambapupphiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Piyadassī tiền thân Ngài trốn vào rừng vì phạm tội. Thấy cây Đại giác của Đức Phật Piyadassī, tiền thân Ngài quét dọn sạch sẽ chung quanh cội cây rồi rải hoa, đảnh lễ cây Đại giác.

Cách đây 3 kiếp trái đất tiền thân Ngài là vị vua có vương hiệu là Samphusita([191]). Có khả năng Ngài là Trưởng lão Vanavaccha([192]).

Dứt lịch sử Đức Phật Piyadassī.

 

14- Đức Phật Atthadassī.

Sau khi Đức Phật Atthadassī viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm dần xuống đến khi còn 1o năm, rồi lại tăng dần đến atăng kỳ năm, rồi lại giảm xuống đến khi còn 100 ngàn năm. Bấy giờ Đức Phật Atthadassī xuất hiện trên thế gian.

Theo thông lệ chư Bồtát Chánh giác, khi thực hành viên mãn 30 pháp độ, Bồtát tái sinh về cõi Tusita (Đẩu suất). Theo lời thỉnh cầu của chư thiên Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới, Ngài giáng phàm.

Ngài tái sinh vào thai bào của bà Hoàng Sudassanā, cha Ngài là Đức vua Sāgata trị vì nơi kinh thành tráng lệ Sobhana.

Bồtát trú trong thai bào 10 tháng, Ngài đản sinh nơi vườn hoa Sucindhana, khi vừa sinh ra, Bồtát suy nghĩ: “Những kho tàng chôn dấu của tất cả mọi người, hãy được tìm thấy” và chủ nhân của những kho tàng ấy phát hiện tài sản của gia tộc chôn dấu.

Do sự kiện này Ngài được gọi là Atthadassī.

Bồtát Atthadassī sống tại gia là 10 ngàn năm trong ba tòa cung điện: Cung điện Amaragiri, cung điện Suragiri và cung điện Girivāhana, có 30 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là công nương Visākhā.

Khi thấy được đầy đủ bốn hiện tượng, Bồtát cưỡi ngựa chúa Sudasana ra đi xuất gia, có 90 triệu người theo Ngài ra đi xuất gia. Ngày hôm ấy nàng Visākhā vừa sinh ra Thái tử Sela([193]).

Bồtát Atthadassī thực hành khổ hạnh 8 tháng, vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, khi ấy cư dân trong vùng tế lễ nàng rắn chúa Sucindharā.

Nữ rắn chúa Sucindharā cảm nhận được ân đức của Bồtát, nàng không dùng bát cơm sữa ấy, hiện thân cho Bồtát thấy mặt cùng đại chúng, rồi cúng dường đến Bồtát chiếc bát bằng vàng bên trong chứa đầy cơm sữa.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cội cây Campaka([194]), rắn chúa Dhammaruci dâng cho Bồtát 8 bó cỏ. Tám bó cỏ này trở thành Bảo tọa chiến thắng của Bồtát, ngồi trên Bảo tọa Bồtát nỗ lực hành pháp, chứng đắc Vô thượng Chánh giác khi mặt trời vừa ló dạng.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Atthadassī.

Thắng hội I.

Đức Phật Atthadassī Chuyển pháp luân đầu tiên nơi vườn Anoma gần thành Anomā để tế độ 90 triệu vị Samôn theo Ngài xuất gia,

Dứt pháp thoại có 1.000 tỷ nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau..

3-Tassāpi lokanāthassa; ahesuṃ abhisamayā tayo.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Vị Lãnh đạo thế gian ấy; có ba Thắng hội.

Một trăm ngàn 10 triệu; là Thắng hội đầu tiên”([195]).

Thắng hội II.

Khi Đức Thế Tôn lên cõi trời Tāvatiṃsa (Ba mươi ba), thuyết lên tạng Thắng pháp (abhidhamma), có 1.000 tỷ chư thiên và Phạm thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Yadā buddho atthadassī; carate devacārikaṃ.

Koṭisatasahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

 “Khi Đức Phật Atthadassī; Ngài du hành đến cõi trời.

Có 100 ngàn 10 triệu vi; là Thắng hội lần hai” (sđd.4).

Thắng hội III.

Khi Đức Phật Atthadassī trở về kinh thành Sobhana để tế độ quyến thuộc, Ngài thuyết lên Lịch sử chư Phật. Có 1.00o tỷ nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Punāparaṃ yadā buddho; desesi pitusantike.

Koṭisatasahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Đức Phật lại lần khác nữa; Ngài đến viếng người cha.

Có 100 ngàn 10 triệu; là Thắng hội lấn thứ ba”.(sđd.5).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Atthadassī.

Tăng hội I.

Nơi kinh thành Sucandaka có Thái tử Santa kết bạn với Upasanta là con trai vị Tế lễ sư.

Cả hai tinh thông ba bộ Veda (Vệđà), nhận thấy không có cốt lõi chi cả, Thái tử Santa cho bốn người thông minh, có sự hiểu biết cao, giữ bốn cổng thành với chỉ thị rằng: “Nếu các ngươi nghe có vị Samôn hay Bàlamôn nào đã giác ngộ, hãy thông báo cho chúng ta biết”.

Khi Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu du hành đến kinh thành Sucandaka, được tin này người gác cổng thành thôn báo cho Thái tử Santa biết.

Thái tử Sata và Upasanta cùng 1.000 tùy tùng ra khỏi cổng thành để đón tiếp Đức thế Tôn và Tăng chúng. Thỉnh Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu vào Hoàng cung, cúng dường vật thực đến Đức Phật và chư Tăng 7 ngày.

Vào ngày thứ 7, sau khi thọ thực xong, Đức Phật Atthadassī  phúc chúc bằng thời pháp thoại thích ứng đến đại chúng; dứt pháp thoại có 98 ngàn vị đạt Thánh quả Alahán, được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Đức Thế Tôn giáo giới con trai Ngài là Trưởng lão Sela, pháp thoại mang đến Thánh quả Alahán cho 88 ngàn người.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau:

7- Aṭṭhanavutisahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Aṭṭhāsītisahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Có 98 ngàn vị; là lần tụ hội đầu tiên.

Có 88 ngàn vị; là lần tụ hội thứ hai”(sđd.7).

Tăng hội III.

Một lần khác khi nhân loại, chư thiên và Phạm thiên tụ hội, Đức Thế Tôn thuyết kinh Hạnh phúc (Maṅgalasutta), có 78 ngàn người chứng đắc Thánh quả Alahán.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Aṭṭhasattatisatasahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

Anupādā vimuttānaṃ; vimalānaṃ mahesinaṃ.

“Có 78 ngàn vị; là lần tụ hội thứ ba.

Không nắm giữ, giải thoát; đại ẩn sĩ trong sạch” (sđd, 8).

   *Tiền thân của Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, Bồtát là một Bàlamôn có đại tài sản tên là Susīma, cư ngụ nơi kinh thành Campaka, sau khi bố thí hết tài sản ngài xuất gia làm ẩn sĩ, chứng đạt 8 thiền cùng 5 thắng trí.

 Ngài giảng dạy đại chúng về pháp vô tội, pháp có tội. thế nào là phước, thế nào là vô phước.

Khi Đức Thế Tôn Atthadassī đến kinh thành Sudassana, tưới trận mưa pháp xuống thế gian. Ẩn sĩ Sussīma có mặt trong hội chúng, nghe được pháp thâm sâu cùa Đức Thế Tôn, ẩn sĩ lên cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi ba) nhặt những cánh thiên hoa như hoa Mạnđàla (mandarava), hoa sen, hoa trầm hương …

Ngài vận dụng thần thông chính mình, tạo ra trận mưa thiên hoa cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng chư Thánh Tăng.

Giữa đại chúng, Đức Thế Tôn tiên tri rằng: “Sau 1800 kiếp trái đất, người này sẽ trở thành bậc Chánh giác có tộc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

 *Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Atthadassī.

Đức Phật Atthadassī cao 80 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng một dotuần.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Atthadassī là Trưởng lão Santa và Trưởng lão Upasanta. Thị giả là Trưởng lão Abhaya.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Atthadassī là Trưởng lão ni Dhammā và Trưởng lão ni Sudhammā .

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Atthadassī là Trưởng giả Nakula và Trưởng giả Nisabha.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Atthadassī là bà Malikā và bà Sunandā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Atthadassī là 100 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi Tự viện Anoma. Theo nguyện lực của Đức Phật Atthadassī, Xálợi của Ngài rải tản trong cõi nhân thiên.

Phụ lục.

*Trưởng lão Ālambanadāyāka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài có cúng dường đến Đức Phật vật máng những chiếc y (ālambana).

Cách đây 60 kiếp trái đất, tiền thân của Ngài ba lần làm vua với vương hiệu Ekāpassita([196]).

*Trưởng lão Ekachattiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là một ẩn sĩ có rất đông môn đệ sống cạnh bờ sông Candabhāgā.

Có lần ẩn sĩ cùng môn đệ đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, dùng lộng che cho Đức Phật.

Các đây 77 kiếp trái đất, tiền thân Ngài là vua trời cõi chư Thiên, là vua cõi nhân loại hằng ngàn lần([197]).

*Trưởng lão Ekudāna (Ekudāniya).

Ngài là con  một Đại thần Bàlamôn trong thành Sāvatthi (Xávệ).

Khi Đại tự Kỳviên được cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng, Ngài cảm phục uy đức của Đức Thế Tôn nên xuất gia Sadi trong giáo đoàn.

Trong suốt thời gian Sadi, Ngài sống trong rừng. Có lần Ngài đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn để học pháp, bấy giờ Trưởng lão Sāriputta đang thiền tịnh cách Đức Thế Tôn không xa, Đức Thế Tôn nói kệ ngôn.

68 – Adhicetaso appamajjato; munino monapathesu sikkhato.

Sokā na bhavanti tādino; upasantassa sadā satīmato’’ti.

“Cẩn trọng với tâm tăng thượng; ẩn sĩ học tập trú nơi toàn hảo.

Nơi ấy không sầu, không lo sợ; thường chú niệm an tịnh”([198]).

Ngài học thuộc kệ ngôn ấy rồi trở về rừng, chỉ lập lại kệ ngôn ấy khi có ai hỏi Pháp nơi Ngài, do đó Ngài được gọi là Ekudāniyatthera (Trưởng lão một câu kệ). Theo Kệ ngôn Ngài thực hành rồi triển khai thiền quán chứng đắc Thánh quả Alahán.

Tương truyền, vào ngày Uposata (Bốtát), Trưởng lão thường tụng lên kệ ngôn ấy cho các vị chư thiên trong rừng nghe, chư thiên hoan hỷ tán thán Ngài vang dội.

Có lần, hai vị Trưởng lão làu thông kinh điển của Đức Thế Tôn đến viếng thăm Trưởng lão Ekudāniya, mỗi vị có 500 đệ tử tùy tùng.

Trưởng lão Ekudāniya ân cần tiếp đãi khách Tăng chu đáo, vào ngày Uposatha (Bốtát), Trưởng lão thỉnh hai vị Pháp sư Tam tạng thuyết pháp đến chư thiên trong rừng.

Hai vị Pháp sư thuyết pháp, nhưng không có vị thiên nhân nào tán thán, hai vị Pháp sư trách Trưởng lão Ekudāniya rằng:

– Này Hiền giả, hiền giả nói chư thiên trong rừng thường tán thán khi nghe pháp, nhưng vì sao không thấy được việc này?

– Thưa các Ngài, những ngày Uposatha trước đây đều có như vậy. Hôm nay vì sao chư thiên im lặng, tôi cũng không rõ.

– Vậy Hiền giả hãy thuyết pháp xem sao?

Trưởng lão Ekudāna thuyết lên kệ ngôn quen thuộc và chư thiên trong rừng tán thán vang dội. Hai vị Pháp sư trách móc rằng:

– Chư thiên trong rừng này cũng thiên vị.

Khi trở về Đại tự KỳViên, hai vị Pháp sư trình lên Đức Thế Tôn việc này. Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, người học thuộc nhiều hoặc thuyết ra nhiều pháp, Ta không gọi là người người giữ pháp (dhammadharo); người chỉ thuộc lòng một câu kệ mà thấu triệt chân lý, xứng đáng gọi là người giữ pháp.

Nhân đó, Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn.

259- Na tāvatā dhammadharo, yāvatā bahu bhāsati;

Yo ca appampi sutvāna, dhammaṃ kāyena passati;

Sa ve dhammadharo hoti, yo dhammaṃ nappamajjati.

“Không phải là người giữ pháp; chỉ vì nói nhiều.

Người dù nghe ít; thấy rõ nhóm pháp.

Đó là người giữ pháp; người không bỏ rơi Pháp”([199]).

Về sau, khi Trưởng lão Ānanda yêu cầu Ngài giảng pháp đến các Tỳkhưu ni ở trong thành Sāvatthi, Ngài cũng chỉ nói lên kệ ngôn trên.

Ni chúng không thu đạt được gì nên khó chịu với Ngài, hiểu tâm ý của Ni chúng, Ngài liền thi triển thần thông về sự hiểu biết Pháp của Ngài và được ni chúng ngưỡng mộ.

Kệ ngôn trên được ghi nhận trong tạng Luật (vinaya)([200]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Piyadassī, tiền thân Ngài là một dạxoa, khi nghe Đức Thế Tôn Piyadassī viên tịch, dạxoa than khóc vì hối tiếc đã đánh mất cơ hội, không được đảnh lễ Đức Phật.

Trưởng lão Sāgara đệ tử của Đức Phật Piyadassī khuyên dạxoa đến đảnh lễ Bảo tháp thờ Xálợi Đức Phật Piyadassī. Dạxoa vâng lời và hành trì được 5 năm.

Vào 7 kiếp trước, tiền thân Ngài bốn lần làm vua với vương hiệu Bhūripañña.

Vào thời Đức Phật Kassapa, tiền thân Ngài là một gia chủ, có nghe Đức Phật Kassapa nói lên kệ ngôn trên, gia chủ xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật Kassapa, tu tập 10 ngàn năm, nhưng không chứng đắc chi cả([201]).

Ngài có thể là Trưởng lão Paccupatṭṭhānasaññaka được nói trong tập Apadāna([202]).

*Trưởng lão Kumudamāliya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là thần quỷ (rakkhasa) trú nơi hồ gần vùng núi Tuyết, có cúng dường đến Đức Phật một vòng hoa.

Vào 15 kiếp trước, tiền thân của Ngài làm vua 7 lần với vương hiệu Sahassaratha([203]).

*Trưởng lão Paviṭṭha.

Thời Đức Phật tại tiền, Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn trong xứ Magahda (Makiệttđà), Ngài có khuynh hướng xuất gia sống đời sống du sĩ.

Nghe hai du sĩ Upatissa và Kolita xuất gia trong Giáo pháp của Samôn Gotama, du sĩ  Paviṭṭha suy nghĩ: “Lý thuyết của Samôn Gotama phải tốt đẹp nên hai du sĩ trí tuệ Upatissa và Kolita mới gia nhập vào giáo đoàn này”.

Du sĩ Paviṭṭha đến nghe Đức Phật giảng pháp, khởi niềm tin xuất gia, nỗ kực hành pháp chẳng bao lâu chứng đạt Thánh quả Alahán.

Hân hoan Ngài nói lên chánh trí của mình qua kệ ngôn.

87- Khandhā diṭṭhā yathābhūtaṃ; bhavā sabbe padālitā.

Vikkhīṇo jātisaṃsāro; natthi dāni punabbhavo’’ti.

“Các uẩn thấy như thật; mọi sinh hữu phá hủy.

Chất dứt sinh luân hồi; không còn  tái sinh lại”([204]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Atthadassī, tiền thân Ngài là ẫn sĩ Kesava (còn gọi là Nārada), có lần ẩn sĩ được diện kiến Đức Phật, ẩn sĩ tỏ lòng cung kỉnh đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Cách đây 7 kiếp trái đất, tiền thân Ngài là vị vua với vương hiệu Amittatāpana([205]).

Ngài là Trưởng lão Ekadaṃsaniya được nói trong tập Apadāna([206]).

*Trưởng lão Caṅkamadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là gia chủ, có xây dựng cho Đức Phật con đường kinh hành.

Hậu thân gia chủ làm thiên vương ba lần, và vua Chuyển Luân 3 lần([207]).

*Trưởng lão Sīha.

Trong thời Đức Phật tại tiền, Ngài sinh vào gia tộc vương giả ở xứ Malla. Ngài đi đến đảnh lễ Đức Phật, Đức Phật giảng pháp thoại thích ứng với cơ tánh của Ngài, hoan hỷ Ngài xin xuất gia trong giáo đoàn.

Ngài ẩn tu trong rừng để hành thiền, nhưng không định tâm được, Đức Phật phóng hào quang đến nơi trú ẩn của Ngài, dạy Ngài kệ ngôn.

83- Sīhappamatto vihara; rattindivamatandito.

Bhāvehi kusalaṃ dhammaṃ; jaha sīghaṃ samussaya’’nti.

“Này Sīha, chớ sống lơ là; đêm ngày không biếng nhác.

Hãy tăng trưởng thiện pháp; lìa bỏ sự tích tụ”([208]).

Ngài nỗ lực thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn, chẳng bao lâu chứng Thánh quả Alahán.

Ngài dùng kệ ngôn trên để nói lên Chánh trí của mình.

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là một Nhân điểu (kinnara)  sống ở bờ sông  Candabhāgā.

Nhân điểu nhìn thấy Đức Phât du hành trên không liền chấp hai cánh đảnh lễ Đức phật. Khi Đức Phật hạ thân nơi cội cây, Nhân điểu  đi đến cúng dường Đức Phật miếng gỗ trầm hương và những cánh hoa.

Vào 14 kiếp trước, hậu thân Nhân điểu ba lần làm vua với vương hiệu Rohiṇi.

Có thể Ngài là Trưởng lão Candanapūjaka được nói đến trong tập Apadāna([209]).

*Trưởng lão Jagatikāraka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài có kiến tạo một điện thờ nơi Bảo tháp thờ Xálợi Đức Phật([210]).

*Trưởng lão Taraṇiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là  con rùa lớn sống ở sông Vinatā. Rùa dùng lưng đưa Đức Phật sang sông([211]).

*Trưởng lão Desapūjaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là một gia chủ, nhìn thấy Đức Phât di hành trên hư không, Ngài chấp tay hướng theo đảnh lễ.

Trong một tiền kiếp Ngài làm vua với vương hiệu là Gosujāta([212]).

*Trưởng lão Dhammapāla.

Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn của xứ Avanti.

Sau khi Đức Thế Tôn viên tịch, Ngài theo học tại Takkasilā, khi thành tài Ngài trở về quê hươnng; trên đường về Ngài trông thấy một Trưởng lão ngồi thiền tịnh trong một thảo am.

Thanh niên Dhammapāla đến đảnh lễ và được Trưởng lão giảng pháp, Ngài khởi niềm tin xin xuất gia. Nhờ tinh cần hành pháp, chẳng bao lâu Ngài chứng được sáu thắng trí.

Trong khi suy tư hân hoan trong thánh quả giải thoát, có hai Sadi leo lên cây hái trái, nhánh cây gẫy ngã xuống, Ngài đưa tay hứng lấy hai Sadi bằng năng lực thần thông, đặt hai Sadi xuống đất, Ngài nói lên kệ ngôn.

203- Yo have daharo bhikkhu; yuñjati buddhasāsane.

Jāgaro sa hi suttesu; amoghaṃ tassa jīvitaṃ.

“Người nào là Tỳkhưu trẻ; chú tâm lời Phật dạy.

Tỉnh thức giữa người ngủ; vị ấy sống không trống rỗng”.

204- Tasmā saddhañca sīlañca; pasādaṃ dhammadassanaṃ.

Anuyuñjetha medhāvī; saraṃ buddhāna sāsana’’nti.

“Do vậy, với tín và giới; thấy pháp trong sạch.

Bậc hiền trí thực hành; theo lời dạy Đức Phật”([213]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Atthadassī, tiền thân Ngài có cúng dường đến Đức Phật một trái pilakkha (một loại trái giống trái sung).

Ngài có thể là Trưởng lão Pilakkhaphaladāyaka nói trong tập Apadāna([214]).

Theo Bản Sớ giải Theragāthā, kệ ngôn trong tập Apadāna được gán cho hai vị Trưởng lão là Dhammapāla và Passika([215]).

*Trưởng lão Vatthadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là Garuḷa (giống như Nhân điểu), có cúng dường đến Đức Phật bộ y khi thấy Ngài trên đường đi đến núi Gandhamādana.

Vào 36 kiếp trước, tiền thân Ngài là vị vua với vương hiệu Aruṇaka([216]).

* Trưởng lão Sucintita.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Atthadassī tiền thân Ngài là sợ săn, có cúng dường đến Đức Phật bửa cơm thịt rừng.

Vào 160 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua hai lần với vươnghiệu Varuṇa.

Vào 38 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua 8 lần với vương hiệu Dīghāyuka([217]).

*Trưởng lão Sumaṅgala.

