Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (11) – Tế độ Gia tộc

A- Tế độ Gia tộc 

1- Tế độ vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Di mẫu Gotamī.

Vào sáng sớm hôm sau, Đức Thế Tôn sau khi xuất khỏi thiền tịnh, Ngài đưa Phật trí quán xét như vầy: “Chư Phật quá khứ khi về viếng thăm gia tộc lần đầu, sau những tháng ngày xa vắng. Chư Phật quá khứ có đến thọ thực nơi cư ngụ của những thân tộc hay nơi ở của các Trưởng giả hay không? Hay các Ngài ngự đi khất thực tuần tự theo thứ lớp từng nhà?”.

Đức Thế Tôn thấy rằng: “Chư Phật quá khứ ngự đi khất thực theo thứ lớp từng nhà”.

Vào buổi sáng, sau khi vận y phục tề chỉnh, tay cầm lấy y bát, Đức Thế Tôn cùng 20 ngàn vị Tỳkhưu ngự vào thành Kapilavatthu (Catỳlavệ) để khất thực. Cư dân trong kinh thành Kapilavatthu náo động lên rằng: “Thái tử Siddhattha giờ trở nên nghèo khổ, phải đi xin ăn”.

Các cung nữ nghe tin này, vội chạy đến cung của Hoàng hậu Yasodharā báo rằng:

– Thưa Hoàng hậu, Đại vương Siddhattha (SĩĐạtTa) hiện nay trở nên nghèo khổ, phải đi xin ăn trong thành Kapilavatthu.

Ngỡ mình nghe lầm, Hoàng hậu Yasodharā hỏi lại rằng:

– Này cung nhân, ngươi vừa nói gì?

– Thưa Hoàng hậu, Đại vương Siddhattha hiện nay trở nên nghèo khổ, phải đi xin ăn trong thành Kapilavatthu.

Sau khi hỏi ba lần để xác định, Hoàng hậu Yasodhara xúc động, than khóc rằng: “Đại vương ôi! Trước đây Ngài là vị chúa nơi kinh thành Kapilavatthu này, Ngài thường ngự trên lưng Vương tượng trắng có quân gia theo hộ tống để đi khắp kinh thành Kapilavatthu. Khi ấy Ngài thật oai vệ như sư tử chúa dạo đi nơi vương quốc của mình. Nay Ngài xuất gia làm ẩn sĩ, có lẽ nét oai phong khi xưa đã mất, Ngài trở nên nghèo khổ phải đi xin ăn để sống như kẻ nô lệ thấp hèn.

Ôi! Yasodharā này là người kém phước khiến nét uy mãnh của Ngài không còn. Ngài chẳng có tâm thương yêu đến Yasodharā này, nên Ngài bỏ cung vàng ra đi xuất gia mà chẳng hề nói với Yasodharā một lời từ biệt.

Dù không thương tưởng đến Yasodharā, Ngài cũng nên có chút tình thương đối với con trai của Ngài là Rāhula (LaHầuLa) chứ.

Khi ấy Hoàng hậu Yasodharā đang vấn lại mái tóc xin đẹp của mình, một tay nàng nắm lấy mái tóc, tay kia dắt Thái tử Rāhula đi đến cửa sổ của tòa Cung điện, nhìn xuống đường phố để nhìn lại hình dáng của Đại vương Siddhattha.

Nàng nhìn thấy Đức Thế Tôn ôm bát đi trước Tăng chúng 20 ngàn vị, với nét uy nghiêm trầm tỉnh, bất giác tâm bà hân hoan rằng:

– Trước đây Đại vương ngự đi trên lưng Bạch tượng trắng có chiếc lộng trắng chín tầng che bên trên, có quan quân hộ tống. Nhưng ta chưa từng thấy cảnh tượng trang trọng đầy uy nghiêm lạ thường của Ngài như cảnh tượng hôm nay.

Hoàng hậu Yasodharā đưa Thái tử Rāhula đến bên cửa sổ, nói rằng:

– Này Rāhula con! Vị Samôn đang dẫn đầu đoàn Samôn chính là cha của con đấy.

Rồi Hoàng hậu Yasodharā nói lên 10 kệ ngôn tán thán Đức Thế Tôn khi Ngài còn sống đời sống tại gia, kệ ngôn này được gọi là Narasīhagāthā (kệ Hùng sư). Được gọi là Narasīhagāthā (Hùng sư) vì mỗi kệ ngôn được kết thúc bằng chữ narasīha.