Ngài sinh ra trong một gia đình nghèo nơi làng nhỏ của thành Sāvatthi, lớn lên làm nghề nông tự nuôi sống bằng những dụng cụ nghề nông như liềm, cuốc …

Một hôm thấy vua Pasenadi cúng dường vật thực thượng vị đến các vị Tỳkhưu, Ngài suy nghĩ: “Ta là việc cực nhọc cả ngày vẫn khộng đủ ăn, các vị Samôn này sống thật an nhàn. Vậy ta hãy xuất gia sống đời sống Samôn như các vị ấy”.

Ngài xin được xuất gia trong Tăng đoàn với một vị Trưởng lão, rồi xin thầy tế độ một đề tài thiền quán, Ngài đi vào rừng ẩn cư để thiền tịnh.

Sống hạnh độc cư, Ngài trở nên buồn nản, Ngài quyết định trở về làng cũ, trên đường về, nhìn thấy nông dân làm lụng lam lũ dưới nắng nóng, áo quần bê bết cát bụi, Ngài dạy tâm rằng: “Này  Sumaṅgala, ngươi muốn trở về với đời sống cơ cực như thế này sao? Vì sao ngươi không tinh cần để không còn phải rơi lại trạng thái khổ như thế này nữa chứ?”.

Dạy tâm xong, Ngài trở vô rừng, tinh tấn tu tập, chứng  đạt Thánh quả Alahán Alahán.

Trong kệ ngôn Trưởng lão Tăng có ghi nhận lời kệ của Ngài là.

43- Sumuttiko sumuttiko sāhu, sumuttikomhi tīhi khujjakehi;

Asitāsu mayā naṅgalāsu, mayā khuddakuddālāsu mayā.

Yadipi idhameva idhameva, atha vāpi alameva alameva;

Jhāya sumaṅgala jhāya sumaṅgala, appamatto vihara sumaṅgalā’’ti.

“Khéo thoát, ôi! Khéo thoát; thật sự ta khéo thoát.

Thoát ba sự cong quẹo; Ta thoát cong với liềm.

Ta thoát cột với cày; Ta thoát cực với cuốc.

Nếu có đây, có đây; thật đủ chán, đủ chán.

Hỡi Smaṅgala; hỡi Sumaṅgala.

Hãy thiền, hãy thiền định; hỡi Sumaṅgala.

Hãy sống không phóng dật (HṬTMC dịch) ([218]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Atthadassī([219]), tiền thân Ngài là môt gia chủ, có lần nhìn thấy Đức Phật sau khi tắm, Ngài đấp một y để phơi khô thân mình, hoan hỷ với thân Phật xinh đẹp, gia chủ chấp tay đảnh lể Đức Thế Tôn.

Vào 116 kiếp trước, tiền thân của Ngài đã hai lần làm vua với vương hiệu Ekacintita([220]).

Dứt lịch sử Đức Phật Atthadassī.

 

15- Đức Phật Dhammadassī.

Sau khi Đức Phật Atthadassī viên tịch, tuổi thọ nhân loại giảm dần xuống còn 10 năm, lại tăng dần đến atăng kỳ năm, rồi lại giảm xuống.

Đến khi tuổi thọ nhân loại là 100 ngàn năm, bấy giờ Đức Phật Dhammadassī xuất hiện trên thế gian.

Từ cung trời Tusita (Đẩu suất), Bồtát giáng sinh vào lòng của bà Hoàng Sunandā, cha của Bồtát là Đức vua Saraṇa, đang trị vì nơi kinh thành Saraṇa.

Từ khi Bồtát sinh vào thai bào, những luật trong quốc độ được xem xét và tu chỉnh lại, khi Bồtát vừa sinh ra nơi vườn hoa Saraṇa, những điều phi pháp trong quốc độ tự biến mất tất cả, chỉ còn lại những điều đúng pháp; xem như Đức vua Saraṇa cai trị quốc độ theo pháp.

Do sự kiện này, Bồtát được đặt tên là Dhammadassī.

Bồtát Dhammadassī  sống tại gia 8 ngàn năm trong ba tòa cung điện: Cung điện Araja, cung điện Viraja và cung điện Sudassana, có hơn 100 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là công nương Vicikolī.

Vào ngày nàng Vicikolī sinh ra Thái tử Puññavaḍḍhana, Bồtát thấy được điều thứ tư là “vị Samôn”.

Nơi tòa cung điện, vào lúc nửa đêm Bồtát thức giấc ngồi trên chiếc Vương sàng, Ngài nhìn thấy các mỹ nữ nằm ngủ để lộ ra những cảnh bất mỷ, tựa như những xác chết được quăng vào bãi tha ma, Bồtát có tâm nhàm chán thế gian, khởi lên ý nghĩ: “Ta hãy từ bỏ tất cả những ô trược này, ra đi xuất gia”.

Ý nghĩ ra đi xuất gia khởi lên, lập tức tòa cung điện Sudassana bốc lên di chuyển trong hư không như mặt trời thứ hai xuất hiện, theo sau là bốn đạo binh chủng bảo vệ cung điện, tựa như những thiên thần theo sau bảo vệ tòa thiên cung của vị Thiên chủ.

Khi đến gần vùng trung tâm, tòa cung điện hạ xuống cách cây Kuravaka([221]) không xa.

Bồtát ra khỏi cung điện, Ngài cắt tóc xuất gia, mặc vào người bộ y phục samôn do vị Phạm thiên cúng dường, tòa cung điện lại bốc lên hư không rồi hạ xuống cách cây Kuravaka nửa gāvuta (2km), những nữ nhân trong cung điện bước ra khỏi cung điện, bốn đạo binh chủng cũng hạ thân xuống, những nam nhân thấy Bồtát xuất gia, họ cũng xuất gia theo Ngài là 100 ngàn triệu vị (100 tỷ) vị.

Bồtát Dhammadassī thực hành khổ hạnh 7 ngày, vào ngày trăng tròn tháng Vesakha, Ngài thọ dụng bát cơm sữa do công nương Vicikolī dâng cúng, Bồtát trải qua một ngày nơi khu rừng Badara (cây Mận).

Vào buổi chiều Ngài đi đến cây Kuravaka, trên đường đi Ngài nhận 8 bó cỏ do người giữ ruộng lúa tên Sirivaḍḍha cúng dường.

Ngài trải 8 bó cỏ nơi cội cây Kuravaka, một Bảo tọa chiến thắng hiện khởi cho Ngài, trên Bảo tọa Bồtát ngồi tréo chân và chiến thắng 5 loại ma vương, khi mặt trời vừa lên Ngài chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Dhammadassī.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn Dhammadassī chuyển Pháp luân nơi vườn Isipatana, mang Thánh quả đến cho 100 ngàn 10 triệu (1.000 tỷ) vị.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có kinh văn sau.

2-Tassāpi atulatejassa; dhammacakkappavattane.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Vị có uy  lực vô song; vận chuyển bánh xe Pháp.

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội đầu tiên của Ngài”([222]).

Thắng hội II.

Đức vua Sañjaya trị vì nơi kinh thành Tagara, vua Sañjaya nhận thấy mối nguy hiểm trong dục lạc, nên đi xuất gia cùng với 90  mười triệu (900 triệu) tùy tùng. Tất cả đều đạt được 8 thiền chứng cùng 5 thắng trí.

Vào một buổi sáng, Bậc Đạo sư Dhammadassī đưa Phật Nhãn quán xét thế gian, thấy được duyên lành của 900 triệu vị ẩn sĩ này.

Ngài theo đường hư không đến nơi ẩn cư của các ẩn sĩ, nơi đây Đức Phật Dhammadassī giảng pháp thoại thích ứng, dứt pháp thoại tất cả đều chứng Thánh quả Dự Lưu.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

3- Yadā buddho dhammadassī; vinesi sañjayaṃ isiṃ.

Tadā navutikoṭīnaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

 “Lần khác Đức Phật Dhammadassī; hướng dẫn ẩn sĩ Sañjaya.

Có 90 mười triệu; là Thắng hội lần thứ hai”(sđḍ3).

Thắng hội III.

Lần khác, khi vua Trời Sakka muốn nghe pháp từ Đức Thế Tôn.

Vua trời cùng với 800 triệu thiên chúng tùy tùng, đến yết kiến Đức Thế Tôn Dhammasassī.

Nghe xong thời pháp thoại, tất cả đều chứng đạt Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Yadā sakko upāgañchi; sapariso vināyakaṃ.

Tadā asītikoṭīnaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Lần khác, vua trời Sakka; với tùy chúng đến viếng Bậc Lãnh Đạo.

Lần này có 80 mười triệu vị; là Thắng hội lần ba” (sđd.4).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Dhammadassī.

Tăng hội I.

Nơi kinh thành Saraṇa, Đức Thế Tôn Dhammadassī tế độ hai người em khác mẹ với Ngài cùng các tùy chúng hai vị ấy.

Tất cả là 1o tỷ vị đều chứng Thánh quả và xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”, rồi Đức Thế Tôn an cư mùa mưa nơi ấy.

Vào ngày lễ Tự tứ (pavāraṇā), Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát giữa đại chúng Tỳkhưu ấy.

Đây là Tăng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Yadā buddho dhammadassī; saraṇe vassaṃ upāgami.

Tadā koṭisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Lúc, Đức Phật Dhammadassī; an cư mùa mưa gần Saraṇa.

Khi ấy có một ngàn 10 triệu vị; đây là lần tụ hội đầu tiên”(sđd.6).

Tăng hội II.

Sau khi an cư mùa mưa ở cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi ba) thuyết lên Tạng Thắng pháp tế độ chư thiên và Phạm thiên.

Đức Thế  Tôn Dhammadassī trở về nhân giới, nhân loại tề tựu đến cung nghinh Đức Thế Tôn từ thiên giới trở về.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại , có một tỷ người chứng Thánh quả Alahán và được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave…”.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Punāparaṃ yadā buddho; devato eti mānusaṃ.

Tadāpi satakoṭīnaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Một lần khác, Đức Phật; từ thiên giới trở về cõi người.

Khi ấy có 100 mười triệu; là lần tụ hội thứ hai” (sđd.7).

Tăng hội III.

Nơi Đại tự Sudassana, Đức Thế Tôn thuyết pháp thoại liên hệ đến ân đức của sự thực hành pháp Dhutṅga (Đầuđà). Pháp thoại mang đến Thánh quả Alahán cho  800 triệu người chứng Thánh quả Alahán và tất cả được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Punāparaṃ yadā buddho; pakāsesi dhute guṇe;

Tadā asītikoṭīnaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

“Lại lần khác, Đức Phật; giảng ân đức pháp Đầuđà.

Có  80 mười triệu vị, là lần tụ hội thứ ba” (sđd.8).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là vị Thiên chủ Sakka.

Có lần thiên chủ Sakka cùng thiên chúng tùy tùng ở hai cõi: Cõi Tứ đại vương và cõi Ba mươi ba đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng thien chúng cúng dường thiên hương, thiên hoa … các thiên thần nhạc sĩ tấu lên những khúc nhạc trời cúng dường đế Đức Phật và Tăng chúng.

Giữa đại chúng Đức Thế Tôn Dhammadassī tiên tri rằng: “ Sau 1800 kiếp trái đất, vị Thiên vương Sakka này sẽ là vị Chánh giác tương lai có tôc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Dhammadassī.

Đức Phật Dhammadassī cao 80 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng khắp 10 ngàn thế giới.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Dhamamdassī là Trưởng lão Paduma và Trưởng lão Phussadeva. Thị giả là Trưởng lão Sunetta.

– Trưởng lão Hārita là vị Đệ nhất hạnh Đầuđà của Đức Phật Dhammadassī.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Dhammadassī là Trưởng lão ni Khemā và Trưởng lão ni Sabbadinnā (Saccadinnā).

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Dhammadassī là Trưởng giả Subhadda và Trưởng giả Kaṭisaha.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Dhammadassī là bà Sāliyā và bà Valiyā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Atthadassī là 100 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi Tự viện Kesā (Kesārāma) trong thành phố Sālavatī. Bảo tháp tôn thờ Xálợi của Ngài cao 3 dotuần.

Phụ lục.

*Trưởng lão Paripuṇṇaka.

Trong thời Đức Phật Gotama, Ngài sinh ra trong một gia tộc quyền quí nơi thành Kapilavatthu (Catỳlavệ).

Vì mọi môn học vấn đều thông thạo cùng với gia sản của Ngài sung mãn, nên Ngài được gọi là Paripuṇṇaka (Viên mãn), Ngài sống trong sự xa hoa, hưởng thụ hằng trăm món vật dục.

Khi nghe Đức Thế Tôn đi khất thực để sống, Ngài suy nghĩ: “Thái tử Siddhattha (SĩĐạtTa) trước đây sống trong nhung lụa, hưởng thụ những vật dục hơn hẳn ta, nhưng Ngài đã từ bỏ lối sống hưởng thụ, thực hành pháp và nhờ đó trở thành vị cứu tinh cho nhân thiên, có ích lợi gì cho ta với đời sống tại gia này, Ta hãy xuất gia sống đời sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn”.

Ngài Paripuṇṇaka xuất gia trong Tăng đoàn, nỗ lực hành pháp và trở thành vị Thánh Alahán.

Hân hoan nói lên Thánh quả Alahán đã chứng đạt của mình, Ngài nói lên kệ ngôn.

91- Na tathā mataṃ satarasaṃ, sudhannaṃ yaṃ mayajja paribhuttaṃ;

Aparimitadassinā gotamena, buddhena desito dhammo’’ti.

“Dầu có hưởng món ăn; như cam lồ trăm vị.

Nhưng không thể sánh bằng; món ta ăn hôm nay.

Đây là pháp vi diệu; được Phật Gotama.

Bậc tri kiến vô lượng; đã thuyết giảng cho ta. (HT TMC dịch)([223]).

Tiền sự.

Vào thời  ĐứcPhật Dhammadassī, tiền thân Ngài là một gia chủ từng cúng dường nhiều lễ vật lên Bảo tháp thờ Xálợi Đức Thế Tôn.

Vào 94 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua 16 lần dưới vương hiệu Thūpasikhara([224]).

Ngài có thể là Trưởng lão Ṭhambhāropaka nói trong tập Apadāna([225]).

Dứt lịch sử Đức Phật Dhammadassī.

 

Sau khi Đức Thế Tôn Dhammadassī viên tịch, trải qua 1.706 kiếp trái đất không có vị Chánh giác nào xuất hiện trên thế gian.

Cách hiền kiếp này trở về trước 94 kiếp trái đất, trong kiếp trái đất ấy chỉ xuất hiện một vị Chánh giác (gọi là sārakappa), đó là Đức Phật Siddhattha.

 

16- Đức Phật Siddhattha.

Khi tuổi thọ nhân loại từ atăng kỳ năm giảm xuống còn 100 ngàn năm.

Theo thông lệ, Bồtát Chánh giác từ cung trời Tusita, nhận lời thỉnh cầu của chư Thiên, Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới, Ngài nhập vào thai bào của bà Hoàng Subhassā, cha Bồtát là Đức vua Udena trị vì kinh thành Vebhāra.

Bồtát đản sinh nơi vườn hoa Viriya, khi Bồtát ra khỏi thai bào, tất cả ước muốn mọi người dù lớn hay nhỏ đều thành tựu, tất cả mọi công trình đang xây dựng dù lớn hay nhỏ đều hoàn tất, nên Ngài được gọi là Siddhattha.

Bồtát Siddhattha sống tại gia là 10 ngàn năm, trong ba cung điện: Cung điện Kola, cung điện Suppala và cung điện Paduma([226]), có 48 ngàn cung nữ xinh đẹp hầu hạ, vợ Ngài là công nương Somanassā([227]).

Vào ngày trăng tròn tháng Āsalha (tháng 6 âl, theo lịch VN), nàng Somanassā sinh ra Thái tử Anupama, Bồtát Siddhattha cũng chứng kiến đầy đủ bốn điềm tướng, Bồtát quyết định xuất gia.

Ngài ngự trên chiếc kiệu bằng vàng, đến vườn Ngự Uyển Viriya và xuất gia nơi đấy, có đến 1.000 tỷ người xuất gia theo hầu Bồtát.

Bồtát thực hành khổ hạnh 1o tháng, vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Bồtát thọ dụng bát cơm sữa do nữ Bàlamôn Sumettā con gái của Bàlamôn trưởng giả làngAsadisa cúng dường.

Bồtát nghĩ trưa nơi khu rừng Badara, vào buổi chiều Ngài đi đến cây cổ thụ Kaṇikāra, trên đường đi Ngài nhận 8 bó cỏ do người giữ ruộng tên Varuṇa cúng dường.

Nơi gốc cây Karaṇika, Bồtát trải tám bó cỏ và Bảo tọa chiến thắng hiện khởi cho Ngài.

Trên Bảo tọa Bồtát Siddhattha chiến thắng toàn bộ năm loại ma, khi mặt trời vừa ló dạng, Ngài chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Siddhattha.

Thắng hội I.

Đức Phật Siddhattha Chuyển pháp luân nơi vườn Nai, cách cây Đại giác  Karaṇika 18 dotuần tế độ một tỷ vị Samôn xuất gia theo hầu Ngài.

Pháp thoại này mang đến Thánh quả cho 1.000 tỷ nhân thiên.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

3- Tassāpi atulatejassa; ahesuṃ abhisamayā tayo.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Vị có uy lực vô song; có ba lần thắng hội.

Có 100 ngàn 10 triệu; là Thắng hội đầu tiên”([228]).

Thắng hội II.

 Nơi kinh thành Bhīmarattha trị vì bởi vua Bhīmarattha, Đức vua Bhīmaratta được tin Đức Thế Tôn Siddhattha xuất hiện trên thế gian, cử các đại thần đến thỉnh Đức Thế Tôn ngự đến kinh thành Bhīmarattha.

Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu du hành đến thành Bhīmarattha.

Đức vua ra tận cổng thành đón tiếp Đức Thế Tôn, thỉnh Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu ngự vào Khánh đường rộng lớn đã được kiến tạo trước ở giữa kinh thành, cư dân kinh thành tụ hội đông đảo để cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng.

Đức vua cúng dường đến Đức Thế Tôn Siddhattha cùng Tăng chúng trọng thể.

Sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn phúc chúc bằng thời pháp thoại. Ngài đã gióng lên tiếng trống pháp với âm giọng du dương như tiếng chim Calăngtầngià, đầy đủ tám âm điệu như tiếng nói của vị Phạm thiên.

Dứt pháp thoại có 900 triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Punāparaṃ bhīmarathe; yadā āhani dundubhiṃ.

Tadā navutikoṭīnaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Lần khác nơi thành Bhīmaratta; Ngài gióng lên tiếng trống.

Khi ấy có 90 mười triệu vị; là Thắng hội thứ hai” (sđd.4).

Thắng hội III.

Lần trở về kinh thành Vebhāra để viếng vua Udena cùng thân tộc, Đức Thế Tôn giảng về lịch sử chư Phật.

Pháp thọai mang đến Thánh quả cho 900 triệu nhân thiên.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Yadā buddho dhammaṃ desesi; vebhāre so puruttame.

Tadā navutikoṭīnaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Khi Đức Phật, bậc Tối thượng giảng pháp, nơi thành Vebhāra.

Có 90 mười triệu vị; là Thắng hội thứ ba”(sđd.5).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Siddhattha.

Tăng hội I.

Lần tụ hội thứ I xảy ra nơi kinh thành Amara.

Nơi kinh thành Amara có hai vị vua là anh em đang cùng trị vì vương quốc, đó là vua Sambahula([229])và vua Sumitta.

Vào buổi sáng, với Phật trí, Đức Thế Tôn quán xét thế gian, Ngài thấy được duyên lành hai vị vua cùng hội chúng của hai vị ấy.

Đức Thế Tôn theo đường hư không ngự đến kinh thành Amara, hạ thân ở giữa kinh thành rồi Đức Thế Tôn Siddhattha lưu lại dấu chân nơi ấy.

Sau đó Đức Thế Tôn đi vào vườn Ngự Uyển Amara, Ngài ngồi trên tảng đá bằng phẳng ở  giữa kh vườn, tảng đá trở nên mát lạnh do ảnh hưởng từ tâm của Đức Phật.

Hai vị vua nhìn thấy dấu chân của Đấng Đại sĩ, liền theo dấu vết bậc Đại nhân, đến vườn Ngự Uyển.

Nhìn thấy Đức Thế Tôn đang ngồi trên tảng đá bằng phẳng, trong tâm hai vị vua khởi lên ý nghĩ: “Đây là bậc Đạo sư của chúng ta”.

Hai vị vua đến đảng lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên hợp lẽ.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích ứng, dứt pháp thoại hai vị vua cùng 1.000 triệu tùy tùng chứng Thánh quả Alahán. Tất cả đều được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”. Đây là Tăng hội I của Ngài.

 Tăng hội II.

Một lần khác, giữa các vị Tỳkhưu Alahán được xuất gia theo cách : Ehi bhikkhu…” có số lượng là 900 triệu vị, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát đến đại chúng Tăng ấy. Đây là Tăng hội II của Ngài.

Tăng hội III.

Một lần khác, nơi Đại tự Sudassana có cuộc tụ hội của 800 triệu vị Tỳkhưu Alahán được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave…”, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát đến Hội chúng Tăng ấy.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Sannipātā tayo āsuṃ; tasmimpi dvipaduttame.

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ; santacittāna tādinaṃ.

“Ngài có ba lần tụ hội; vị không có bậc thứ hai hơn Ngài.

Những vị trong sạch, không còn ô nhiễm; có tâm an tịnh kiên định”.

7- Koṭisatānaṃ navutīnaṃ; asītiyāpi ca koṭinaṃ.

Ete āsuṃ tayo ṭhānā; vimalānaṃ samāgame.

“Có 100 mười triệu, 90 ; và 80 mười triệu như vậy.

Là ba lần tụ hội như thế; sự tụ hội trong sạch” (sđd.6-7).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là thanh niên Bàlamôn Maṅgala, cư ngụ nơi thành Surasena.

Thanh niên Bàlamôn Maṅgala tinh thông ba Tạng Veda (Vệđà) cùng những nghệ thuật Bàlamôn luôn cả kinh điển Vedanga.

Nhận thấy không có cốt lỏi trong giáo thuyết Bàlamôn, thanh niên Maṅgala đã bố thí hết gia sản có giá trị là hằng trăm mười triệu tiền vàng, xuất gia làm ẩn sĩ tu tập nơi vùng núi Tuyết, đạt 8 thiền chứng cùng 5 thắng trí.

Được tin Đức Thế Tôn Siddhattha xuất hiện trên thế gian, ẩn sĩ Maṅgala đến yết kiến Đức Thế Tôn.

Sau khi đảnh lễ Đấng Tối Thượng trong tam giới, ẩn sĩ  Maṅgala ngồi vào nơi hợp lẽ, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích ứng với khuynh hướng Chánh giác của ẩn sĩ.

Hoan hỷ với thời pháp thoại của Đức Phật Siddhatta, ẩn sĩ Maṅgala dùng năng lực thần thông đi đến những vùn đất hiểm trở tìm những trái cây quý hiếm và đầy hương vị, mang đến Đại tự Surasena cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng 900 triệu vị Thánh Tăng Alahán.

Giữa đại chúng, Đức Thế Tôn Siddhattha tiên tri rằng: “Sau 94 đại kiếp kể từ kiếp này, ẩn sĩ này sẽ trở thành Đấng Chánh giác có tộc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Siddhattha

Đức Phật Siddhattha cao 80 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng khắp 10 ngàn thế giới.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Siddhattha là Trưởng lão Sambahula và Trưởng lão Sumitta. Thị giả là Trưởng lão Revata.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Siddhattha là Trưởng lão ni Silavā và Trưởng lão ni Surāmā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Siddhattha là Trưởng giả Suppiya và Trưởng giả Samudda.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Siddhattha là bà Rammā và bà Surammā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Atthadassī là 100 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi vườn hoa Anoma gần thành Anoma.

Bảo tháp tôn thờ Xálợi của Ngài cao 4 dotuần.

Phụ lục.

*Trưởng lão Buddhasaññaka.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào 94 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài là một gia chủ, nhìn thấy Đức Phật Siddhattha, khởi tâm hoan hỷ tịnh tín, đảnh lễ Đức Phật([230]).

*Trưởng lão Vītasoka.

Ngài là em vua Dhammāsoka (ADục), là vị Tử hoàng trong hoàng tộc Moriya (Khổng Tước).

Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài trở thành đệ tử cư si của Trưởng lão Giridattta, thông thạo ba Tạng Kinh điển.

Một hôm khi cắt tóc, Ngài soi gương thấy được vài sợi tóc bạc, tâm tư bị xúc động mạnh, Ngài triển khai pháp quán, cố gắng thiền tịnh, ngay tại chỗ ngồi Ngài chứng Thánh quả Dự lưu.

Rồi Ngài xin được xuất gia với Trưởng lão Giridatta, không bao lâu Ngài chứng Thánh quả Alahán và tuyên bố Thánh trí của mình qua hai kệ ngôn (hai kệ ngôn này được đưa vào trong  lần kết tập Phật ngôn III).

169- Kese me olikhissanti; kappako upasaṅkami.

Tato ādāsamādāya; sarīraṃ paccavekkhisaṃ.

“Hãy cạo tóc cho ta; người cạo tóc đã đến.

Ta cầm lấy cái gương; quán sát thân thể (ta).

170- Tuccho kāyo adissittha, andhakāro tamo byagā;

Sabbe coḷā samucchinnā, natthi dāni punabbhavo’’ti.

“Thân được thấy trống rỗng; chìm tối trong đêm đen.

Mọi vải quấn chặt đứt; nay không còn tái sinh. (HT. TMC dịch)([231]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài là một ẩn sĩ, nghe Đức Phật xuất hiện trên thế gian, ẩn sĩ lìa bỏ am thất đến yết kiến Đức Thế Tôn.

Nhưng ẩn sĩ còn cách Đức Phật 150 dotuần, lâm trọng bịnh rồi mệnh chung với tâm tịnh tín nơi Đức Phật.

Ngài có thể là Trưởng lão Buddhasaññaka được nói đến trong tập Apadāna([232]).

*Trưởng lão Bodhighariya.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phât Gotama.

Vào thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài có xây dựng một sảnh đường gần cây Đại giác của Đức Phật để cúng dường đến Tăng chúng.

Vào 65 đại kiếp trước, hậu thân gia chủ làm vua cai trị kinh thành Kāsila dài 10 dotuần, rộng 8 dotuần do Thiên tử Vissakamma xây dựng, cung điện Đức vua có tên là Maṅgala([233]).

*Trưởng lão Sudhāpiṇḍiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào 94 kiếp trái đất trước, trong thời Giáo pháp của Đức Phật Siddhattha, tiền thân của Ngài là một gia chủ có cúng dường hồ để xây dựng Bảo tháp thờ Xálợi Phật Siddhattha.

Vào 30 kiếp trái đất trước, hậu thân gia chủ này là vị Đại đế có vương hiệu là Paṭisaṅkhāra([234]).

*Trưởng lão Hatthidāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào 94 kiếp trái đất trước trong thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài là một gia chủ, có cúng dường đến Đức Thế Tôn Siddhattha con voi.

Bảy mươi kiếp trái đất trước, hậu thân gia chủ này làm vua 16 lần với vương hiệu Samantapāsādikā([235]).

*Trưởng lão Ākāsukkhipiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào 94 kiếp trái đất trước trong thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài là một gia chủ, có cúng dường đến Đức Thế Tôn Siddhattha bông sen và tung lên không trung  một bông khác để cúng dường.

Vào 30 kiếp trái đất trước, hậu thân gia chủ này làm vua với vương hiệu Antatikkhacara([236]).

*Trưởng lão Ukkhepakaṭa Vaccha.

Trong thời Đức Phật còn tại thế, Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn Vaccha trong thành Sāvatthi (Xávệ).

Nghe được pháp thoại của Đức Thế Tôn, Ngài phát khởi tâm tịnh tín xuất gia trong Tăng đoàn và trú ở một làng trong xứ Kosala.

Ngài học pháp với nhiều vị Tỳkhưu, nhưng đến khi học pháp nơi Ngài Sāriputta (XáLợiPhất), Ngài mới phân biệt được: Luật – Kinh và Thắng pháp.

Ngài nỗ lực học thuộc cả ba Tạng (trước khi Kết tập Phật ngôn I)([237]), rồi thực hành pháp chứng Thánh quả Alahán([238]).

Về sau Ngài trở thành vị Giáo thọ sư danh tiếng.

Theo Ngài Dhammapāla, Ngài có danh hiệu là Ukkhepakaṭa vì Ngài có thể đọc vanh vách cả ba Tạng([239]).

Một hôm Ngài ngồi nói với Ngài như nói với người khác qua kệ ngôn.

65- Ukkhepakatavacchassa, saṅkalitaṃ bahūhi vassehi;

Taṃ bhāsati gahaṭṭhānaṃ, sunisinno uḷārapāmojjo’’ti.

“Vaccha đã quăng bỏ([240]) xong, những chất chứa([241]) nhiều năm.

Vị ấy nói như vậy với các gia chủ;

Với tâm rộng lớn, vị ấy ngồi nơi trang trọng”([242]).

Tiền sự.

Trong thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài Vaccha là một gia chủ có cúng dường đến Giảng pháp đường của Đức Phật một cây cột trụ.

Vào 65 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài là vị Đại đế có vương hiệu là Udena, cung điện bảy tầng của Đức vua được xây trên một cột trụ cao.

Ngài có thể là Trưởng lão Ekatthambhika nói trong tập Apadāna (Ký sự)([243]).

*Trưởng lão Uttara.

Ngài là con một gia tộc Bàlamôn nơi thành Sāketa, được đặt tên là Uttara.

Trong một chuyến đi buôn nơi thành Sāvatthi, Ngài chứng kiến uy lực Song thông của Đức Thế Tôn nơi cây xoài Ganda (Gandaamba), tâm Ngài vô cùng ngưỡng mộ Đức Thế Tôn.

Rồi khi nghe được Đức Thế Tôn thuyết kinh Kālakārāma([244]) ở Sāketa, Ngài xin xuất gia trong Tăng đoàn rồi theo Đức Phật đi đến thành Rājagaha (Vương xá). Nơi đây, Ngài tinh cần phát triển tuệ quán chứng đạt sáu Thắng trí.

Khi trở về kinh thành Sāvatthi (Xávệ) để hầu hạ Đức Thế Tôn, các vị Tỳkhưu hỏi Ngài:

-Thưa hiền giả Uttara, hiền giả đã thành tựu những gì trong sự nghiệp giải thoát?

Ngài tuyên bố Thánh trí của mình với hai kệ ngôn.

161- Khandhā mayā pariññātā; taṇhā me susamūhatā.

Bhāvitā mama bojjhaṅgā; patto me āsavakkhayo.

“Khéo hiểu rõ các nhóm;  ta khéo nhổ sạch ái luyến.

Khéo tu tập giác chi; Ta chứng đạt vô nhiễm”.

162- Sohaṃ khandhe pariññāya; abbahitvāna jāliniṃ.

Bhāvayitvāna bojjhaṅge; nibbāyissaṃ anāsavo’’ti.

“Vị thấu triệt các nhóm; thoát ra khỏi lưới rập.

Đã thành tựu giác chi; không ô nhiễm viên tịch”([245]).

  Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài là một gia chủ có niềm tin trong sạch đặt nơi Đức Thế Tôn.

Khi Đức Phật viên tịch, gia chủ cho hội tất cả gia đình đi đến đảnh lễ Xálợi Đức Phật và cúng dường cây phướn.

Ngài chính là Trưởng lão Dhātupūjaka nói trong tập Apadāna (Ký sự)([246]).

Có thể Ngài là Trưởng lão Uttara được nói trong kinh Uttarasutta([247]).

*Trưởng lão Uttiya (hay Uttika).

Ngài là con một gia tộc Bàlamôn ở kinh thành Sāvatthi (Xávệ), khi đến tuổi trưởng thành Ngài xuất gia tầm cầu pháp bất tử, trở thành một du sĩ,

Một lần trong khi bộ hành, du sĩ nhìn thấy Đức Thế Tôn, liền đi đến chào hỏi và vấn pháp.

Nghe Đức Thế Tôn giảng pháp, Ngài hoan hỷ xin xuất gia trong Tăng đoàn.

Do giới hạnh của Ngài không thanh tịnh nên Ngài không chứng đạt Thánh quả, thấy các vị Tỳkhưu tuyên bố lên Thánh trí của mình.

Ngài đến thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết vắn tắt để Ngài nương theo đó thực hành. Đức Thế Tôn dạy:

– Này Tỳkhưu, ngươi phải thực hành thanh tịnh về học giới được Đấng Như Lai thuyết giảng.

Rồi Đức Thế Tôn thuyết vắn tắt về hạnh Samôn.

Nương theo lời dạy này, Ngài nỗ lực thực hành pháp, trong lúc cố  gắng hành pháp Ngài lâm trọng bịnh, nhưng Ngài không thối giảm tinh tấn và vượt qua được chướng ngại, chứng Thánh quả Alahán.

Ngài nói lên Thánh trí của mình qua kệ ngôn.

30- Ābādhe me samuppanne; sati me udapajjatha.

Ābādho me samuppanno; kālo me nappamajjitu’’nti.

“Trong khi ta lâm bịnh; niệm khởi lên nơi ta.

Trong khi ta lâm bịnh; không phải thời phóng dật”.(HT. TMC dịch)([248]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Siddhattha, tiền thân Ngài là một con sấu sống trong sông Candabhāgā, từng dùng lưng đưa Đức Phật qua sông.

Hậu thân con sấu làm Thiên vương 7 lần và làm vua dưới thế 3 lần([249]).

Ngài  chính là Trưởng lão Uttiya được đề cập trong Tăng Chi Bộ Kinh([250]), theo đó Đức Phật có giải thích cho Ngài biết rằng “năm dục trưởng dưỡng” phải được đoạn tận bằng cách tu tập Thánh đạo Tám Ngành.

Trong một bài kinh khác của Aṅguttara nikāya (Tăng Chi Bộ )([251]), Ngàicó bạch xin Phật thuyết pháp vắn tắt để ông sẽ sống một mình an tịnh, Đức Phật dạy Ngài làm cho thanh tịnh các pháp căn bản trong các thiện pháp.

Có thể Ngài cũng chính là du sĩ Uttiya, vị từng bạch hỏi Đức Phật về sự tồn tại của thế gian … và được Ngài Ānanda giúp để hiểu rõ tầm quan trọng của các câu mà Đức Phật trả lời.

Dứt lịch sử Đức Phật Siddhattha.

 

Sau khi Đức Phật Siddhattha viên tịch là kiếp trống (suññakappa). Cách hiền kiếp này trở về trướcc 92 kiếp trái đất, trong kiếp trái đất này có hai vị Chánh giác xuất hiện (maṇḍakappa) là: Đức Phật Tissa và Đức Phật Phussa.

 

17- Đức Phật Tissa.

Khi nhân loại có tuổi thọ là 100 ngàn năm, Bồtát khi viên mãn 30 pháp Balamật, Ngài tái sinh về cõi Tusita (Đẩu suất).

Theo lời thỉnh nguyện của các chư Thiên, Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới, Bồtát tái sinh về nhân giới, là con của bà Hoàng Padumā (bà có tên gọi này vì mắt bà giống như đóa hoa sen), cha Ngài là Đức vua Saccasandha([252]), trị vì nơi kinh thành Khema.

Sau 1o tháng nằm trong thai bào, Bồtát đản sinh nơi vườn hoa Anomā, Ngài được gọi là Tissa.

*Sự đặt tên.

Có hai cách đặt tên: Anvattha và rulhi.

Anvattha. Là sự đặt tên dựa vào một sự kiện đặc biệt nào đó.

– Rulhi. Là sự đặt tên thông thường tùy ý, không dựa vào sự kiện đặc biệt chi cả.

Bồtát Tissa được đặt tên theo cách rSulhi.

Bồtát Tissa sống tại gia 7 ngàn năm trong ba tòa cung điện: Cung điện Guhā([253]), cung điện Selanārī([254]) và cung điện Nisabhā, có 33 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Bồtát là công nương Subhaddā.

Vào ngày nàng Subhaddāsinh ra Thái tử Ānanda, Bồtát Tissa thấy điềm tướng “vị Samôn”, Ngài quyết định ra đi xuất gia.

Bồtát cưỡi ngựa chúa Sonuttara lìa bỏ kinh thành ra đi xuất gia.theo gương Ngài có 10 triệu tùy tùng xuất gia làm Samôn theo hầu Ngài.

Bồtát Tissa khổ hạnh trong 8 tháng, vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Ngài thọ dụng bát cơm sữa do nàng Virā, con gái một trưởng giả ở làng Vīra cúng dường.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cây cổ thụ Asana, trên đường đi Bồtát nhận 8 bó cỏ do người giữ ruộng tên là Vijisaṅgāmaka dâng cúng.

Nơi cội cây Asana, Bồtát trải 8 bó cỏ, Bảo tọa chiến thắng hiện khởi cho Ngài. Trên Bảo tọa chiến thắng Ngài chứng Vô thượng Chánh giác khi mặt trời vừa ló dạng.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Tissa.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn Tissa khai mở Pháp giải thoát lần đầu tiên nơi vườn Ngự Uyển của rừng Nai (Migādāya), gần kinh thành Yasavatī.

Ngài dạy người giữ vườn Ngự Uyển báo tin cho hai Thái tử Brahmadeva và Udaya (hai vị Thượng thủ tương lai của Ngài).

Hai Thái tử nghe tin Đức Phật Tissa đang ngụ nơi vườn Ngự Uyển, liền cùng với đoàn tùy tùng đến đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn thuyết lên bài pháp Chuyển pháp luân thấu suốt cả 10 ngàn thế giới. Dứt pháp thoại có hằng trăm mười triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- So buddho dasasahassimhi; viññāpesi giraṃ suciṃ.

Koṭisatāni abhisamiṃsu; paṭhame dhammadesane.

“Trong 10 ngàn thế giới, Đức Phật; công bố pháp thanh tịnh.

Có hằng trăm 10 triệu vị; là lần đầu giảng pháp”([255]).

Thắng hội II.

Khi 10 triệu vị Samôn xuất gia theo Bồtát, hay tin Đức Thế Tôn khai mở pháp giải thoát nơi rừng Nai. những vị ấy đi đến kinh thành Yasavatī.

Những vị Samôn ấy sau khi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ngồi vào nơi hợp lẽ.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích ứng, dứt pháp thoại có 900 triệu nhân thiên dẫn đầu là 10 triệu vị Samôn chứng đạt Thánh quả giải thoát. Đây là Thắng hội II của Ngài.

Thắng hội III.

Khi nhân thiên tranh luận với nhau về những điều hạnh phúc (maṅgala), nhưng không tìm thấy câu giải đáp  thỏa đáng.

Cùng nhau đến hỏi pháp hạnh phúc nơi Đức Thế Tôn Tissa, Đức Thế Tôn thuyết lên kinh Hạnh phúc ( Maṅgalasutta).

Dứt thời pháp có 600 triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Dutiyo navutikoṭīnaṃ; tatiyo saṭṭhikoṭiyo.

Bandhanāto pamocesi; satte  naramarū tadā.

“Lần hai có 90 mười triệu; lần ba có 60 mười triệu.

Đã thoát khỏi trói buộc; người cùng chư thiên như thế”. (sđd.5).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Tissa.

Tăng hội I.

Tăng hội đầu tiên khởi lên nơi thành Yasavatī.

Đức Thế Tôn đi vào thời an cư mùa mưa với 100 ngàn vị Tỳkhưu được xuất gia bằng cách : “Etha bhikkhave …”, trong mùa an cư ấy, tất cả đều chứng Thánh quả Alahán.

Khi hành lễ Tự tứ (pavāraṇā). Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát đến Hội chúng Tăng ấy. Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Nơi kinh thành Nārivahana được trị vì bởi vua Sujāta.

Vua Sujāta cung thỉnh Đức Thế Tôn Tissa ngự  đến kinh thành Nārivahana.

Khi Đức Thế Tôn du hành đến kinh thành Nārivahana, Đức vua Sujāta cùng tùy tùng ra khỏi kinh thành đón tiếp Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng ngự đến Hoàng cung.

Đức vua cúng dường trọng thể đến Đức Phật và Tăng chúng. Sau đó, Đức vua Sujāta cúng dường vô song thí đến Đức Phật và Tăng chúng suốt 7 ngày, vào ngày thứ 7, sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn chúc phúc bằng pháp thoại thích ứng.

Dứt pháp thoại, Đức vua Sujāta truyền ngôi vua cho Thái tử Nārivahana, vua Sujāta cùng đoàn tùy tùng của mình xin được xuất gia, tất cả được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Tin vua Sujāta xuất gia trong giáo pháp của Đức Thế Tôn Tissa lan truền khắp nơi, đại chúng đến yết kiến Đức Thế Tôn. Sau khi nghe pháp tất cả xin được xuất gia và các vị ấy được xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Vào ngày trăng tròn, Đấng Thập lực ban lời Giáo giới giải thoát đến hội chúng Tăng có số lượng là 9 triệu vị.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Khīṇāsavasatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Navutisatasahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Có một trăm ngàn bậc vô nhiễm; là lần tụ hội đầu tiên.

Có 90 trăm ngàn (9 triệu) vị; là lần tụ hội thứ hai” (sđd.7).

Tăng hội III.

Đức Thế Tôn khi trở về kinh thành Khemavatī để tế độ quyến thuộc, Ngài thuyết lên Lịch sử chư Phật.

Dứt pháp thoại có 8 triệu người xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”. Giữa hội chúng Tăng này, Đức Thế Tôn Tissa đã ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

8- Asītisatasahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ; pupphitānaṃ vimuttiyā.

“Có 80 trăm ngàn vị; là lần tụ hội thứ ba.

Những bậc vô nhiễm và trong sạch; hoa giải thoát nở rộ” (sđd.8).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Nơi kinh thành Yasavatī, có Đức vua Sujāta trị vì.