1- Siniddhanīlamudukuñcitakeso; sūriyanimmalatalābhinalāṭo.

Yuttatuṅgamudukāyatanāso; raṃsijālavitato narasīho.

“Tóc Ngài mềm mại, đen bóng như màu con ong, xoắn lại một bên;

Trán bóng như mặt trời đang chiếu sáng.

Mũi mềm mại nhô lên cân đối như viên ngọc quý khéo gọt dũa.

Đấng Hùng sưnhư vầng sáng lan tỏa rộng”.

2- Cakkavaraṅkitarattasupādo; lakkhaṇamaṇḍita āyatapaṇhi.

Cāmarihatthavibhūsitapaṇho; esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

Chân Ngài màu hồng ngọc có dấu bánh xe thiêng;

Những đặc tướng cao quý có nơi đôi chân ấy.

Có lọng trắng cùng những chiếc phất trần vàng.

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

3- Sakyakumāro varado sukhumālo; lakkhaṇavicittapasannasarīro.

Lokahitāya āgato naravīro; esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

“Con trai dòng ThíchCa dũng mãnh, hiền dịu nhân ái;

Phong thái đỉnh đặc, cùng những đặc tướng quý.

Bậc anh hùng mang lợi ích đến thế gian;

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

4- Āyatayuttasusaṇṭhitasoto; gopakhumo abhinīlanetto.

Indadhanu abhinīlabhamuko; esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

“Đôi tai tinh tường xinh đẹp, khéo cân đối;

Mắt đen nhánh, đẹp như mắt bò con, với hàng mi mềm.

Lông mày đen thẳm, cong như chiếc cung của vua trời Inda.

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

5- Puṇṇacandanibho mukhavaṇṇo; devanarānaṃ piyo naranāgo.

Mattagajindavilāsitagāmī; esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

Gương mặt như trăng tròn đang chiếu sáng;

Như voi quý cả người trời đều thương mến.

Dáng đi, tướng đứng rất khéo và tựnhiên.

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

6- Siniddhasugambhīramañjusaghoso; hiṅgulavaṇṇarattasujivho.

Vīsativīsatisetasudanto esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

“Tiếng Ngài dịu ngọt, vang rộng và thâm sâu;

Lưỡi tươi thắm như hoa hồng, răng sáng bóng.

Mỗi hàm có 20 chiếc răng đều khít khao;

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

7- Khattiyasambhava aggakulindo, devamanussanamassitapādo;

Sīlasamādhipatiṭṭhitacitto, esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

“Ngài sinh ra từ dòng vua thật sự cao quý;

Người, trời đều đảnh lễ dưới chân Ngài.

Bậc có giới định cùng tâm an tịnh;

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

8- Vaṭṭasuvaṭṭasusaṇṭhitagīvo, sīhahanumigarājasarīro;

Kañcanasucchaviuttamavaṇṇo, esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

“Cổ tròn đầy trơn mịn và thẵng;

Quai hàm như hàm sư tử chúa.

Màu da vàng sáng chói như vàng tinh luyện;

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

9- Añjanasamavaṇṇasunīlakeso; kañcanapaṭṭavisuddhanalāṭo.

Osadhipaṇḍarasuddhasuuṇṇo; esa hi tuyhaṃ pitā narasīho.

“Tóc đen huyềm, mềm sáng bóng;

Trán như đĩa vàng bóng sáng như các vì sao.

Sợi lông thuần trắng xoắn lại nằm giữa hai chân mày,

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”.

10- Gacchantonilapathe viya cando, tārāgaṇaparivaḍḍhitarūpo;

Sāvakamajjhagato samaṇindo, esa hi tuyhaṃ pitā narasīho’’ti.

Như vầng trăng đi giữa hư không;

Chiếu rực sáng giữa các vì sao chung quanh.

Vị Samôn chủ soái đi trước các hàng đệ tử;

Đấng Hùng sư ấy chính là cha của con”([1]).

Rồi nàng Yasodharā vội vả đi đến cung điện của Đức vua Suddhodana, báo tin rằng:

– Thưa Đại vươg, hiện tại Thái tử Siddhattha đang đi xin ăn trong thành Kapilavatthu.

Nghe tin báo của nàng Yasodharā, Đức vua Suddhodana vô cùng đau khổ, vội vàng lấy chiếc khăn choàng lên đầu. không kịp vấn lại chiếc khăn, hối hả đi ra khỏi Hoàng cung, đến nơi Đức Thế Tôn đang ngự đi khất thực.