Suy gẫm về sự sinh tử triền miên, vua Sujāta khởi lên kinh sợ dòng luân hồi, Ngài từ bỏ vương quốc phồn thịnh, cùng với nhóm tùy tùng thân tín ra đi xuất gia làm ẩn sĩ trước khi Đức Thế Tôn Tissa hiện khởi trên thế gian.

Ẩn sĩ Sujāta đạt được 8 thiền chứng cùng 5 thắng trí.

Được tin Đức Phật đã xuất hiện trên thế gian, tâm ẩn sĩ Sujāta ngập tràn phỉ lạc. Trước khi đến yết kiến Đức Thế Tôn Tissa, ẩn sĩ Sujāta suy nghĩ: “Ta sẽ tôn vinh ân đức Phật”.

Với năng lực thần thông của mình, ẩn sĩ đến cõi trời Ba mươi ba (Tāvatiṃsa), tìm những cánh thiên hoa như: Paricchattaka, Salala cùng những loại thiên hoa khác như hoa Mandārava …, ẩn sĩ đi đến vườn Cittalata, nhặt những cánh thiên hoa bỏ vào một giỏ lớn rộng 1 gāvuta, rồi trở về nhân giới.

Ẩn sĩ theo đường hư không đến đảnh lễ Đức Thế Tôn Tissa, cúng dường thiên hoa dưới chân Đức Phật, thiên hoa tỏa mùi hương ngào ngạt lan tỏa khắp kinh thành.

Ngoài ra, trước hàng tứ chúng đông đảo, ẩn sĩ Sujāta đứng cầm lọng che cho Đức Phật, chiếc lọng Paduma làm bằng những tua nhụy sen trời kết lại, nên hương thơm từ chiếc lọng Paduma tỏa ra ngào ngạt.

Giữa đại chúng, Đức Thế Tôn Tissa tiên tri rằng: “Sau 92 kiếp trái đất kể từ kiếp trái đất này, ẩn sĩ Sujāta này sẽ trở thành vị Chánh giác, có tộc họ là Gotama, có tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Tissa

Đức Phật Tissa cao 60 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng theo ý cả Ngài.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Tissa là Trưởng lão Brahmadeva và Trưởng lão Udaya. Thị giả là Trưởng lão Samaṅga([256]).

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Tissa là Trưởng lão ni Phussā và Trưởng lão ni Sudattā .

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Tissa là Trưởng giả Sambala và Trưởng giả Sirī.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Tissa là bà Gotamī và bà Upasenā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Tissa là 100 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi Đại tự Sunanda gần thành Sunandavatī cùng với tất cả vị Thánh Alahán đệ tử của Ngài. Bảo tháp tôn thờ Xálợi của Ngài cao 3 dotuần.

Phụ lục.

*Trưởng lão Puṇṇamāsa.

Ngài là con của Bàlamôn Samiddhi, là một điền chủ ở kinh thành Sāvatthi (Xávệ), ngày Ngài sinh ra đời tất cả chai lọ trong nhà đều đầy những đồng tiền vàng nên Ngài được đặt tên là Puṇṇamāsa,

Khi trưởng thành Ngài thành lập gia thất có được một người con trai.

Nghe được pháp thoại của Đức Thế Tôn, Ngài xuất gia thọ giới Tỳkhưu trong Tăng đoàn.

Dưới sự chỉ dẫn của Đức Thế Tôn, Ngài nỗ lực hành đạo, lấy bốn sự thật làm đề tài quán xét và chứng Thánh quả Alahán.

Sau đó Ngài trở về kinh thành Sāvatthi trú ngụ nơi nghĩa địa.

Khi người con trai của Ngài mệnh chung, người vợ cũ của Ngài trang điểm thật xinh đẹp đi cùng với nhiều người đến nơi cư ngụ của Ngài, thuyết phục Ngài quay trở về để giữ gia tài vì không có người thừa kế gia sản ấy.

Ngài nói lên tâm đã giải thoát không còn vướng bận thế sự của mình qua kệ ngôn.

10- Vihari apekkhaṃ idha vā huraṃ vā; yo vedaūū samito yatatto.

Sabbesu dhammesu anūpalitto; lokassa jaññā udayabbayañcā’’ti.

“Sống không nương ở đây hay về sau; ai hiểu an tịnh([257]), tự chế ngự([258]).

Không nhiễm đắm các pháp; hiểu thấu sinh diệt trong đời”([259]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Tissa, tiền thân Ngài là một thợ săn, có lần nhìn thấy chiếc y Paṃsukūla của Đức Phật ở trong rừng, người thợ săn phát tâm hoan hỷ hồi tưởng đến công hạnh của Đức Thế Tôn, người thợ săn liệng bỏ cung tên, chấp tay đảnh lễ chiếc y ([260]).

Ngài có thể là Trưởng lão Paṃsukūlasaññika được đề câp trong tập Apadāna (Ký sự)([261]).

*Trưởng lão Pañcahatthiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama,

Và 92 đại kiếp trước, tiền thân Ngài là một Bàlamôn cùng với các đệ tử đang đi trên đường, nhìn thấy Đức Thế Tôn Tissa cùng với các Tỳkhuu tùy tùng đang đi du hành.

Bàlamôn hoan hỷ tung lên 5 nắm hoa huệ cúng dường đến Đức Thế Tôn.

Vào 13 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài được làm vua 5 lần với vương hiệuSabhāsammata([262]).

*Trưởng lão Padasaññaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama,

Và 92 đại kiếp trước, tiền thân Ngài là một gia chủ, nhìn thấy dấu chân của Đức Phật Tissa, gia chủ khởi tâm tịnh tín nơi ân đức Phật, đảnh lễ dấu chân ấy.

Vào 7 kiếp trái đất trước, hậu thân gia chủ là vị Đại đế với vương hiệu Sumedha([263]).

*Trưởng lão Suhemanta.

Ngài sinh ra trong một gia đình Bàlamôn rất giàu có ở ngoài biên địa.

Một hôm Bàlamôn Suhemanta nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp trong Vườn Nai ở Saṅkassa, Ngài khởi lòng tin, xin gia nhập Tăng Đoàn.

Ngài nhanh chóng trở thành người tụng Tam Tạng và đắc quả Alahán đúng thời.

Ngài suy nghĩ: “Ta đã thành đạt những gì mà người đệ tử có thể thành đạt được. Vậy ta hãy phục vụ Tăng chúng với sở học của mình”.

Ngài trở thành vị Giáo thọ sư cho các vị Tỳkhưu và cố vấn cho các Tỳkhưu giải quyết những vấn đề khó khăn.

Một hôm Ngài nói với đại chúng có trí như sau.

106- Sataliṅgassa atthassa; satalakkhaṇadhārino.

Ekaṅgadassī dummedho; satadassī ca paṇḍito’’ti.

“Trăm ý nghĩa hiện bày; trăm tướng trạng ẩn khuất.

Kẻ ngu thấy có một; bậc trí thấy cả trăm”([264]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Tissa, tiền thân Ngài là thợ rừng, từng cúng dường đến Đức Phật bông nguyệt quế (punnāga) khi thấy Đức Thế Tôn ngồi dưới gốc cây.

 Vào 91 kiếp trái đất trước, hậu thân người thợ rừng là vị vua có vương hiệu Tamonuda([265]).

Ngài là Trưởng lão Punnāgapupphiya nói trong tập Apadāna (Ký sự)([266]).

*Trưởng lão Naḷinakesariya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào 92 kiếp trước tiền thân Ngài là con chim nước. Thấy  Đức Phật Tissa du hành trên không trung, chim dùng mõ dưng Phật một bông sen.

Vào 73 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài là vị vua có vương hiệu là Satapatta([267]).

Dứt lịch sử Đức Phật Tissa.

 

18- Đức Phật Phussa.

Sau khi Đức Phật Tissa viên tịch, tuổi thọ nhân loại từ 100 ngàn năm giảm dần xuống còn 10 năm, rồi lại tăng dần đến atăng kỳ năm. Rồi lại giảm dần xuống đến khi còn 9o ngàn năm, bấy giờ Đức Phật Phussa xuất hiện trên thế gian.

Từ cug trời Tusita (Đẩusuất), Bồtát tái sinh vào thai bào của bà Hoàng Sirimā, cha Ngài là Đức vua Jayasena trị vì kinh thành Kāsika.

Sau 10 tháng mang thai, bà Hoàng Sirimā sinh ra Bồtát nơi vườn hoa Sirimā. Vì Bồtát sinh ra vào ngày chòm sao Phussa chiếu sáng, nên Ngài được đặt tên là Phussa.

Bồtát Phussa sống tại gia 9 ngàn năm([268]), trong ba tòa cung điện: Cung điện Garuḷa([269]) cung điện Haṃsa và cung điện Suvaṇṇabhārā([270]) có 30 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là Công nương Kisāgotamī.

Khi Bồtát chứng kiến điềm tướng thứ tư là “vị Samôn” cũng là ngày  nàng Kisāgotamī hạ sinh Thái tử Anupama.

Bồtát Phussa quyết định ra đi xuất gia, Ngài cưỡi trên lưng voi Maṅgala (Hạnh phúc) ra khỏi kinh thành cùng với đoàn tùy tùng là 10 triệu người.

Khi Bồtát xuất gia, 10 triệu tùy tùng theo gương Ngài xuất gia để phục vụ Ngài.

Bồtát khổ hạnh trong sáu tháng, ngày trăng tròn tháng Vesākha, Bồtát thọ dụng bát cơm sữa do nàng Sirivaḍḍhā con gái trưởng giả trưởng làng cúng dường.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cây cổ thụ Āmalaka (Amalặc), trên đường đi Bồtát nhận tám bó cỏ  do ẩn sĩ khổ hạnh (tāpasa) cúng dường.

Nơi cội cây Āmalaka, Bồtát trải 8 bó cỏ, một Bảo tọa chiến thắng xuất hiện cho Ngài. Trên Bảo tọa chiến thắng, Bồtát chiến thắng toàn bọn māra, thành tựu Vô thượng Chánh giác khi mặt trời vừa ló dạng.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Phussa.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn Phussa khai mở pháp giải thoát nơi rừng Isipatana, gần thành Saṅkassa để tế độ 10 triệu vị Samôn theo Ngài xuất gia khi trước.

Pháp thoại mang lại Thánh quả cho 1.000 tỷ chư thiên và nhân lọai.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

3- Dhammacakkaṃ pavattente; phusse nakkhattamaṅgale.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Đức Phật Phussa vận chuyển bánh xe pháp; trong buổi lễ hội các vì sao([271]).

Có 100 ngàn 10 triệu vị; là Thắng hội đầu tiên”([272]).

Thắng hội II.

Đức vua Sirivaḍḍha trị vì kinh thành Bārāṇasī, đã từ bỏ vương quốc ra đi xuất gia làm ẩn sĩ, có 90 ngàn tùy tùng theo Ngài xuất gia làm ẩn sĩ để phục vụ Ngài.

Đức Thế  Tôn Phussa theo đường hư không đến ẩn xá của 90 ngàn ẩn sĩ. Ngài thuyết lên pháp thoại tế độ 9 triệu nhân thiên chứng đắc Thánh quả. Đây là Thắng hội II của Ngài.

Thắng hội III.

Khi Đức Thế Tôn Phussa giáo giới cho Tỳkhưu Anupama (con trai Ngài), có sự lãnh hội Giáo pháp của 8 triệu nhân thiên.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Navutisatasahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

Asītisatasahassānaṃ; tatiyābhisamayo ahu.

“Có 90 trăm ngàn vị; là Thắng hội lần hai.

Có 80 trăm ngàn vi; là Thắng hội lần ba” (sđd.4).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Phussa.

Tăng hội I.

Nơi kinh thành Kaṇṇakujja có Thái tử Surakkhita và Dhammasena là con vị Tế lễ sư. Hai vị  là đôi bạn thân chí thân.

Đức Thế Tôn Phussa cùng đại chúng Tỳkhưu du hành đến kinh thành Kaṇṇakujja.

Hai vị đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, thỉnh Đức Thế Tôn ngự đến Hoàng cung để cúng dường vật thực.

Hai vị cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng trọn 7 ngày, vào ngày thứ 7 Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích ứng. Hai vị cùng 6 triệu tùy tùng chứng Thánh quả Alahán. Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Đức Thế Tôn Phussa khi trở về kinh thành Kāsika để tế độ quyến thuộc, Ngài thuyết lên Lịch sử chư Phật.

Dứt pháp thoại có 5 triệu vị trở thành”Hãy đến đây này các Tỳkhưu …”.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Sannipātā tayo āsuṃ; phussassāpi mahesino.

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ; santacittāna tādinaṃ.

“Có ba lần tụ hội, của bậc Đại ẩn sĩ Phussa.

Là những bậc vô nhiễm, trong sạch; có tâm an tịnh kiên định”.

6- Saṭṭhisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Paññāsasatasahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

 “Có 60 trăm ngàn vị; là lần tụ hội thứ nhất.

Có 50 trăm ngàn vị. là lần tụ hội thứ hai” (sđd.5-6).

Tăng hội III.

Khi Đức Thế Tôn Phussa thuyết lên kinh Hạnh phúc (Maṅgalasutta), có 4 triệu người xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

7- Cattārīsasatasahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

Anupādā vimuttānaṃ; vocchinnapaṭisandhinaṃ.

“Có 40 trăm ngàn vị; là lần tụ hội thứ ba.

Không nắm giữ, giải thoát; đã chấm dứt sự tái sinh” (sdđd.7).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, Bồtát Gotama là vị vuaVijitāvī trị vì kinh thành Arindana.

Được nghe Pháp từ Đức Thế Tôn Phussa, vua Vijitāvī từ bỏ vương quốc, xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật Phussa.

Khi thông thuộc Pháp luật, Trưởng lão Vijitāvī thực hành pháp, chứng đắc 8 thiền chứng cùng 5 pháp thần thông.

Giữa đại chúng, Đức Phật Phussa tiên tri rằng: “Sau 92 kiếp trái đất kể từ kiếp trái đất này, Tỳkhưu Vijitāvī trở thành vị Chánh giác có tộc họ là Gotama, có tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Phussa.

Đức Phật Phussa cao 50 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng theo ý cả Ngài.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Phussa là Trưởng lão Surakkhita và Trưởng lão Dhammasena. Thị giả là Trưởng lão Sabhiya.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Phussa là Trưởng lão ni Cālā và Trưởng lão ni Upacālā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Phussa là Trưởng giả Dhanañjaya và Trưởng giả Visakha.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Phussa là bà Padumā và bà Nagā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Tissa là 90 ngàn năm, Ngài viên tịch nơi vườn Sona([273]) gần thành Kusinārā. Xálợi của Ngài được rải tản khắp  nhân thiên.

Phụ lục.

*Trưởng lão Padumapupphiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Phussa, tiền thân của Ngài cúng dường đến Đức Phật Phussa một cánh bông sen, rồi sau đó xuất gia trong Tăng đoàn của Đức Phật Phussa.

Vào 48 kiếp trái đất trước, tiền thân của Ngài có 18 lần là vị Đại đế với vương hiệu làPadumabhāsa([274]).

*Trưởng lão Phaladaayaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào 92 kiếp trái đất kiếp trước, tiền thân của Ngài là một ẩn sĩ ẩn cư nơi núi Tuyết, có cúng dường đến Đức Phật Phussa một nắm trái cây rừng([275]).

Dứt lịch sử Đức Phật Phussa.

 

19- Đức Phật Vipassī.

Sau khi Đức Thế Tôn Phussa viên tịch, kiếp trái đất sau đó chỉ xuất hiện một vị Chánh giác (sārakappa) có Hồng danh là Vipassī ([276]).

Khi nhân loại có tuổi thọ từ atăng kỳ năm giảm dần xuống đến 80 ngàn năm, từ cung trời Tha Hóa tự tại, Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Bandhumatī, cha Ngài là Đức vua Bandhumā trị vì kinh thành Bandhumatī. Bồtát được sinh ra nơi khu vườn có đầy nai tên là Khema.

Bồtát Vipassī thuộc dòng tộc Koñdañña.

Những nhà tinh thông tướng pháp, sau khi chiêm tướng Bồtát đã chọn cho Ngài cái tên là Vipassī.

Luận giải về Hồng danh Vipassī  như sau:

a- Khi sinh ra Bồtát có đôi mắt tinh tường do phước nghiệp của Ngài, mắt Bồtát như mắt chư thiên, có thể thấy rõ trong ban đêm như ban ngày.

b- Như mắt chư thiên không hề nhắm lại, cũng vậy mắt Bồtát không hề nhắm lại, cho dù lúc Ngài ngủ.

c- Khi Bồtát nhìn sự việc, Ngài có khả năng suy xét thấy được những uẩn khúc sau sự kiện ấy.

Tương truyền, có lần Thái tử Vipassī được trang điểm xinh đẹp mang đến vua cha là Bandhamā.

Đức vua ẳm Thái tử trong lòng vui đùa cùng con, bấy giờ có một vụ kiện, các vị xử án đã xử sai.

Bồtát nhìn thấy, Ngài không hài lòng liền khóc lên, mọi người tìm hiểu nguyên nhân nhưng không thấy. Đức vua suy nghĩ: “Hay có sự sai lầm trong  việc xử kiện”.

Khi cho xử lại vụ kiện, các vị xử án thấy mình xử sai lầm, nên xử lại đúng đắn, bấy giờ Bồtát nín khóc.

Để thử xem sự việc có phải do nguyên nhân này mà Bồtát khóc không? Đức vua cho xử vụ án như ban đầu, lập tức Bồtát khóc lớn lên, khi xử vụ kiện đúng đắn thì Bồtát nín khóc.

Bồtát Bồtát Vipassī sống tại gia 8 ngàn năm, trong ba tòa cung điện: Cung điện Nanda, cung điện Sunanda và cung điện Sirimā, có 120 ngàn cung nữ xinh đẹp phục vụ, vợ Ngài là công nương Sudassanā (còn gọi là Sutanū).

Bồtát Vipassī chứng kiến bốn điềm tướng, Ngài quyết định ra đi xuất gia, vào ngày ấy nàng Sudassanā  vừa sinh ra cho Ngài một hậu duệ (tanaya) là Thái tử Samavattakkhandha.

Bồtát ra khỏi kinh thành trên cổ xe ngựa do những con ngựa thuần chủng kéo đi, sau khi xuất gia Bồtát cho cổ xe ngựa quay về Hoàng cung.

Có 84 ngàn tùy tùng của Bồtát, vào sáng hôm đó  tất cả đi đến cung điện Bồtát để theo phục vụ Ngài, nhưng không thấy Ngài, tất cả ra về để dùng buổi sáng, rồi quay trở lại cung điện của Bồtát, khi ấy cổ xe do ngựa thuần chủng quay về, người đánh xe cho biết: “Thái tử đã xuất gia”.

Tất cả liền đi tìm Bồtát và xuất gia làm Samôn để hầu Ngài.

Bồtát khổ hạnh tám tháng, vào ngày trăng tròn tháng Vesākha Bồtát thọ dụng bát cơm sữa do nàng Sudassanā con gái trưởng giả Sudassana cúng dường.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cây cổ thụ Pāṭalī (cây có hoa giống như loa kèn), cây Pāṭalī này cao 50 hắc tay, tàn nhánh xòe rộng ra 50 hắc tay, khi ấy từ gốc đến ngọn cây Pāṭalī trổ hoa thơm ngát và cây lại vượt cao thêm 8 hắc tay. Vào ngày hôm ấy, không những cây Pāṭalī trổ hoa mà tất cả cây trong rừng đều trổ hoa.

Trên đường đi đến cây Pāṭalī, Bồtát nhận 8 bó cỏ do người giữ ruộng tên là Sujāta. Nơi cội cây Pāṭalī, Bồtát trải 8 bó cỏ, một Bảo tọa chiến thắng hiện khởi cho Ngài, ngồi trên Bảo tọa chiến thắng, Ngài chiến thắng toàn bọn māra,  thành tựu Vô thượng Chánh giá khi mặt trời vừa ló dạng.

 *Ba Thắng hội của Đức Phật Vipassī.

Thắng hội I.

Đức Phật Vipassī khai mở pháp giác ngộ lần đầu tiên nơi vườn nai Khema để tế độ người em trai khác mẹ với Ngài là Thái tử Khaṇḍa cùng với thanh niên Tssa là con trai vị Tế lễ sư (hai vị này là hai Thượng thủ Thinh văn của Đức Phật Vipassī([277])).

Dứt pháp thoại Chuyển pháp luân, số lượng nhân thiên chứng Thánh quả không thể đếm được, riêng hai Ngài Khandha và Tissa cùng tùy chúng  của mình là 6, 8 triệu người chứng Thánh quả Dự lưu, xin xuất gia và được xuất gia theo cách: “Ehi bhikkhu … và chứng Thánh quả Alahán không lâu sau đó.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Có Kinh văn sau.

3- Dhammacakkaṃ pavattetvā; ubho bodhesi nāyako.

Gaṇanāya na vattabbo; paṭhamābhisamayo ahu.

“Vận chuyển bánh xe pháp; Bậc Lãnh đạo giác ngộ hai người.

Hội chúng không tính đếm được; là Thắng hội đầu tiên”([278]).

Thắng hội II.