Đức vua nói với Đức Thế Tôn rằng:

– Con ơi! Vì sao con làm mất thể diện của chúng ta như thế? Con đi xin ăn như vậy là tổn hại đến cha vô cùng. Đúng ra con phải ngự trên chiếc kiệu vàng để tuần du nơi thành Kapilavatthu này. Này Thái tử, vì sao con làm mất mặt cha như thế?

– Này Đại vương, Như Lai không làm mất mặt Đại vương. Như Lai đang thực hành phận sự của dòng dõi mình.

– Này con, sự đi xin ăn để sống, là dòng dõi của chúng ta hay sao?

(Kiṃ pana, tāta, piṇḍāya caritvā jīvanavaṃso mama vaṃso’’ti?).

– Thưa Đại vương, việc làm này không thuộc về dòng dõi của Ngài. Nhưng thuộc về dòng dõi của Như Lai, dòng dõi của Như Lai là dòng Phật. Chư Phật thường nuôi mạng sống bằng cách đi xin ăn,

(Neso, mahārāja, tava vaṃso, mama paneso vaṃso. Anekāni hi buddhasahassāni piṇḍāya caritvāva jīviṃsū’’ti).

Rồi Đức Thế Tôn thuyết lên hai kệ ngôn.

168- Uttiṭṭhe nappamajjeyya; dhammaṃ sucaritaṃ care.

Dhammacārī sukhaṃ seti; asmiṃ loke paramhi ca.

“Nỗ lực chớ phóng dật; hãy sống theo chánh hạnh.

Người chánh hạnh hưởng lạc; cả đời này, đời sau” (HT. TMC d)([2]).

Nghe dứt kệ ngôn, Đức vua Suddhodana chứng Thánh quả Dự Lưu.

Đức vua vô cùng hân hoan, xin thỉnh bát của Đức Thế Tôn, thỉnh Đức Thế Tôn cùng 20 ngàn vị Samôn đến Hoàng cung để thọ thực. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.

Tin Đức Thế Tôn cùng chư Tăng ngự đến Hoàng cung thọ thực được lan truyền khắp Hoàng cung, Hoàng tộc ThíchCa như Hoàng hậu Mahāpajāpati Gotamī … đều đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, nhưng không có nàng Yasodharā. Các cung nhân hay tin Đức Thế Tôn ngự đến Hoàng cung thọ thực, đến thông báo cho nàng Yasodharā biết, nàng nói rằng:

– Các người hãy đến đảnh lễ Đức Thế Tôn đi, còn ta không đến đâu. Bao giờ Đức Thế Tôn ngự đến cung điện này, ta mới tiếp kiến Ngài.

Sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích hợp, rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn.

169- Dhammaṃ care sucaritaṃ; na naṃ duccaritaṃ care.

Dhammacārī sukhaṃ seti; asmiṃ loke paramhi cā’’ti.

“Hãy khéo sống chánh hạnh; chớ sống theo tà hạnh.

Người chánh hạnh hưởng lạc; cả đời này, đời sau” (HT. TMC d)([3]).

Nghe dứt kệ ngôn Đức vua Suddhodana chứng Thánh quả Nhất lai và bà Di mẫu Gotamī chứng Thánh quả Dự Lưu([4]).

Đức vua Suddhodana thỉnh Đức Thế Tôn và Tăng chúng rằng:

– Kính bạch Thế Tôn, chúng tôi xin thỉnh Ngài cùng chư Tỳkhưu Tăng đến thọ thực nơi Hoàng cung vào ngày mai.

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời, rồi Ngài cùng Tăng chúng trở về Tự viện Nigrodha.

2- Tế độ Hoàng hậu Yasodharā.

Vào ngày thứ hai khi Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng ngự đến Hoàng cung để thọ thực. Sau khi thọ thực xong rồi, Đức Thế Tôn nhìn đại chúng Hoàng tộc thấy có đầy đủ mọi người trong thân tộc nhưng thiếu nàng Yasodharā, Ngài hỏi rằng:

– Vì sao hôm nay vẫn không thấy Công nương Yasodharā đến đây? (Đức Thế Tôn gọi Công nương để tránh tiếng dị nghị là: “Ngài vẫn còn ái luyến nàng Yasodharā, nhưng cũng không sai sự thật vì nàng là con vua Suppabuddha).