Được tin Thái tử Khaṇḍa và thanh niên Tissa xuất gia trongg Giáo pháp của Đức Phật Vipassī. Đại chúng trong kinh thành Bandhumatī đến yết kiến Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại, tế độ 84 ngàn chúng sinh chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Punāparaṃ amitayaso; tattha saccaṃ pakāsayi.

Caturāsītisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Lại lần khác, bậc danh tiếng vô song; Ngài giảng về chân lý.

Có 84 ngàn vị; là Thắng hội lần hai” (sđd.4).

Thắng hội III.

Có 84 ngàn tùy tùng của Bồtát Vipassī khi Ngài còn sống tại gia, hội chúng này xuất gia theo hầu Ngài. Được tin Đức Phật đang ngự trú trong vườn Ngự Uyển Khema, họ đi đến viếng Đức Phật.

Nhân đó Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại tế  độ tất cả chứng đắc Thánh quả. Đây là Thắng hội lần III của Ngài. Có Kinh văn sau.

5- Caturāsītisahassāni; sambuddhaṃ anupabbajuṃ.

Tesamārāmapattānaṃ; dhammaṃ desesi cakkhumā.

 “Có 84 ngàn người; xuất gia theo Đấng Chánh giác.

Những vị ấy đến tự viện; Bậc hữu nhãn giảng pháp đến  họ”.

6- Sabbākārena bhāsato; sutvā upanisādino.

Tepi dhammavaraṃ gantvā; tatiyābhisamayo ahu.

“Tất cả được giảng dạy; sau khi nghe an trú vào Đức Phật.

Đạt đến pháp theo nhiều cách; là Thắng hội lần ba” (sđd. 5-6).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Vipassī.

Tăng hội I.

Nơi vườn Nai Khema, giữa hội chúng 6,8 triệu vị Tỳkhưu là hội chúng  của hai Ngài Khaṇḍa và Tissa. Đức Thế Tôn Vipassī ban lời Giáo giới giải thoát. Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Khi Đức Thế Tôn thị hiện Song thông để tế độ quyến thuộc, rồi Ngài thuyết lên Lịch sử chư Phật.

Có 100 ngàn vị xin được xuất gia và Đức Thế Tôn cho xuất gia theo cách: “Etha bhikkhave …”.

Giữa hội chúng Tăng này, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát. Đây là Tăng hội II của Ngài.

Tăng hội III.

Ba vị Tử hoàng cùng cha khác mẹ với Bồtát Vipassī, sau khi dẹp loạn ở biên cương thắng trận trở về. Đức vua Bandhama ban cho ba vị Tử hoàng một điều ước, ba vị Tử hoàng xin được cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng một tháng.

Ba vị Tử hoàng thỉnh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng đến lãnh địa của mình để cúng dường.

Sau đó ba vị Tử hoàng cùng 80 ngàn tùy tùng được nghe pháp từ Đức Thế Tôn và được xuất gia theo cách : “Etha bhikkhave …”.

Giữa hội chúng Tăng này, Đức Thế Tôn Vipassī ban lời Giáo giới Giải thoát. Đây là Tăng hội III của Ngài. Có kinh văn sau.

7- Sannipātā tayo āsuṃ; vipassissa mahesino.

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ; santacittāna tādinaṃ.

“Có ba lần tụ hội, của Đại Ẩn sĩ Vipassī.

Là những bậc vô nhiễm, trong sạch; tâm an tịnh kiên định”.

8- Aṭṭhasaṭṭhisatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Bhikkhusatasahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Có 68 trăm ngàn; là lần tụ hội đầu tiên.

Có 100 ngàn vị Tỳkhưu; là lần tụ hội thứ hai”

9- Asītibhikkhusahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

Tattha bhikkhugaṇamajjhe; sambuddho atirocati.

“Có 80 ngàn vị Tỳkhưu, là lần tụ hội thứ ba”.

“Giữa hội chúng Tỳkhưu ấy; Bậc Chánh giác chói sáng” (sđd.7-9).

Lễ Bốtát (uposatha) thời Giáo pháp của Đức Thế TônVipassī, 7 năm mới thực hiện một lần([279]) và tất cả Tăng chúng đều có mặt([280]).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là rắn chúa Atula có thần thông.

Rắn chúa Atula cùng hội chúng của mình đi đến yết kiến Đức Thế Tôn, tôn vinh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng với những khúc nhạc thù diệu.

Rắn chúa Atula thỉnh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng ngự đến trú xứ của mình, rắn chúa Atula cho xây dựng một khánh sảnh rộng lớn và xinh đẹp.

Rắn chúa cúng dường đến Đức Thế Tôn một ghế ngồi bằng 7 loại ngọc báu, rồi  cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng trọn 7 ngày.

Vào ngày thứ 7, sau khi thọ thực xong, giữa hội chúng Đức Thế Tôn tiên tri rằng: “Sau 91 kiếp trái đất kể từ kiếp trái đất này, rắn chúa Atula  sẽ trở thành vị Chánh giác có tôc họ là Gotama, có tên gọi là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Vipassī.

Đức Phật Vipassī cao 80 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng tự nhiên xa 7 dotuần.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Vipassī là Trưởng lão Khaṇḍa và Trưởng lão Tissa. Thị giả là Trưởng lão Asoka.

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Vipassī là Trưởng lão ni Candā và Trưởng lão ni Candamittā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Vipassī là Trưởng giả Punabbasumitta và Trưởng giả Nāga.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Vipassī là bà Sirimā và bà Uttarā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Vipassī là 80 ngàn năm, Đức Thế Tôn Vipassī viên tịch nơi Tự viện Sumitta (Sumittārāma), khi Đức Thế Tôn Vipassī viên tịch, tất cả những vị Thánh Alahán cùng viên tịch trong ngày.

Bảo tháp tôn thờ Xálợi của Ngài cao 7 dotuần.

Phụ lục.

*Trưởng lão Añña Koṇḍañña.

Vào thời Đức Phật Vipassī, tiền thân của Ngài là trưởng giả Cūḷakāla có cúng dường lúa ngậm sữa đến Đức Phật Vipassī, cùng với 8 giai đoạn khác của vụ mùa ([281]).

* Tiền thân trưởng giả Jotika.

Gia chủ Jotika là đệ nhất trưởng giả trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Vipassī, tiền thân Ngài Jotika là gia chủ Aparājita ở trong thành Bandhumatī.

Khi anh của Ngài xuất gia và đắc quả Alahán trong Giáo pháp của Phật Vipassī, Ngài thỉnh ý anh mình về cách sử dụng tài sản để tạo công đức.

Theo lời khuyên của anh, Ngài dùng 7 loại ngọc quý kiến tạo một Hương thất (Gandhakūṭi) cúng dường đến Đức Phật Vipassī, cung cấp mọi thứ sang quý như nước tẩm bông thơm cho Hương thất….

Ngài ba lần rải châu báu lên đến đầu gối nơi Hương thất, để ai đến nghe Đức Phật thuyết pháp muốn lượm thì lượm.

Khi khánh thành Gandhakuṭi (Hương thất) của Đức Phật, gia chủ Aparājita cúng dường đến 6.800.000 Tỳkhưu trong 9 tháng.

Trong thời Đức Phật Gotama, hậu thân Aparājita là trưởng giả Jotika.

Khi xuất gia trong giáo pháp này, chẳng bao lâu Ngài chứng Thánh quả Alahán.

Trong một tiền kiếp khác, tiền thân Ngài Jotika có cúng dường Phật Độc Giác cây mía([282]).

* Tiền thân gia chủ Meṇḍaka.

Trong thời Đức Phật Vipassī, tiền thân của Ngài Meṇḍaka  là cháu của gia chủ Apārajita, cũng có tên gọi là Apārajita, khi gia chủ Apārajita kiến tạo Hương thất cúng dường đến Đức Phật Vipassī, người cháu xin hùn phước nhưng bị từ chối.

Người cháu cho kiến tạo Kuñjarasāla (Tượng đường) đối diện với Hương thất([283]).

* Trưởng lão Tikicchaka.

Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào Thời Đức Phật Vipassī, khi Trưởng lão Asoka (Thị giả của Đức Phật Vipassī) bị bệnh, tiền thân Ngài Tikicchaka là vị lương y, trị bịnh cho Ngài Asoka.

Vào 8 đại kiếp trước, Ngài là vị vua có vương hiệu là Sabbosadha([284]), Ngài chính là Trưởng lão Tekicchakāni được nói đến trong tập Apadāna([285]).

*Trưởng lão Ajita mānava (thanh niênAjita).

Ngài là vị đệ tử trưởng của Bàlamôn Bāvarī, theo lời dạy của thầy Ngài cùng 15 bạn đồng môn đến viếng và hỏi pháp từ Đức Phật Gotama.

Khi được Đức Phật giải đáp, Ngài cùng 1.000 đệ tử của mình chứng quả Alahán.

Vào thời Đức Phật Vipassī , tiền thân Ngài Ajita có cúng dường đến Đức Thế Tôn trái  kapittha.

Ngài Ajita có thể là trưởng lão Kapītthaphaladāyaka được đề cập trong Apadāna([286]).

* Trưởng lão Ajjuna.

 Ngài là con một Đại thần ở kinh thành Sāvatthī (Xávệ).

Lúc trẻ Ngài là môn đệ của Nigaṇṭha Nātaputta, nhưng không hài lòng với giáo thuyết này.

Ngài khâm phục Song thông lực của Đức Thế Tôn Gotama, nên xin xuất gia trong Giáo pháp này và đắc quả Alahán([287]).

Vào thời Phật Vipassī, tiền thân Ngài là sư tử và có dâng lên Phật cành sāla trổ bông.

Ngài có thể là Trưởng lão Sālapupphadāyaka nói trong Apadāna([288]).

*Trưởng lão Anusaṃsāvaka.

 Ngài là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Vipassī, tiền thân Ngài có cúng dường đến Đức Phật Vipassī một muỗng cơm đầy([289]).

*Trưởng lão Abhaya (1).

Vị Trưởng lão Alahán này trùng tên với Vương tử Abhaya (anh khác mẹ với vua Ajātasattu) con trai của vua Bimbisāra, nên có sự lầm lẫn hai vị là một. Tuy về sau, khi Thái tử Ajātasattu (AxáThế) giết cha đoạt ngôi, vương tử Abhaya chán nản xuất gia trong giáo Pháp của Đức Thế Tôn Gotama và chứng Thánh quả Alahán.

Trong thời Đức Phật Vipassī, tiền thân Ngài Abhaya (1) có cúng dường bông dứa rừng đến Đức Phật Vipassī.

Ngài có danh hiệu là Ketakapupphiya được đề cập trong tập Apadāna([290]).

*Trưởng lão ni Abhirūpa Nandā.

Trong thời Đức Phật Gotama bà là con một Tộc trưởng thuộc dòng ThíchCa (Sākya), bà sinh ra ở kinh thành Kapilavatthu.

Nhờ nghe Pháp của Đức Thế Tôn bà chứng Thánh quả Alahán.

Vào thời Phật Vipassī, tiền thân bà Abhirūpa Nandā là con gái của một trưởng giả giàu có trong kinh thành Bandhumatī.

 Nghe Đức Phật thuyết pháp, nàng quy ngưỡng ân đức Tam Bảo, khi Đức Thế Tôn Vipassī  viên tịch, nàng cúng dường một chiếc tán bằng vàng cẩn ngọc thạch trên nền hỏa đài của Đức Phật Vipassī([291]).

* Trưởng lão Amoraphaliya.

Ngài là vị Thánh Alahán trong giáo pháp của Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Vipassī, tiền thân của Ngài có cúng dường đến Đức Phật Vipassī trái Amora([292]).

* Trưởng lão Ambapiṇḍiya.    

 Là vị Thánh Alahán trong thời Đức Phật Gotama, vì Ngài có thân hình cao lớn nên cònđược gọi là Romasa.

Vào thời Đức Phật Vipassī, tiền thân của Ngài có cúng dường một chùm xoài đến Đức Phật Vipassī([293]).

*Trưởng lão Avyādhika.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Vipassī tiền thân của Ngài là một gia chủ trưởng giả. Gia chủ này kiến tạo một ngôi nhà sưởi ấm (aggisālā) cúng dường đến Đức Phật và chư Tăng, ngoài ra còn xây dựng một bệnh viện với nhà tắm có nước nóng cho người bệnh dành cho chư Tăng và đại chúng.

Vào 7 kiếp trái đất trước, hậu thân gia chủ ấy là vị Đại đế với vương hiệu là Aparājita([294]).

*Trưởng lão Ātuma.

Trong thời Đức Phật Gtama còn tại tiền, Ngài sinh ra nơi kinh thành Sāvatthi (Xávệ), là con của một vị Đại thần, được đặt tên là Ātuma.

Khi Ngài trưởng thành, cha mẹ Ngài tìm lương duyên cho Ngài, nhưng do tiền duyên tích lũy, Ngài chán nản cuộc sống gia  đình nên xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn trở thành vị Tỳkhưu.

Tuy vậy, mẹ Ngài vẫn khuyến dụ Ngài quay về với đời sống thế tục, Ngài nói kệ ngôn để tuyên bố chí nguyện của mình như sau.

72- Yathā kaḷīro susu vaḍḍhitaggo; dunnikkhamo hoti pasākhajāto.

Evaṃ ahaṃ bhariyāyānitāya; anumaññaṃ maṃ pabbajitomhi dānī’’ti.

 “Như cây măng lớn mạnh, khó vượt khỏi cây cành.

Cũng vậy, đến với ta, đem  vấn đề có vợ trở về.

Hãy vui lòng chấp nhận, nay ta đã xuất gia” (HT. TMC dịch)([295]).

Tiền sự.

Vào thời Phật Vipassī, tiền thân Ngài là một gia chủ có cúng dường đến Đức Phật nước hoa và phấn thơm.

Vào 33 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài là vị vua có vương hiệu Sugandha. Ngài có thể chính là Trưởng lão Gandhodakiya nói trong tập Apadāna([296]).

*Trưởng lão Bodhivandaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào 91 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài là gia chủ, từng đảnh lễ cội Đại giác (mahābodhi) của Đức Phật Vipassī([297]).

Dứt lịch sử Đức Phật Vipassī.

 

Sau khi Đức Phật Vipassī viên tịch, trải qua 59 kiếp trái đất không có vị Chánh giác nào xuất hiện trên thế gian (suññakappa).

Cách hiền kiếp này trở về trước, kiếp trái đất thứ 31, có 2 vị Chánh giác xuất hiện (maṇḍakappa), là Đức Phật Sikhī và Đức Phật Vessabhū.

20- Đức Phật Sikhī.

Khi tuổi thọ nhân loại giảm dần từ atăng kỳ năm đến khi còn 70 ngàn năm, từ cung trời Tusita Bồtát giáng sinh vào thai bào của bà Hoàng Pabhāvatī , cha Bồtát là Đức vua Aruṇa (hay Aruṇavā) cai trị kinh thành Aruṇavatī.

Kinh thành này có tên gọi là Aruṇavattī vì có rất nhiều tường thành vây quanh (avaraṇāvtī). Sau 10 tháng trú trong thai bào, Bồtát đản sinh nơi vườn hoa Nisabha.

Vào ngày lễ đặt tên, Bồtát được đặt tên là Sikhī, vì khi ấy hiếc khăn bịt đầu của Ngài, nơi cột chéo khăn nhô ra như cục thịt (uṇhisa)  dựng thẳng đứng như ngọn lửa (sikhā).

Bồtát Sikhī sống đời sống tại gia là 7 ngàn năm trong ba tòa cung điện là Sucanda, Giri và Vasabha, có 24 ngàn mỹ nử xinh đẹp giỏi múa hát phục vụ Ngài, Hoàng hậu của Bồtát Sikhī là nàng Sabbakāmā.

Khi Hoàng hậu Sabbakāmā vừa sinh hạ Thái tử Atula (Vô song), cũng là lúc Bồtát Sikhī chứng kiến trọn vẹn bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn, nên Ngài ra đi xuất gia tìm đạo giải thoát.

Bồtát cưởi voi ra đi xuất gia, có 70  triệu tùy tùng theo gương Ngài sống đời sống Samôn.

Bồtát Sikhī thực hành khổ hạnh 8 tháng, rồi Ngài thọ thực trở lại, nhóm Samôn tùy tùng từ bỏ Ngài, đi đến vườn Migācira gần kinh thànhAruṇavatī trú ngụ.

Vào ngày trăngtròn tháng Visākha, Ngài đi đến thị trấn Sudassanā, nhận bát  cơm sữa do nàng Piyadassī con gái của trưởng giả nơi thị trấn ấy cúng dường.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cội Đại giác Puṇḍarīka (cây xoài trắng, như có câu giải thích: Setambarukkha([298])), trên đường đi Ngài nhận 8 bó cỏ do du sĩ Animadassī cúng dường.

Khi Ngài trải tám bó cỏ nơi gốc cây Đại giác, một Bảo tọa chiến thắng hiện khởi cho Ngài.

Cây Đại giác Puṇḍarīka tương tự như cây Đại giác Pāṭali của Đức Phật Vipassī, cao 50 hắc tay, tàn nhanh xòa rộng 50 hắc tay, toàn thân cây nở đầy hoa cùng những quả chen chúc nhau, quả non ở bên trong, quả già ở ngoài và những quả chín mọng lộ ra tỏa hương thơm dìu dịu khắp chung quanh.

Trên Bảo tọa chiến thắng, Bồtát Sikhī chiến thắng toàn bộ năm loại ma, khi mặt trời vừa ló dạng, Ngài chúng đại Vô thượng Chánh giác.

Trải quả 7 tuần lễ hưởng hương vị giải thoát quanh cội cây Đại giác, Đức Phật Sikhī nhân lời thỉnh cầu của vị Đại Phạm thiên, khai mở pháp Bất tử tế độ người hữu duyên.

*Ba Thắng hội của Đức Phật Sikhī.

Thắng hội I.

Đức Thế Tôn Sikhī thấy được duyên lành của 70 triệu vị Samôn tùy tùng trước đây của Ngài, tất các đang trú ngụ nơi vườn Migācira gần kinh thànhAruṇavatī. Đức Thế Tôn Sikhi theo đường hư không đến vườn Migācira.

Nơi vườn Migācira Đức Thế Tôn khai mở đạo lộ Bất tử qua bài pháp Chuyển pháp luân để tế độ 70 triệu vị Samôn tùy tùng cùng chư thiên.

Dứt Pháp thoại có một trăm ngàn mười triệu (một ngàn tỷ) nhân thiên chứng Thánh đạo.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Như có Kinh văn sau.

3- Dhammacakkaṃ pavattente; sikhimhi jinapuṅgave.

Koṭisatasahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Bánh xe Pháp đang vận chuyển;(từ) Sikhī bậc chiến thắng tối thượng.

Có 100 ngàn mười triệu; đây là Thắng hội đầu tiên của Ngài”([299]).

Thắng hội II.

Nơi kinh thành Aruṇavatī có hai vị tử hoàng rất thông tuệ là Abhibhū và Sambhava (là hai vị Thượng thủ tương lai của Đức Phật Sikhī).

Hai vị Tử hoàng nghe danh tiếng tốt đẹp của Đức Thế Tôn Sikhī, nên cùng 100 ngàn tùy tùng đi đến yết kiến Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn với pháp thoại tế độ tất cả đềuchứng đắc Thánh quả Alahán.

Pháp thoại đã mang đạo quả đến cho 900 tỷ nhân thiên.

Đây là Thắng hội lần II của Ngài. Như có Kinh văn sau.

4- Aparampi dhammaṃ desente; gaṇaseṭṭhe naruttame.

Navutikoṭisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Lần khác, Pháp được thuyết giảng; (từ) bậc Tối thượng đứng đầu hội chúng.

Có 90 ngàn mười triệu; đây là Thắng hội lần II của Ngài  (sđd).

Thắng hội III.

Nơi cổng thành Suriyavatī, Đức thế Tôn Sikhī thể hiện Song thông lực nơi cây Campaka (cây Cầy) để nhiếp phục sự kiêu mạn của chúng ngoại giáo.

Nhân đó, Ngài thuyết lên Pháp thoại để tế độ nhân thiên, có  800 tỷ nhân thiên chứng Thánh đạo.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Như có Kinh văn sau.

5- Yamakapāṭihāriyañca,  dassayante sadevake.

Asītikoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.

“Khi thể hiện Song thông, đến chư thiên và nhân loại.

Có 80 ngàn mười triệu; là Thắng hội iii của Ngài” (sđd).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Sikhī.

Tăng hội I.

Giữa hội chúng gồm 100 ngàn vị Thánh Tăng Alahán được xuất gia theo cách “etha bhikkhave … (là tùy tùng của hai vị Tử hoàng Abhibhū và Sambhava), Đức thế Tôn đã ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Khi Đức Thế Tôn trở về kinh thành Aruṇavatī tế độ quyến thuộc, Ngài tế độ 80 ngàn người thân tộc chứng đắc Thánh quả và tất cả đều được xuất gia theo cách “etha bhikkhave”…

Giữa hội chúng Alahán này, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát. Đây là Tăng hội II của Ngài.

Tăng hội III.