Di mẫu Gotamī cho các phi tần đến cung điện của nàng Yasodharā, gọi nàng đến hội kiến với Đức Thế Tôn, rồi thưa với Đức Thế Tôn rằng:

– Kính bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy mở lòng bi mẫn tế độ nàng Yasodharā. Nàng là một trong những hiền phụ ít có trên thế gian này, khi Ngài xuất gia làm ẩn sĩ trú ngụ nơi rừng thẳm, nàng cũng từ bỏ trang điểm, từ bỏ xiêm y xinh đẹp, khoác lên mình chiếc áo ẩn sĩ như Ngài. Hằng ngày nàng thường than khóc vì thương nhớ Ngài.

Khi các phi tần đến cung nànng Yasodharā, đi đến phòng của nàng, thấy nàng mặc chiếc áo nữ ẩn sĩ, dung nhan tiều tụy như một nữ ẩn sĩ khổ hạnh lâu ngày.

Trước đây nàng Yasodharā nổi tiếng là xinh đẹp đệ nhất trong 7 xứ của dòng tộc ThíchCa, hiện tại nàng chẳng còn xinh đẹp như dạo nào, chỉ vì nàng quá thương nhớ chồng, tình nguyện thực hành khổ hạnh như muốn chia xẻ những cực khổ với chồng.

Nàng đang than khóc kể lể rằng: “Đức Thái tử về đến kinh thành đã ba ngày rồi, mà chẳng có một lời thăm hỏi đến Yasodharā này, Ngài chẳng còn có tâm thương mến đến Yasodharā nữa rồi. Ôi ! Chẳng biết kiếp trước ta đã tạo ra lỗi lầm gì với Đức Thái tử mà ngày nay ta gặp phải cay đắng như thế này, chẳng biết ngay trong hiện tại này ta đã phạm vào điều lầm lỗi nghiêm trọng nào mà Đức Thái tử ra đi chẳng đoái hoài gì đến ta? Hẵn là Đức Thái tử chẳng còn thương tưởng đến ta nữa rồi, nên đến một lời thăm hỏi nhỏ nhoi mà Ngài cũng chẳng buồn nói ra. Ta là người nữ bất hạnh nhất trên thế gian này, ví như chiếc Long xa mà không có Đức vua ngự, hoặc ví như vương quốc không có Đức vua trị vì, đời sống của Yasodharā này không còn ý nghĩa, ta sống chỉ để thế gian khinh rẻ chê cười

Các phi tần thấy nàng đang than khóc kể lễ quá não lòng, các nàng không cầm lòng được, trên mặt tràn ra những giòng nước mắt thương cảm cho bà Hoàng nhân hậu, các nàng im lặng không dám lên tiếng. Khi than khóc mỏi mệt, nàng nhìn ra thấy các nàng phi tần, hỏi rằng:

– Này các con, các con đến đây có việc gì vậy?

– Thưa lịnh bà, lịnh bà Gotamī thỉnh bà đến Hoàng cung để hội kiến với Đức Thế Tôn. Khi nghe được pháp từ Đức Thế Tôn, tâm của lịnh bà sẽ an tịnh, dập tắt mọi sầu khổ.

– Này các con, các con vừa nói: “Lịnh mẫu hoàng bảo ta đến hội kiến với Đức Thái tử phải không?”.

– Vâng, thưa lịnh bà.

Nghe vậy, nàng Yasodharā càng tủi thân khóc lớn rằng:

– Ta đâu phải là hạng nữ nhân xấu xa đê tiện mà Đức Thái tử chẳng thèm ngự đến nơi đây. Khi trước Đức Thái tử thường ngự đến cung điện này, trú ngụ cùng với ta nơi này cả ngày lẫn đêm, không cần có nàng cung nhân nào đến báo tin, ta cũng không cần phải mời thỉnh Ngài ngự đến đây.

Đôi khi ta không kịp chuẩn bị tiếp rước Ngài, tự thân Ngài rửa chân rồi tự dùng những vật thực mà ta đã soạn sẵn cho Ngài. Tại sao hôm nay lại gọi Yasodharā đến hội kiến cùng Ngài ở nơi khác? Ta có lỗi lầm gì đối với Ngài chứ? Các con hãy trở về thưa lại với lịnh Mẫu hoàng rằng: “Yasodharā có lẽ là người xấu xa đê tiện nên Đức Thái tử ra đi xuất gia không một lời từ biệt. Nay về đến Hoàng cung thăm Hoàng tộc cũng chẳng màng hỏi đến ta, không thèm ngự đến cung điện của ta, Yasodharā rất hổ thẹn nên không đi đâu cả.