Lần khác, Đức Thế Tôn Sikhī cảm thắng voi Dhanpālaka ở kinh thành Dhanañjaya. Đức Thế Tôn thuyết lên Pháp thoại, tế độ 70 ngàn người chứng Thánh quả và xuất gia theo cách “ etha bhikkhave …”, giữa hội chúng Tăng này, Đức Thế Tôn đã ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Như có Kinh văn sau.

7- Bhikkhusatasahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Asītibhikkhusahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Một trăm ngàn Tỳkhưu tụ hội; là hội chúng đầu tiên.

Tám mươi ngàn Tỳkhưu tụ hội; là hội chúng thứ hai”.

8- Sattatibhikkhusahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

Anupalitto padumaṃva; toyamhi sampavaḍḍhitaṃ.

“Bảy mươi ngàn Tỳkhưu tụ hội; là hội chúng thứ ba.

Như hoa sen xanh trong sạch; không nhiễm ô dù sinh trong bùn” (sđd).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là vị vua có tên là Arindama, cai trị kinh thành Paribhutta.

Đức Thế Tôn Sikhī cùng đại chúng Tăng lần lượt du hành đến kinh thành Paribhutta.

Được tin Đức Thế Tôn đến kinh thành Paribhutta, vua Arindama hân hoan ra khỏi Hoàng cung cùng đông đảo tùy tùng  đến yết kiến Đức Thế Tôn.

Sau khi nghe pháp thoại, Đức vua thỉnh Đức Thế Tôn ngự đến Hoàng cung để thọ thực liên tục 7 ngày.

Vào ngày thứ 7 Đức vua cúng dường đến Đức Thế Tôn bộ Tam y đắc giá nhất, ngoài ra mỗi vị Tỳkhưu đều được cúng dường bộ Tam y  trị giá là 100.000 đồng vàng.

Đức vua còn cúng dường đến Đức Thế Tôn con voi hạnh phúc được xem là quốc bảo của quốc độ, toàn thân voi được trang điểm xinh đẹp bằng những trang sức quý, không chỗ nào trên thân voi không có vật trang sức.

Đức Thế Tôn đưa Vị lai trí quán xét, rồi Ngài tiên tri giữa đại chúng rằng: “Sau 31 kiếp trái đất, kể từ kiếp trái đất này. Vị thiện gia tử này sẽ chứng đạt Vô thượng Chánh giác có tộc họ là Gotama, tên là Sidhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức Phật Sikhī.

Đức Phật Sikhī cao 60 hắc tay, hào quang từ thân của Ngài chiếu sáng tự nhiên cả ngày lẫn đêm xa 30 dotuần.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Sikhī là Trưởng lão Abhibhū và Trưởng lão Sambhava, Thị giả  là Trưởng lão Khemaṅkara .

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Sikhī là Trưởng lão ni Akhilā (Makhilā)  Candā và Trưởng lão ni Padumā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Sikhī là Trưởng giả Sirivaḍḍha và Trưởng giả Canda (Nanda).

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Sikhī là bà Cittā và bà Sivāvatī.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Sikhī là 70 ngàn năm, Đức Thế Tôn Sikhī viên tịch nơi Tự viện Dussa (Dussārāma)([300]) gần thành Silavatī.

Xálợi của Ngài tụ thành khối và được tôn thờ trong Bảo tháp cao 3 do tuần.

Đức Thế Tôn Sikhī sáu năm mới tụng Giới bổn (Pāṭimokkha) một lần.

Phụ lục.

*Trưởng lão Abhibhū.

Là Thượng thủ thinh văn tay phải của Đức Thế Tôn Sikhī([301]).

Kinh  Aruṇavatī ghi nhận ([302]) Ngài theo Phật Sikhī đến cõi Phạm thiên, và theo lời dạy của Đức Phật, Ngài thuyết bài pháp về sự quyết tâm hành pháp, đi kèm với những thần thông.

Ngài xướng lên bài kệ bắt đầu bằng “Ārabhata, nikkhamatha, yuñjatha buddhasāsane” rất thường được trích dẫn.

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) nói rằng: “Ngài Abhibhū chọn chủ đề này,  vì Ngài biết rằng chủ đề ấy có thể được thính chúng, người và thiên nhân chấp nhận([303]).

Được nghe một vị sadi ở Pācīnapabbata tụng kinh Aruṇavatī Sutta, Trưởng lão Milakkhatissa của Tích Lan lắng tai chú ý đến các câu kệ và có cảm tưởng rằng kệ được thuyết để khuyến khích Tỳkhưu có nhiệt tâm như Ngài, Ngài cố gắng hành pháp và đắc quả Anahàm,  không bao lâu sau Ngài đắc Thánh quả Alahán([304]).

Kinh do Phật thuyết vào ngày trăng tròn tháng Jeṭṭhamāsa (tháng 6 âi, tính theo lịch VN)([305]).

Ngài Abhibhū chứng minh rằng chỉ bằng bài pháp như thuyết cho một nhóm Tỳkhưu nghe, Ngài có thể đứng trong cõi Phạm thiên làm cho cả ngàn thế giới đều nghe được tiếng nói của Ngài([306]).

Trong Aṅguttara Nikāya([307]), được biết Ānanda có hỏi Đức Phật “ thần lực của Abhibhū so với thần lực của Phật như thế nào?’. Đức Phật trả lời rằng Abhibhū chỉ là đệ tử, rồi Ngài mô tả thần lực bất khả tư nghì của Đấng Như Lai.

Theo kinh Aruṇavatī , Ngài Abhibhū là một Bàlamôn, nhưng trong Chú giải Buddhavaṃsa, Ngài là một Tử hoàng([308]).

Trong  Chú giải Paṭisambhidhāmagga([309]), chuyện của Ngài được xem như một điển hình của thần biến thông (vikubbana-iddhi), theo đó một người có thể biến mình để được thấy ở nhiều nơi trong một lúc.

Vào thời Đức Phật Sikhī, tiền thân Trưởng lão Adhonupphiy là một ẩn sĩ có thần lực, tu tập nơi núi Tuyết có cúng dường đến Ngài Abhibhū những cánh hương hoa, sau đó do quả nghiệp ẩn sĩ bị trăn nuốt chết([310]).

* Trưởng lão ni Ambapālī.

Là nàng đệ nhất kỹ nữ nơi kinh thành Vesāli.

Một viên quan giữ vườn Ngự Uyển của kinh thành Vesāli  hiếm muộn con, ông nhặt được một bé gái dưới gốc xoài, do vậy ông đăt tên bé gái là Ambapālī (nữ nhân giữ cây xoài) và đem về nuôi.

Cô bé lớn lên trở thành một quốc sắc thiên hương, khiến vương tôn công tử xa gần tranh nhau để chiếm nàng. Để tránh sự xung đột, họ đặt nàng làm kỹ nữ để mọi hàng vương giả có thể viếng thăm.

Được biết thù lao trả cho nàng mỗi đêm là 50 kahāpana, trong số khách quyền quý đến với nàng có cả vua Bimbisāra (Bình Sa).

Vua Bimbisāra có với nàng Ambapālī một người con trai là Trưởng lão Vimala Koṇdañña danh tiếng sau này([311]) và kinh thành Vesāli một thời rất thịnh vượng nhờ nàng.

Thấy vậy, vua Bimbisāra đào tạo một nàng kỹ nữ tuyệt sắc tên là Sīlāvatī([312]) ở kinh thành Rājagaha (Vương xá)([313]).

Về sau, nàng Ambapālī trở thành đệ tử trung kiên của Đức Phật, cúng dường đến Đức Phật và Tăng đoàn khu vườn xoài của mình cùng ngôi tự viện được kiến tạo ngay trong trong ấy.

Việc này xảy ra trong chuyến du hành sau cùng của Phật đến Vesāli, trước khi Ngài viên tịch.

Khi nghe Đức Phật đến Koṭigāma gần Vesāli, nàng cùng tùy tùng đi xe lộng lẫy đến đảnh  lễ  Đức Phật, Đức Thế Tôn cảnh tỉnh các vị Tỳkhưu nên giữ niệm, kẻo bị nhan sắc của nàng Ambapālī làm điên đảo tâm.

Sau khi nghe pháp xong nàng thỉnh Đức Phật và chư tăng thọ trai vào ngày hôm sau. Đức Phật im lặng nhận lời và nàng đã từ chối nhường buổi cúng dường vật thực này với các vương tử người Licchavi ở Vesāli([314]).

Sau khi cúng dường vật thực xong, nàng Ambapālī dâng vườn xoài của mình lên Phật và Tăng Đoàn.

Đức Phật nhận vật cúng dường của nàng và trú lại đây một thời gian trước khi đi Beluva([315]).

Khi về già, chính nhờ bài pháp của Trưởng lão Vimala Koṇḍañña, bà Ambapālī xuất gia, bà nỗ lực tu tập thiền quán bằng cách chiêm nghiệm luật vô thường xảy ra ngay trong thân thể lão suy của bà và chứng đắc Thánh quả Alahán([316]).

Bà có 10 kệ ngôn trong tập Kệ ngôn Trưởng lão ni (Therīgāthā) nói về mình.

Trong Theragāthā có hai câu kệ mà truyền thuyết nói là của Ānanda dùng để khuyên các Tỳkhưu bị Ambapālī làm cho tâm điên đảo. Không thấy nói kệ này được dùng trước hay sau khi bà gia nhập Tăng Đoàn([317]).

Tiền sự.

Vào thời Phật Sikhī tiền thân của bà đã xuất gia trong Ni đoàn của Đức Phật. Trong lúc còn là một nữ sadi, bà có tham dự đoàn Tỳkhưu ni đến lễ bái trước một đền thờ, thấy bãi nước miếng trên sân đền và không biết là của ai, bà mở lời mắng rằng: “Kỹ nữ nào đã nhổ nước miếng ra đây?”.

Thật ra đó là bãi nước miếng do một nữ trưởng lão Alahán đi trước khạc nhanh xuống sân đền, vì lời mắng mỏ này, bà bị đoạ làm kỹ nữ trong lần tái sinh kiếp chót của bà([318]).

Trong tập Apadāna (Ký sự) và cả trong bản Sớ giải Kệ ngôn Trưởng lão ni có cho nhiều chi tiết hơn về bà Ambapālī.

Bà là con của gia đình Khattiya trong thời Phật Phussa và từng làm nhiều điều thiện nên được sanh làm mỹ nhơn trong nhiều kiếp sau.

Vì lời phỉ báng Tỳkhưu ni nói trên , bà bị đoạ địa ngục và về sau bị đoạ làm kỹ nữ trong 10.000 kiếp.

Vào thời Phật Kassapa bà sống độc thân([319]).

*Trưởng lão Ajinadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Tiền thân Ngài vào thời Đức Phật Sikhī, có cúng dường đến Đức Phật miếng da cừu.

Năm kiếp trái đất trước, tiền thân của  Ngài là vua Chuyển luân Sudāyaka([320]).

*Trưởng lão Āyāgadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Sikhī, tiền thân Ngài có  đảnh lễ Bảo tháp thờ Xálợi Phật Sikhī với tâm tịnh tính hoan hỷ, ngoài ra còn cung cấp tiền cho nhóm thợ mộc xây dựng một phước xá (āyāga)([321]).

 Kết quả  hậu thân gia chủ ấy sinh về cõi Trời, có khả năng làm chư Thiên tùng phục mình và có thể làm mưa theo ý muốn([322]).

*Trưởng lão Āvopupphiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Sikhī tiền thân Ngài là một gia chủ, khi nghe Đức Thế Tôn giảng pháp, vị gia chủ hoan hỷ, tung những cách hoa lên không trung để cúng dường Đức Thế Tôn.

Vào 20 kiếp trái đất trước, hậu thân gia chủ là vị vua với vương hiệu là Sumedha([323]).

*Trưởng lão Nandaka.

Trong thời Đức Phật Gotama, Ngài sinh ra ở Campā (kinh đô xứ Aṅga), trong một gia tộc trung lưu, là em trai của Trưởng lão Bharata, được đặt tên là Nandaka. Nghe tin Ngài Soṇa Koḷivisa xuất gia, hai anh em Ngài suy nghĩ: “Thanh niên Soṇa Koḷivisa được nôi dưỡng tế nhị như vậy, huống hồ chi chúng ta”, cả hai đều xin xuất gia trong Tăng đoàn.

Ngài Bharata nhờ tinh cần nhanh chóng chứng đạt Alahán cùng các Thắng trí (abhiññā), còn Ngài Nandaka vì còn nhiều tư tưởng không trong sáng nên không thể nhiếp phục tâm được.

Với mong muốn giúp Ngài Nandaka giác ngộ, Ngài Bharata đến giảng pháp cho em. Khi ấy có đoàn xe buôn đi ngang qua, một con bò kéo xe đuối sức đã quỵ xuống do không thể kéo cỗ xe của nó vượt qua vũng bùn lầy lội.

Người trưởng đoàn thấy vậy bèn cho nó ăn cỏ, uống nước, con bò bình phục cố gắng đứng dậy và kéo cỗ xe vượt qua vũng bùn.

Ngài Bharata hướng sự chú tâm của Ngài Nandaka vào chi tiết này, trở thành đề mục thiền quán cùng với sự nỗ lực tinh cần, chẳng bao lâu Ngài Nandaka chứng Thánh quả Alahán.

Ngài Nandaka tuyên bố Thánh trí của mình trước mặt Ngài Bharata như sau.

173- Yathāpi bhaddo ājañño; khalitvā patitiṭṭhati.

Bhiyyo laddāna saṃvegaṃ; adīno vahate dhuraṃ.

“Như con vật hiền thiện; thuộc giống tốt, khéo luyện.

Sau khi ngã quỵ xuống; lại gượng đứng lên dậy.

Lấy được thêm sức mạnh; không bỏ([324]) kéo gánh nặng”.

174- Evaṃ dassanasampannaṃ; sammāsambuddhasāvakaṃ.

Ājānīyaṃ maṃ dhāretha; puttaṃ buddhassa orasa’’nti.

“Cũng vậy, hãy nhận con; đệ tử bậc Chánh giác.

Con đầy đủ chánh kiến; khéo tu luyện thuần thục.

Con thật, con chánh thống; của Đức Phật Chánh giác” (HT. TMC dịch)([325]).

*Tiền sự.

Vào thời Đức Phật  Sikhī, tiền thân Ngài Nandaka là tiều phu.

Một ngày nọ, người tiều phu nhìn thấy Đức Thế Tôn Sikhī đang đi kinh hành. Hoan hỷ với hình ảnh đó, người tiều phu rải cát cúng dường trên lối đi của Đức Phật([326]).

*Trưởng lão Asanatthavika.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Sikhī, tiền thân Ngài đi lạc trong rừng, đến đền thờ (uttama) Đức Phật Sikhī. Tưởng niệm đến các hạnh lành của Đức Phật, vị ấy thốt lời tán thán và đi vào đền đảnh lễ.

Vào 27 kiếp trái đất trước, hậu thân vị ấy làm vua 7 lần với vương hiệu Atulya([327]).

*Trưởng lão Usabha (1).

Ngài sinh ra trong một gia tộc trưởg giả ở xứ Kosala (Kiềutấtla).

Trong ngày Đại tự Kỳviên (Jetavanavihāra) được cúng dường đến Đức Phât và Tăng chúng. Ngài khởi tâm tịnh tín, xuất gia Sadi nơi Giáo pháp của Đức Phật, rồi vào rừng sống độc cư nơi chân núi.

Một hôm sau cơn mưa, Ngài ra khỏi động thất và thấy núi rừng đáng yêu, suy  nghĩ rằng: “Tuy vô tri, các cây và giây leo này vẫn tăng trưởng trọn vẹn nhờ có điều kiện thời tiết thuận lợi.  Còn ta, đã có duyên đầy đủ, sao không nhờ thiện tánh để tăng trưởng?”. Ngài lấy đó làm đề tài thiền quán, nỗ lực hành pháp chứng đạt Thánh quả Alahán. Hân hoan Ngài nói  lên kệ ngôn.

110- ‘‘Nagā nagaggesu susaṃvirūḷhā; udaggameghena navena sittā.

Vivekakāmassa araññasaññino; janeti bhiyyo usabhassa kalyata’’nti.

“Những cây ([328])được vươn; nhờ mây cao([329]) tưới mát.

Với mưa mới nhấm nhuần; được xanh tươi lớn mạnh.

Đối với Usabha; ưa thích sống viễn ly.

Ý thức được rừng núi; vị ấy khiến sinh khởi.

Rất nhiều điều tốt đẹp. (HT. TMC dịch)([330]).

Tiền sự.

Vào thời Phật Sikhī,  tiền thân Ngài là một thiên nhân (devaputta) từng dâng hoa đến Đức Phật. những cánh hoan kết thành vòng hoa treo lơ lửng bên trên Phật trong bảy ngày.

Vào mười kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua với vương hiệu là Jutindhara.

Ngài được xác định là Trưởng lão Mandāravapūjaka nói trong tập Apadāna([331]).

*Trưởng lão Usabha (2).

Thời Đức Phật Gotama còn tại tiền, Ngài sinh ra trong thành Kapilavatthu thuộc vương tử giòng Sākya (ThíchCa), được đặt tên là Usabha.

Khi Đức Thế Tôn đến viếng nhà Ngài, Ngài ngưỡng mộ thần lực cùng trí tuệ của ân đức của Đức Thế Tôn nên xin xuất gia trong Tăng đoàn.

Nhưng Ngài không lo thực hành Samôn hạnh chỉ thích giao du với nhiều người, ban ngày đi rong đến gặp người này, người nọ; ban đêm thì nằm ngủ.

Một đêm nọ, Ngài nằm mộng chiêm bao thấy mình đắp y đỏ thẫm, ngồi trên lưng voi vào thành khất thực; nơi đó, Ngài thấy dân chúng hợp quần, Ngài xuống voi và hổ thẹn.

Ăn năng về sự lười nhác của mình, Ngài lấy cơn mộng làm đề tài khích lệ sự  tinh tấn thực hành thiền quán và chứng đắc Thánh quả Alahán.

Ngài tuyên bố lên chánh trí của mình qua hai kệ ngôn.

197- Ambapallavasaṅkāsaṃ; aṃse katvāna cīvaraṃ.

Nisinno hatthigīvāyaṃ; gāmaṃ piṇḍāya pāvisiṃ.

“Vai đấp phủ tấm y; giống như màu bông xoài.

Ngồi trên lưng con voi; ta vào làng khất thực.

198- Hatthikkhandhato oruyha, saṃvegaṃ alabhiṃ tadā,

Sohaṃ ditto tadā santo, patto me āsavakkhayo’’ti.

“Từ lưng voi leo xuống; ta cảm nhận xúc động([332]).

Trước ta rất ngạo mạn. Nay ta thật lắng dịu.

Ta đã chứng đạt được; các ô nhiễm đoạn diệt (HT.TMC dịch)([333]).

Tiền sự.

   Vào thời Phật Sikhī tiền thân Ngài là một gia chủ cúng dường đến Đức Phật trái kosamba.

Ngài là Trưởng lão Kosamba-phaliya nói trong tập Apadāna([334]).

*Trưởng lão ni Somā.

Bà là ái nữ quan Tế sư của vua Bimbisāra (BìnhSa).được đặt tên là Somā.

Khi Đức Thế Tôn ngự đến kinh thành Rajagaha để tế độ vua Bimbisāra, rồi đến Hoàng cung thọ thực, bà trở thành tín nữ của Ngài. Sau đó bà xuất gia trong Ni đoàn, nỗ lực thực hành thiền quán chứng Thánh quả quả Alahán cùng với Nghĩa tín thọ, pháp tín thọ.

Một hôm, sau khi thọ thực xong bà đi vào rừng Andhana gần thành Sāavatthi thiền tịnh nơi gốc cây cổ thụ, Māra (ác ma) đến phá sự an tịnh của bà, tàn hình không cho bà thấy và nói kệ rằng:

60- Yaṃ taṃ isīhi pattabbaṃ; ṭhānaṃ durabhisambhavaṃ.

Na taṃ dvaṅgulapaññāya; sakkā pappotumitthiyā’’.

“Địa vị([335]) khó chứng đạt; chỉ Thánh nhân chứng đạt.

Trí nữ nhân hai ngón([336]); sao hy vọng chứng đạt”.

Bà phản đối bằng hai kệ ngôn sau.

61- Itthibhāvo no kiṃ kayirā; cittamhi susamāhite.

Ñāṇamhi vattamānamhi; sammā dhammaṃ vipassato.

62- Sabbattha vihatā nandī; tamokhandho padālito.

Evaṃ jānāhi pāpima; nihato tvamasi antakā’’ti.

“Nữ nhân chướng ngại gì?; khi tâm khéo thiền định.

Khi trí tuệ triển khai; chánh quán pháp vi diệu.

Ở tất cả mọi nơi; hỷ lạc được đoạn tận.

Khối tối tăm mù mịt; đã bị làm tan nát.

Hỡi này kẻ ác ma; ngươi hãy biết như vậy.

Ngươi chính là ác ma; ngươi đã  bị bại trận” (HT. TMC dịch)([337]).

*Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Sikhī, tiền thân bà Somā sinh ra trong một gia đình quyền quý và làm Hoàng hậu của Vua Aruṇavā (cha của Bồtát Sikhī).

Một hôm bà cúng dường đến Đức Phật Sikhī bông sen mà vua tặng bà. Do công hạnh này, trong nhiều kiếp sau bà có da màu bông sen và thơm ngát hương sen.

Tiền thân bà Somā làm thiên hậu 72 lần và là Chánh hậu của vua Chuyển Luân 63 lần.

Bà là Trưởng lão ni Uppalavaṇṇā nói trong Apadāna (Ký sự)([338]).

* Trưởng lão Surādha.

Ngài là em trai út của Trưởng lão Rādha.

Theo gương anh, Ngài xuất gia trong Tăng đoàn , tinh cần hành pháp và đắc Thánh quả Alahán.

Ngài nói lên hai kệ ngôn tuyên bố lên Thánh trí của mình như sau.

135- Khīṇā hi mayhaṃ jāti; vusitaṃ jinasāsanaṃ.

Pahīno jālasaṅkhāto; bhavanetti samūhatā.

“Sinh của ta đã tận; Chiến thắng dạy, làm xong.

Lưới lạnh được đoạn diệt; gốc sinh hữu nhổ lên”.

136- Yassatthāya pabbajito; agārasmānagāriyaṃ.

So me attho anuppatto; sabbasaṃyojanakkhayo’’ti.

“Mục đích hạnh xuất gia; bỏ nhà sống không nhà.

Đích ấy đã đạt được; mọi kiết sử, diệt xong”. (HT.TMC dịch)([339]).

Tiền sự.

Vào thời Đức Phật Sikhī, tiền thân Ngài có cúng dường đến Đức Phật trái chanh (mātuluṅga)([340]).

Ngài có thể là Trưởng lão Mātuluṅgaphaladāyaka nói trong Apadāna([341]).

*Trưởng lão Sunāga.

Trong thời Đức Phật Gotama, Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn nơi làng Nālala, là bạn của Ngài Sāriputta.

Nghe được Pháp thoại của Đức Thế Tôn, Ngài hoan hỷ xuất gia trong Tăng đoàn, nỗ lực hành pháp chứng đắc Thánh quả Alahán. Ngài nói lên kệ ngôn tuyên bố sự thành đạt của mình như sau.

85- Cittanimittassa kovido; pavivekarasaṃ vijāniya.

Jhāyaṃ nipako patissato; adhigaccheyya sukhaṃ nirāmisa’’nti.

 “Thiện xảo tướng của tâm; biết vị ngọt viễn ly.

Hành thiền, niệm thận trọng; chứng lạc không thế gian” (HT. TMC dịch)([342]).

Tiền sự.

   Vào thời Đức Phật Sikhī, tiền thân Ngài là một Bàlamôn thông thạo Veda (Vệđà), sống trong rừng gần núi Vasabha và có ba ngàn học trò.

Một hôm, Bàlamôn nhận ra Đức Phật với 32 đại nhân tướng, tâm Bàlamôn vô cùng hoan hỷ, mệnh chung được sinh về thiên giới.

Vào 27 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua với vương hiệu Siridhara([343]).

Ngài là Trưởng lão Rahosaññaka nói trong Apadāna([344]).

Dứt lịch sử Đức Phật Sikhī.

 

21- Đức Phật Vessabhū.

Sau khi Đức Thế Tôn Sikhī viên tịch, tuổi thọ nhân lọai giảm dần đến khi  còn 10 năm, rồi tuổi thọ nhân loại tăng dần đến vô lượng năm. Rồi lại giảm xuống cho đến khi tuổi thọ nhân loại là 60 ngàn năm.

Bấy giờ Bồtát đã viên mãn 30 pháp Balamật, Ngài đang tái sinh về cõi Tusita (Đẩusuất). Theo lời thỉnh cầu của chư thiên và Phạm thiên 10 ngàn thế giới, Bồtát tái sinh vào thai bào của bà Hoàng Yasavatī là bậc có giới hạnh (sīlavatī), cha Ngài là Đức vua Supatita cai trị kinh thành Anupama([345]).

Sau 10 tháng trú trong thai bào, Ngài sinh ra nơi hoa viên Anoma([346]).

Khi vừa chào đời Bồtát nói lên kệ ngôn: “Aggo’haṃ’asmi lokassa …”âm giọng hùng dũng như tiếng rống bò chúa Vasabha([347]) chiến thắng (vasabhanādahetuttā)[348], do vậy Ngài được đặt tên là Vessabhū.

Bồtát sống đời cư sĩ sáu ngàn năm trong ba cung điện Ruci, Suruci và Vaḍḍhana([349]), có 30 ngàn cung nữ xinh đẹp điêu luyện trong nghệ thuật ca múa đàn … hầu hạ. Vợ Ngài là công nương Sucittā.

Vào ngày bà Hoàng Sucittā vừa sinh Thái tử  Suppabuddha, cũng là ngày Bồtát thấy được hình ảnh vị Samôn và Ngài quyết định xuất gia.

Bồtát ra đi xuất gia bằng chiếc kiệu vàng, có 37,000 người theo gương Ngài xuất gia để phục vụ Ngài.

Bồtát Vessabhū khổ hạnh 6 tháng, rồi Ngài thọ thực lại, từ bỏ hội chúng tùy tùng đi nơi khác.

Vào ngày trăng tròn tháng Vesākha, Ngài nhận bát cơm sữa do nàng Sirivaḍḍhanā con gái một trương giả ở làng Sicittani cúng dường.

Vào buổi chiều, Bồtát đi đến cội cây Sāla, trên đường đi Ngài nhận 8 bó cỏ do rắn chúa Narinda hóa thân thành người cúng dường.

Cây Sāla này cao, có tàn nhánh xòe rộng như cây Puṇḍarīka của Đức Thế Tôn Sikhī, toàn thân cây Sāla trổ đầy hoa.

Sau khi đi ba vòngquanh cội Sāla, Bồtát trải 8 bó cỏ ở hướng Đông bắc cội Sāla, một Bảo tọa chiến thắng rộng khoảng 4o hắc tay (ratana) hiện khởi cho Ngài.

Trên Bảo tọa chiến thắng Ngài thắng phục năm loại ma, khi mặt trời vừa ló dạng, Ngài chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

*Ba thắng hội của Đức Phật Vessabhū.

Thắng hội I.

Sau 7 tuần lễ ngự ở 7 nơi quanh cội Đại giác, Đức hế Tôn nhận lời thỉnh cầu của Đại phạm thiên, khai mở Pháp bất tử.

Ngài đưa Phật trí quán xét thế gian thấy được duyên lành hai vị tử hoàng Soṇa và Uttara là em khác mẹ với Ngài (đây là hai vị Thượng thủ thinh văn tương lai cả Ngài). Đức Thế Tôn Vessabhū theo đường hư không đến vườn Ngự Uyển Aruna gần kinh thành Anupama, Đức Thế Tôn bảo người giữ vườn thông báo cho hai vị tử hoàng biết có Đức Thế Tôn đang ngự trú trong vườn Ngự Uyển.

Hai vị Tử hoàng cùng tùy tùng đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại Chuyển  pháp luân.

Dứt Pháp thoại có  800 ngàn triệu nhân thiên chứng đắc Thánh quả.

Đây là Thắng hội I của Ngài. Như có kinh văn sau.

3- Dhammacakkaṃ pavattente; vessabhūlokanāyake.

Asītikoṭisahassānaṃ; paṭhamābhisamayo ahu.

“Bánh xe pháp lăn đi; do Vessabhū vị lãnh đạo thế gian.

Có 80 ngàn mười triệu vị; là Thắng hội đầu tiên của Ngài”([350]).

Thắng hội II.

Khi Đức Thế Tôn Vessabhū du hành các nơi để tế độ chúng sinh, nơi một địa điểm Ngài thuyết lên Pháp thoại tế độ 700 ngàn triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội II của Ngài. Có Kinh văn sau.

4- Pakkante cārikaṃ raṭṭhe; lokajeṭṭhe narāsabhe.

Sattatikoṭisahassānaṃ; dutiyābhisamayo ahu.

“Du hành khắp quốc độ; vị Tối thượng, vô song (của) thế gian.

Có 70 ngàn mười triệu; là Thắng hội II của Ngài” (sđd).

Thắng hội III.

Lại dịp khác, cũng tại nơi kinh thành Anupama, Đức Phật Vessabhū phá tan mạng lưới tà kiến rối rắm của các tôn chủ dị giáo, kéo ngọn cờ phi pháp của họ xuống, trương cao ngọn cờ Chánh pháp; Đức Thế Tôn thể hiện Song thông lực trước sự chứng kiến của vô số nhân thiên. Với pháp thoại , Đức Thế Tôn Vessbhū tế độ 600 triệu nhân thiên chứng Thánh quả.

Đây là Thắng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

6- Mahāacchariyaṃ disvā; abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ.

Devā ceva manussā ca; bujjhare saṭṭhikoṭiyo.

“Đã thấy những điều kỳ diệu vĩ đại; phi thường khiến lông dựng đứng.

Cả chư thiên và người; có 60 mười triệu giác ngộ” (sđd).

*Ba Tăng hội của Đức Phật Vipassī.

Tăng hội I.

Vào ngày trăng tròn tháng Magha, giữa hội chúng Tăng 80 ngàn vị Alahán có hai vị  Thượng thủ Soṇa và Uttra cùng hội chúng hai vị ấy. Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát (Ovādapaṭimokha).

Đây là Tăng hội I của Ngài.

Tăng hội II.

Nhóm Samôn 37 ngàn vị , tùy tùng của Bồtát Vessabhū trước đây, khi Bồtát lìa bỏ họ, các vị ấy đi du phương.

Khi nghe tin Đức Thế Tôn vận chuyển  bánh xe pháp cho chạy đi, nhóm Samôn này đi đến yết kiến Đức Thế Tôn nơi thị trấn Soreyya.

Đức Thế Tôn với pháp thoại tế độ tất cả chứng Thánh quả Alahán và cho tất cả xuất gia theo cách “etha bhikkhave …”.

Giữa hội chúng Tăng có bốn đặc điểm này là: Là đêm trăng tròn, không mời tự tụ hội đến, là bậc Alahán tối thiểu là Lục thông và được xuất gia theo cách “ethabhikkhave …”. Đức Thế Tôn Vessabhū ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội II của Ngài. Có kinh văn sau.

8- Asītibhikkhusahassānaṃ; paṭhamo āsi samāgamo.

Sattatibhikkhusahassānaṃ; dutiyo āsi samāgamo.

“Có 80 ngàn vị Tỳkhưu; là cuộc tụ hội đầu tiên.

Có 37 ngàn vị Tỳkhưu; là cuộc tụ hội lần thứ hai” (sđd).

Tăng hội III.

Khi thấy duyên lành đạo quả của Thái tử Upasanta (Phó vương)([351]) đang trị vì kinh thành Nārivāhana, Đức Thế Tôn du hành đến kinh thành Nārivāhana.

Nghe Đức Thế Tôn ngự đến kinh thành, Thái tử Upasanta cùng tùy tùng ra khỏi Hoàng thành để tiếp nghinh Đức Phật, thỉnh Đức Phật cùng các Tỳkhưu đến Hoàng cung để cúng dường.

Sau buổi đại thí, Đức Thế Tôn phúc chúc bằng pháp thoại. Dứt pháp thoại Thái tử Upasanta cùng tùy tùn là 60 ngàn vị chứng đắc Thánh quả và được xuất gia theo cách “etha bhikkhave …”.

Khi tất cả cùng chứng Thánh quả Alahán, cùng nhau hội tụ để thực hành lễ Bốtát (uposatha), giữa hội chúng Tăng này, Đức Thế Tôn ban lời Giáo giới giải thoát.

Đây là Tăng hội III của Ngài. Có Kinh văn sau.

9- Saṭṭhibhikkhusahassānaṃ; tatiyo āsi samāgamo.

Jarādibhayabhītānaṃ; orasānaṃ mahesino.

“Có 60 ngàn vị Tỳkhưu; là cuộc tụ hội lần III.

Đã vượt khỏi sợ hãi như già; là hội chúng của bậc Đại ẩn sĩ” (sđd).

*Tiền thân Đức Phật Gotama.

Vào thời ấy, tiền thân Đức Phật Gotama là vị vua, vì Ngài có diện mạo rất xinh đẹp khả ái và thông minh nên có tên gọi là Sudassana, cai trị kinh thành Sarabhavatī.

Đức Thế Tôn Vessabhū du hành đến kinh thành Sarabhavatī, Đức vua Sudassana cùng tùy tùng đi đến yết kiến Đức Thế Tôn.

Sau khi nghe Giáo pháp của Đấng Giác ngộ, tâm Đức vua khởi phát niềm tịnh tín nơi Giáo pháp, Đức vua chấp hai tay như búp sen không tỳ vết tỏa sáng, đưa qua khỏi đầu đảnh lễ Đấng Đại Hùng.

Đức vua Sudassana thỉnh Đức Phật và Tăng chúng đến Hoàng cung để cúng dường 7 ngày liên tục. Vào ngày thứ 7, vua Sudassana cúng dường đến Đức Thế Tôn bộ Tam y đắc giá nhất, ngoài ra mỗi vị Tỳkhưu là một đại y có giá trị là 100 ngàn tiền vàng. Đức vua còn cúng dường một trú xứ đến Đức Phật và Tăng chúng và kiến tạo một hương phòng đặc biệt dành cho Đức Phật.

Giữa đại chúng, Đức Thế Tôn Vessabhū tiên tri rằng: “Sau 31 kiếp trái đất, vua Sudassana sẽ trở thành vị Chánh giác có tộc họ là Gotama, tên là Siddhattha”.

*Những chi tiết đặc biệt về Đức PhậtVessabhū.

Đức Phật Vessabhū cao 60 hắc tay, như cột trụ bằng vàng tỏa sáng, hào quang từ thân của Ngài rực rỡ giống như ánh lửa chiếu sáng trên đỉnh núi vào ban đêm.

– Hai vị Thượng thủ thinh văn của Đức Phật Vessabhū là Trưởng lão Soṇa và Trưởng lão Uttara, Thị giả  là Trưởng lão Upasanta .

– Hai nữ Thinh văn tối thắng của Đức Phật Vessabhū là Trưởng lão ni Rāmā và Trưởng lão ni Samālā.

– Hai cận sự nam tối thắng của Đức Phật Vessabhū là Trưởng giả Sottika và Trưởng giả Rambha.

– Hai cận sự nữ tối thắng của Đức Phật Vessabhū là bà Gotamī và bà Sirimā.

Tuổi thọ của Đức Thế Tôn Vessabhū là 60 ngàn năm, Đức Thế Tôn Vessabhū viên tịch nơi vườn Khemā gần kinh thành Usabhavatī, Xálợi của Ngài được phân tán khắp cõi nhân thiên.

Đức Thế Tôn Vessabhū sáu năm mới tụng Giới bổn (Pāṭimokkha) một lần([352]).

Phụ lục.

*Trưởng lão Abhibūta.

Trong thời Đức Thế Tôn Gotama còn tại tiền, Ngài sinh ra trong một gia tộc Bàlamôn trưởng giả nơi thành phố Veṭṭhapura (có nơi viết là Veṭhipura), được đặt tên là Abhibhūta. Khi cha mất, Ngài thừa hưởng đại tài sản.

 Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu du hành đến thành phố Veṭṭhapura. Nghe Đức Thế Tôn ngự đến thành phố, Ngài Abhibhūtathỉnh Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu đến tư gia của mình để cúng dường vật thực. Sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn phúc chúc bằng thời pháp thoại.

Được nghe Giáo pháp, Ngài Abhibhuta hoan hỷ xin được xuất gia trong Tăng đoàn, Ngài tinh cần hành pháp chứng đạt Thánh quả Alahán.

Trong khi thọ hưởng hương vị giải thoát, thân quyến cùng những bạn hữ đi đến yết kiến Ngài, than van với Ngài rằng: “Vì sao Ngài lìa bỏ chúng tôi? Vì sao Ngài không ở lại lãnh đạo chúng tôi?”.

Ngài trả lời họ bằng ba kệ ngôn sau.

255- Suṇātha ñātayo sabbe; yāvantettha samāgatā.

Dhammaṃ vo desayissāmi; dukkhā jāti punappunaṃ.

“Hãy nghe, các bà con; những ai đã đến đây.

Ta thuyết pháp cho các ngươi; tái sinh là đau khổ”.

256 – Ārambhatha nikkamatha; yuñjatha buddhasāsane.

Dhunātha maccuno senaṃ; naḷāgāraṃva kuñjaro.

“Hãy tinh cần ra đi; chú tâm lời Phật dạy.

Đánh bại quân lực ma; như voi, nhà cỏ lau”.

257- Yo imasmiṃ dhammavinaye; appamatto vihassati.

Pahāya jātisaṃsāraṃ; dukkhassantaṃ karissatī’’ti.

 “Ai trong pháp luật này, sẽ sống không phóng dật.

Từ bỏ dòng tái sinh; sẽ chấm dứt khổ đau” (HT. TMC dịch)([353]).

Kệ ngôn thứ hai trong tập Tương ưng kinh được xem là của Ngài Abhibhū([354])  Đại đệ tử của Phật Sikhī.

Trong Milindapañha (Milinda hỏi), quy câu kệ thứ hai là của Đức Phật([355]). Trong Divyāvadāna câu kệ thứ hai cũng được quy cho Đức Phật([356]), nhưng ở nơi khác trong cùng sách ấy, câu kệ này được biết do chư Thiên tử xướng([357]).

Trong Mahāparinibbāna Sutta kệ ngôn thứ ba cũng được quy cho Đức Phật([358]),

Tiền sự.

Trong một tiền kiếp vào thời Phật Vessabhū, tiền thân Ngài Abhibhūta là gia chủ và đã có đức tin nơi Tam bảo, giachủ này nương nhờ Tam Bảo  do sự giới thiệu của bạn hữu.

Khi Đức Thế Tônviên tịch, đại chúng tụ họp để xin Xálợi và tền thân Ngài Abhibhūta là người dập tắt lửa bằng nước hoa, nên có cơ hội trước tiên để thỉnh Xálợi nào vị ấy muốn([359]).

Ngài được xem là Trưởng lão Citakanibbāpaka trong tập Apadāna([360]).

*Trưởng lão Kaṇikāracchadaniya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời Đức Phật Vessabhū, tiền thân Ngài là một gia chủ, có  lần thấy Đức Thế Tôn nghỉ trưa trong rừng, gia chủ này hoan hỷ với oai nghi của Đức Phật nên che nắng cho Đức Phật bằng vòng hoa kaṇikara.

Vào 20 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua tám lần dưới vương hiệu Soṇṇābha([361]).

*Trưởng lão Kesarapupphiya.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời  Đức Phật Vessabhū, tiền thân Ngài là một chú thuật gia ở Himayā, có cúng dường đến Đức Phật ba bông Kesara([362]).

*Trưởng lão Saṅghupaṭṭhāka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào thời  Đức Phật Vessabhū, tiền thân Ngài là người phục dịch rất siêng năng trong tự viện của  Đức Phật.

Vào bảy kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài làm vua bảy lần dưới vương hiệu Samotthata([363]).

*Trưởng lão Bhisadāyaka.

Là vị Thánh Alahán thời Đức Phật Gotama.

Vào 31 kiếp trái đất trước, tiền thân Ngài là voi, có cúng dường đến Đức Phật Vessabhū củ sen.

Vào 13 kiếp đất trước tiền thân Ngài làm vua 16 lần dưới vương hiệu Samodhāna([364]).

Soạn xong ngày  17-8-2012.

(Nhằm ngày 01-7-năm Nhâm thìn)

( Xin xem tiếp tập 11).


([1])– Đại trưởng lão Bửu Chơn (d). Chánh giác tông. Các vị Phật thời quá khứ.

([2])–  Bốn hiện tượng: Già, bịnh, chết và vị Samôn, mỗi hiện tượng cách nhau một thời gian, tùy theo tuổi thọ của vị Chánh giác. Như Bồtát Vipassī mỗi hiện tượng cách nhau vài ngàn năm; cònBồtát Gotama mỗi hiện tượng cách nhau bốn tháng.

([3])– BuA. 68.

([4])– Gọi là Thắng hội (abhisamaya), nghĩa là: “Thời pháp thoại của Đức Thế Tôn mang đến đạo quả cho chúng sinh nhiều nhất”. Trong đời một vị Chánh giác có ba lần như thế mà thôi.

([5])– Bu. ii. 8-9. Dīpaṅkarabuddhavaṃsa.

 ([6])– Xem Dức Phật và 45 năm Hoằng pháp  độ sinh (tập 2), Ở đây xin nhắc lại:

Được gọi là Tăng hội (hay Tăng đoàn) phải hội đủ bốn điều:

– Các vị Tỳkhưu không mời mà tự đi đến.

– Các vị Tỳkhưu ấy phải xuất gia theo cách : “Ehi bhikkhu hay Etha bhikkhave”.

– Các vị ấy là Alahán từ Lục thông trở lên.

– Phải là đêm trăng tròn (đêm 15 âl),

 

([7])– Bu.ii. 31. Dīpaṅkaravaṃso.

([8])– Bu. ii. 207 ; BuA. 104 ; JA. i. 2.  Xem thêm Mtu. i. 193 . Mhv. i. 5; Dpv. iii. 31; DhpA. i. 69 mà chi tiết có nhiều khác biệt với các chi tiết nêu trên.

([9])– Ap.i, 429.

([10])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 1).

([11])– Bu. iii. 1.Koṇḍaññabuddhavaṃsa.

([12])– Tên gọi khác của núi chúa Sineru (Tudi).

([13])– Bu.iii. 3-4. Koṇḍaññabuddhavaṃsa.

([14])– BuA. 110.

([15])– Bu.iii. 8. Koṇḍaññabuddhavaṃsa.

([16])– Ap. i. 236.

([17])– Ap. ii. 514.

([18])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 1)..

([19])-BuA. 116.

([20])– JA. iii. 53. Sasajātaka (Chuyện con thỏ hiền trí).

([21])– Bu.iv. 4. Maṅgalabuddhavaṃsa.

([22]). Bản khác ghi là: Tadākoṭisahassānaṃ.

([23])– Bản Sớ giải Lịch sử  chư Phật tiếng Miến (BuAB)  ghi là “ một ngàn”.

([24])– Bu. iv. 8-9. Maṅgalabuddhavam.sa.

([25])– Bu. iv. 11; BuA. 122.

([26])– BuAB. Ghi là vườn hoa Uttara.Vườn này có tên là Uttara vì cây trong vườn ra hoa và kết trái nhiều hơn các cây nơi vườn khác.

([27])– Bu.iv. 32. Maṅgalabuddhavam.sa.

([28])– BuA. 125, gọi ba cunng điện này  là Nārivaḍḍhana, Somavaḍḍhana và Idddhivaḍḍhana.

([29])– Bu.v. 7. Sumanabuddhavaṃsa.

[30]( 1)– Chỉ cho thiền Diệt thọ tưởng (nirodhasamāpatti) – Ns.

([31])– Bu.v. 11- 4. Sumanabuddhavaṃsa.

([32])– BuA. 128.

([33])-Bu.v. 29. Sumanabuddhavaṃsa.

([34])– Bu. vi.3. Revatabudhdavaṃsa.

([35])– Bu. vii. 41. Revatabuddhavaṃsa; BuA. 131.

([36])– Sớ giải lịch sử chư Phật, bản tiếng Miến (BuAB) ghi là Manilā

([37])– Bu.viii.18. Sobhitabuddhavaṃsa.

([38])– Bu.vii. 4. Sobhitabuddhavaṃsa.

([39])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 5).

([40])– Thag. v. 179; ThagA. i. 304.

([41])– Ap.ii, 416.

([42])– Bản tiếng Miên ghi là: Sumanda.

([43])– BuA. Ghi là Sirivaḍḍha.

([44])– Bu. viii.4. Anomadassībuddhavaṃsa.

([45])– AA. i. 169.

([46])– Thag.i. 94. Mettajittheragāthā.

([47])– ThagA.i, 194.

([48])– Ap.i.173.

([49])– Ap.i, 116-7.

([50]) – Ap. i. 76.

([51])– Thaga. ii. 175-6. Bharatatheragāthā.

([52])– ThagA. i.300.

([53])– Nhưng trong JA.i, 36 gọi là Paduma.

([54])– Bu. ix, ghi là Nandā, Suyasā, Uttarā. Be ghi là: Nandā, Vasubhā, Yasuttarā; BuAB. Ghi là: Nanduttarā, Vasuttarā, Yasuttarā.

([55])– Bu. ix.4. Padumabuddhavaṃsa.

([56])– BuAB. Ghi là Subhāvitatta.

([57])– Thag .ii. 213-4. Anūpamatheragāthā.

([58])– Ap.i. 287.

([59])– Thaga. i. 334-6.

([60])– Ap. i. 199.

([61])– BuA gọi ba cung điện này với tên là Vijita, Vijitāvī và Jitābhirāma.

([62])– BuAB. Ghi là Vijitasenā.

([63])– Bu. x. 6. Nāradabuddhavaṃsa

([64])– Chỉ cho Song thông lực.

([65])– Bản của Tích Lan là Jitamitta.

([66])– Ap .i. 178 .

([67])– ThagA. i. 247.

([68])– Trong SA.iii, 89 và AA.i, 287 ghi là Sumedhā.

([69])– BuAB; SA.i, 89; AA.1, 287 ghi là Nanda. DhpA.i, 417 ghi là Sunanda.

([70])– BuAB . Ghi là Uttaradevī.

([71])– SnA.i, 341 ghi là Uparevata.

([72])– BuAB. Ghi là Rucānandā

([73])– BuAB. Ghi là 12 hắc tay.

([74])– SnA.

([75])– Bu. xii. 3. Padumuttarabuddhavaṃsa.

([76])– BuAB. Ghi là Jaṭila.

([77])– SA.ii, 90 và ThagA.i, 115. Ghi là Revata.

([78])– Ap. i. 335.

([79])– Ap.i, 337.

([80])– ThagA. i. 127.

([81])-Thag. v. 55.

([82])– Ap. i. 142.

([83])– Ap. i. 193-4.

([84])– Ap. i. 275.

([85])–  Ap. i. 272-3.

([86])– Ap. ii. 437.

([87])– ThagA. i. 57.

([88])– ThagA. i. 249.

([89])–  Ap. ii. 362.

([90])-M .ii. 157.

([91])– MA. ii. 786.

([92])– Ap. ii. 436.

([93])– Sn.v. 1007.

([94])– Sṇv. 1069-76.

([95])– Ap. ii, 345.

([96])– Aḷāhana.

([97])– Thig. 52-53. Ubbirītherīgāthā.

([98])– ThigA. 53.

([99])– Ap. i. 194.

([100])– Ap. i. 189.

([101])– Ap. ii. 379.

([102])– Ap. i. 276.

([103])– Ap. ii. 381.

([104])– Ap. i. 106.

([105])–  Ap. i. 180.

([106])– ThagA. i. 211

([107])– Thag. v. 82. Kassapatheragāthā.

([108])– ThagA. i. 177.

([109])– Ap. i. 155.

([110])– Thag. v. 56.

([111])-ThagA. i. 129.

([112])– Ap. i. 142.

([113])– Thag.v. 57.

([114])– ThagA. i. 130.

([115])– Ap. i. 143.

([116])– Thag. v. 59.

([117])– ThagA. i. 134.

([118])– Ap. i. 145.

([119])– ThagA. i. 198.

([120])– Thag. v.  96.

([121])– Ap. i . 172,

([122])– Thag. v. 104.

([123])– ThagA. i. 209.

([124])– Ap.i. 181.

([125])– Thag. vss. 261-3. Hāritatheragāthā.

([126])– ThagA. i. 376.

([127])–  Ap. ii. 406.

([128])– Ap. i. 105.

([129])– Sn. p. 204.

([130])– Ap.ii. 344.

([131])– Ap. ii. 395.

([132])– ThagA. i. 415.

([133])- Ap. i. 405.

([134])– Ap. ii. 404.

([135])– Ap. i. 124.

([136])– Thag. 159-160. Sirimattheragāthā.

([137])– ThagA. i. 279.

([138])– Ap. ii. 426.

([139])– Ap .i. 277.

([140])– Thag. 107. Dhammasavattheragāthā.

([141])– ThagA.  i. 214.

([142])– Ap.i. 179.

([143])– Ap.i . 103.

([144])– Ap. i. 104.

([145])– Ap.i . 97.

([146])– Ap.i . 172.

([147])– Ap.i. 173,

([148])– Ap. i. 107 .

([149])– Ap. i. 98.

([150])– Ap. ii. 385.

([151])– Thag. vs. 75

([152])– ThagA. i. 167.

([153])– Ap. i. 160.

([154])– Thag. vs.  79.

([155])– ThagA. i. 173.

([156])–  Ap. i. 163.

([157])– BuAB ghi là Sucandana; BuAC ghi là Sucandanaka.

([158])– BuAC ghi là Koñca.

([159])– BuAB ghi là Vaḍḍhana.

([160])– Bu. xii, 21 ghi là Nimba.

([161])– Bu.xii. 4. Sumedhabuddhavaṃsa.

([162])– DhpA. i. 426-7.

([163])– VvA. 318 .

([164])– Thag. v. 98; ThagA. i. 201-2.

([165])– Ap.i. 174.

([166])– Thag. v. 99.

([167])– ThagA. i. 202-3.

([168])– Ap. i. 175.

([169])– Ap. ii. 423.

([170])– ThagA. i. 293.

([171])– Ap. i. 97.

([172])– M. i. 437.

([173])–  MA. ii. 648.

([174])– Ap. ii. 365 .

([175])–  Ap. i. 325.

([176])– ThagA. i. 228.

([177])– Bu. xiii. 4. Sujātabuddhavaṃsa.

([178])– Tidiva thường là tên dùng chỉ cõi Ba mươi ba.

([179])– BuA. Ghi là Sunimmala

([180])– Bản Buddhavaṃsa Ti1ch Lan (Bu.Be) ghi là Giriguhā.

([181])– BuA. Ghi là Kañcana

([182])– Bu. xiv. 3. Piyadassībuddhavaṃsa.

([183])– Thag. 21. Nigrodhatheragāthā.

([184])–   ThagA. i. 74.

([185])– Ap. ii. 431; nhưng các kệ của ông trong Apadāna còn được nói là của Trưởng lão Tissa (ThigA. i. 273).

([186])– Ap. i. 326.

([187])– Ap. i. 252.

([188])– Ap.i. 212.

([189])– Sn. vs. 1006, 1084-7.

([190])– Ap.ii. 352.

([191])–  Ap. i. 176.

([192])– ThagA. i. 222 .

([193])– Bu. xv. 16. Atthadassībuddhavaṃsa. Ghi là Sena.

([194])– Tiếng Simhale gọi là cây Sapu. Là loại cây cổ thụ rất cao, hoa có màu vàng và rất thơm. Cây chỉ mọc trong vùng nhiệt đới và có họ với cây quảjak. Tại Sri-lanka, cây chủ yếu được trồng ở vùng Kandy. Gỗ của cây được dùng đóng những vật dụng trong nhànhư bàn, ghế, tủ …sau khi được ngâm dưới bùn khoảng 1 tháng và được chế biến. Nhựa cây có màu trắng dùng để đốt đèn.

([195])– Bu. xv. 3. Atthadassībuddhavaṃsa.

([196])– Ap. i. 213.

([197])– Ap. ii. 367 .

([198])– Thag. v. 68. Ekudāniyatheragāthā.

([199])– Dhp. Kệ nôn 259; DhA, iii. 384.

([200])– Vin. iv. 54.

([201])– ThagA.i. 153.

([202])– Ap.i. 153,

([203])– Ap. i. 186 .

([204])– Thag. vs. 87. Paviṭṭhattheragāthā.

([205])– ThagA.i. 185.

([206])– Ap.i. 168.

([207])– Ap. i. 99.

([208])– Thag. 83. Sīhattheragāthā.

([209])– Ap. i. 165.

([210])– Ap.i. 221.

([211])– Ap. ii. 428.

([212])– Ap.i. 183.

([213])– Thag. vs. 203 – 204.

([214])-Ap. i. 298. Và được lập lại trong Ap.ii. 410.

([215])– ThagA. i. 355.

([216])– Ap. i. 116.

([217])– Ap. i. 115.

([218])– Thag.43. Sumaṅgalatheragāthā.

([219])– Có sách ghi là vào thời Đức Phật Siddhattha.

([220])–  ThagA. i. 111 ; Ap. i. 147 .

([221])– Trong Bản văn tr. 220 -221 gọi là cây Bimbijāla; trong Bu.19 gọi là cây Amaranth màu đỏ. Trong JA.v, 155; JA. i, 39. Từ  Rattakuravakara được xem như đồng nghĩa với Bimbijā. Trong ApA. 43.Cây Kuravaka màu đỏ cũng được gọi là cây Bimbijāla.

([222])– Bu, xvi. 2. Dhammadassībuddhavaṃsa.

([223])– Thag. 91. Paripuṇṇakatheragāthā.

([224])– ThagA. i. 190.

([225])– Ap. i. 171.

([226])– Bu.xvii. 14. Ghi là Kokamudā.

([227])– Bu.xvii.15. Ghi là Sumanā.

([228])– Bu. xvii. 3. Siddhatthabuddhavaṃsa.

([229])– BuAC ghi là Sambahula; BuAB  gọi là Sambala và giải thích: “Từ Sambahula” là cách giải thích từ Sambala. Trong Bu. xvii. 18 ghi là Samphala.

([230])– Ap.i. 152.

([231])– Thag. 169-170. Vitasokatheragāthā; ThagA.i. 295.

([232])– Ap.ii. 420.

([233])– Ap.ii. 401.

([234])– Ap.i. 133.

([235])– Ap.i. 208.

([236])– Ap.i. 230.

([237])– Xem Brethren, p. 66. n. 1.

([238])– ThagA. i. 147.

([239])– ThagA.i. 149.

([240])– Ukkhepa.

([241])– Saṅkalitaṃ

([242])– Thag. 69. Ukkhepakaṭatheragāthā.

([243])–  Ap.i. 56 – 57.

([244])– A.ii. 24.

([245])–  Thag. 161-2. Uttaratheragāthā; ThagA. i. 283.

([246])– Ap. ii. 425.

([247])– A. iv. 162.

([248])– Thag. 30. Uttiya theragāthā, ThagA. i. 89 .

([249])– Ap. i. 79-80.

([250])– A. v. 22.

([251])– A. v. 193.

([252])– BuAB. Ghi là Jayasandha.

([253]) Bu xviii.29, cũng như bản BuAB. Bản BuAC ghi là Guhasela..

([254])– Bản BuAC ghi là Nārisa hay Narīsa. Bản BuAC ghi là Nārisa.

([255])– Bu. xviii. 4. Tissabuddhavaṃsa.

([256])– BuAC ghi là Samattha.

([257])– Samito.

([258])– Yatatto.

([259])– Thag. 10. Puṇṇamāsatheragāathā.

([260])–   ThagA. i. 297.

([261])– Ap. ii. 418.

([262])– Ap.i. 193.

([263])– Ap.i. 119.

([264])– Thag. 106. Suhemantatheragāthā.

([265])– ThagA. i. 212.

([266])–  Ap. i. 180.

([267])– Ap.i. 223.

([268])– BuAC. Ghi là 6.000 năm, Bu và BuAB thống nhất là 9.000 năm, vì so sánh với tuổi thọ của Đức Phật Phussa.

([269])– BuBC. Ghi là Garuḷapakkha; BuAB ghi là Garuḷapekkha

([270])– BuAC. Ghi là Suvaṇṇahārā.

([271])– Đoạn Kinh văn này khá tối nghĩa:

*Đó là ngày chòm sao Phussa chiếu tỏ rạng.

*Đó là sinh nhật của Bồtát Phussa.

([272])-BuA. xix. 3. Phussabuddhavaṃsa.

([273])– BuAB; BuAC. Ghi là Sena.

([274])– Ap.i. 132.

([275])– Ap.i. 130.

([276])– Trong D.ii. Kinh Đại Bổn (Mahāpadānasutta), Đức Phật Gotama có đề cập đến Bồtát Vipassaī.

([277])-BuA.237.

([278])– Bu.xx. 3. Vipassībuddhavaṃsa.

([279])– D.ii. Kinh Đại Bổn (Mahāpadānasutta).

([280])– Sp.i, 186.

([281])– ThagA. ii. 1; DhA. i. 80. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 1).

([282])– DhA. iv. 199-207.

([283])– Về Gia chủ Meṇḍaka sẽ được trình bày ở những tập sau –Ns.

([284])– Ap.i, 190.

([285])– ThagA. i. 442.

([286])– Ap. ii. 449.

([287])– Thag. vs. 405-10.  ThagA. i. 448.

([288])– Ap.i, 169.

([289])– Ap.i, 247.

([290])– Ap. ii. 449-50.

([291])– Ap. ii. 608.

([292])– Ap. ii. 447.

([293])– Ap. i, 247.

([294])– Ap.i. 215.

([295])– Thag. v. 72, Ātumatheragāthā (kệ ngôn trưởng lão Ātuma);  ThagA. i. 160.

([296])– Ap. i. 157-8.

([297])– Ap. i. 290.

([298])– BvA. 247.

([299])– Bv. Sikhībuddhavaṃso (3).

([300])– Bản tiếng Miến ghi nhận là : Tự viện Assa (Assārāma).

([301])– D. ii. 9; J. i. 41; Bu. xxi. 20.

([302])– S.i. 154.

([303])– SA. i. 172-3.

([304])– AA.i. 21-2.

([305])– AA.i 436.

([306])– S.i. 154.

([307])– A.i. 226; AAA.i. 436.

([308])-BvA, p. 202.

([309])– PsA. 488.

([310])– Ap. 128-9.

([311])–  ThagA. i. 146.

([312])– Nàng là mẹ của Lương y Jīvaka Komārabhacca và nàng kỹ nữ Sirimā.

([313])– Vin. i. 268.

([314])– DA. ii. 545. Bản Sớ giải có giải thích thêm là: “Trên đường yết kiến Phật trở về, vì quá đổi vui mừng về ý nghĩ thỉnh Phật đến thọ trai ngày hôm sau, Ambapālī từ chối không nhường đường cho các công tử Licchavi đi viếng ĐứcPhật và từ chối sự nhường lại buổi cúng dường ấy với mọi giá.

Trước khi Ambapālī đến đảnh lễ, Đức Phật cảnh tỉnh các Tỳkhưu cần định tĩnh để tránh bị nhan sắc của nàng làm điên đảo.

([315])– Ở đây trong Tạng Luật (Vin.i.231-3 và Tạng Kinh (D.ii. 95-8) có sai kác chi tiết chút ít. Trong Dīgha, Đức Phật ngụ trongAmbapālivana (vườn xoài của nàng Ambapālī)chứ không phải ở Koṭigāma (làng Koṭi),dù vườn xoài của nàng Ambapālī nằm trong Koṭigāma.

([316])–  ThigA. 206-7.

([317])– ThagA. ii. 129.

([318])–  ThigA. 206-7.

([319])– Ap. ii. 613 ; ThigA. 213.

([320])– Ap. i. 213 – 14.

([321])– Bản Sớ giải tập Apādāna nói là: Tiền thân Ngài xây dựng một Trai đường để cúng dường đến Tăng chúng.

([322])–  Ap. i. 89-90.

([323])– Ap. i. 112.

([324])– Ādina.

([325])– Thag. 173 – 174. Nandakatheragāthā; ThagA. i. 299 .

([326])– Ap.  II. 418.

([327])– Ap. i. 255.

([328])– Nāgā

{[329]}– Udagga.

([330])– Thag. 110. Usaabhatheragāthā;  ThagA. i. 217 .

([331])– Ap. i. 178.

([332])– Saṃvega.

([333])– Thag. 197 -198. Usabhatheragāthā; ThagA. i. 319 .

([334])– Ap.ii. 449.

([335])– Ṭhāna (vị trí). Trong S.i. 129 cũng có kệ ngôn này, Ngài Buddhagosa giải thích là những Thánh quả.

([336])–  Đây là câu tục ngữ của người Ấn cổ. Bản Sớ giải nói rằng: “Các bà nấu cơm hay dùng hai ngón tay vò thử hột cơm để biết cơm chín sống thế nào, do đó  có câu nói này.

([337])– Thig.60-62. Somātherīgāthā; ThigA. 66.

([338])– Ap. ii. 601.

([339])– Thag. 135-6. Surādhatheragāthā.

([340])– ThagA. i. 254 .

([341])– Ap.ii. 446.

([342])– Thag. 85. Sunāgatheragāthā.

([343])– ThagA.  i. 142.

([344])–  Ap. i. 166 .

([345])– BvAB. Ghi là Anoma.

([346])– Theo Bản Sớ giải (BvA) là Anūpama.

([347])– Có ba loại bò chúa là Vasabha, Usabha và Nisabha. Vasabha là bò chúa đứng đầu.

([348]) – Nhưng MṬ. 63 có một giảng giải khác: hīnaṃ janānaṃ abhibhūto maggena abhibhavitakiesahīno ti vā.  Dvy. 333 gọi Ngài là Viśabhū.

([349])– Trong BvA ghi là Rativaddhana.

([350])– Bu.3. Vessabhūbuddhavaṃsa.

([351])– Xem D.ii. 6. Upasasannaka là một vị Tỳkhưu. Upasanta còn được viết là Upasantaka hay Upasannaka.

([352])– DhpA. iii. 236.

([353])–  Thag. 255-7. Abhibhūtatheragāthā; ThagA. i. 372

([354])– S.i. 156.

([355])– Ml. 245.

([356])– D yv. p. 200.

([357])– Dyv. p. 569.

([358])– D.ii. 121.

([359])– ThagA. i. 372.

([360])– Ap. iii. 408.

([361])– Ap.i. 183.

([362])– Ap.i. 187.

([363])– Ap. i. 191.

([364])–  Ap. i. 114.

trang trước

Advertisements