Các con hãy về báo cho lịnh Mẫu hoàng biết rằng: “Bao giờ Đức Thái tử rời khỏi Hoàng cung, khi ấy Yasodharā này sẽ nhắm mắt lìa trần”.

Khi nghe các phi tần thuật lại những lời của nàng Yasodharā, Đức vua Suddhodana bạch với Đức Thế Tôn về đức hạnh cao quý của nàng Yasodharā như vầy:

– Bạch Đức Thế Tôn, khi Ngài lìa bỏ Hoàng cung ra đi xuất gia, nàng Yasodharā cũng bỏ cả việc trang điểm, từ bỏ những chiếc y bằng vải mịn của xứ Kāsi, đấp lên mình chiếc y nữ ẩn sĩ chốn rừng sâu, không nằm trên chiếc vương sàng xinh đẹp, nằm trên nền cung điện, không thọ dụng những loại vật thực thượng vị, thọ dụng những loại thực phẩm thô sơ của thường nhân, không bao giờ xem múa hát hay tham dự bất kỳ lễ hội vui chơi nào. Bảy năm qua, nàng không một lời nào hờn trách Ngài, nàng chỉ tự than trách mình không đủ tài đức để giữ Ngài lưu lại cung son.

Bạch Đức Thế Tôn, Ngài là bậc Chiến thắng Ngũ ma, xin Ngài từ bi ngự đến cung điện của nàng Yasodharā. Nàng Yasodharā vì thương nhớ chồng đã đau khổ quá nhiều rồi, nỗi đau khổ đã dày vò nàng suốt 7 năm qua.

Kính xin Đức Đại bi hãy tế độ nàng Yasodharā đức hạnh chẳng ai sánh kịp này đi, kính thỉnh Ngài hãy ngự đến cung điện của nàng Yasodharā, để nàng có cơ hội diện kiến cùng Ngài cho vơi bớt nỗi sầu thương trong tâm khảm, một nỗi sầu đã đè nặng trong tâm nàng suốt thời gian Ngài rời bỏ kinh thành Kapilavatthu ra đi tìm đạo Giải thoát.

– Thưa Đại vương, Ngài nói chí phải, nếu Như Lai không ngự đến cung của nàng Yasodharā, nàng sẽ uất ức bể tim mà mạng chung. Như thế, Như Lai không còn cơ hội đền đáp công ân của nàng đã đối với Như Lai trong vòng luân hồi. Sở dĩ Như Lai chứng đạt Vô thượng Chánh giác trong hiện tại cũng nhờ nàng Yasodharā trợ giúp rất nhiều trong vòng luân hồi.

Lẽ thường vị Bồtát Chánh giác không bao giờ quên ân một ai đã trợ giúp Ngài trong vòng luân hồi, vị Bồtát Chánh giác luôn tìm cơ hội để đền đáp lại công ơn của người đã giúp mình, còn nói chi đến Bậc Vô thượng Chánh giác, cho dù đó là kẻ nghịch, nhưng có duyên lành Đạo quả Siêu thế, Ngài cũng sẵn sàng tế độ để người ấy chứng đạt Thánh quả, thoát ra khỏi vòng sinh tử.

Hỏi. Trong vòng luân hồi kể từ khi tiền thân nàng Yasodharā là thiếu nữ Sumittā đã cúng dường đến ẩn sĩ Sumedha 5 cánh hoa sen và có ước nguyện sẽ giúp đở Ngài trong việc thực hành pháp Balamật để chứng đạt Vô thượng Chánh giác. Trải qua 4 Atăng kỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, tiền thân của nàng Yasodharā đã hy sinh rất nhiều trong việc chứng đạt ngôi vị Chánh giác của Đức Thế Tôn.

Vì sao khi trở về Hoàng cung, Đức Thế Tôn không đến thăm hỏi nàng Yasodharā trước?

Đáp. Sở dĩ Đức Thế Tôn chưa ngự đến cung điện của nàng Yasodharā trước, vì Ngài thấu rõ tâm tư của nàng Yasodharā, hiện nàng Yasodharā còn quá nhiều ái luyến, nếu Ngài trở về Hoàng cung ngự đến cung điện của nàng Yasodhara trước sẽ:

– Không có cơ hội nói lên phận sự của Bậc Chánh giác, trình bày nếp sống chánh hạnh.

– Không xóa bỏ được định kiến về giai cấp của dòng họ Sakka (ThíchCa).

– Không tạo thuận duyên cho các giai cấp thấp có cơ hội đến yết kiến Ngài để nghe Pháp giải thoát từ Đức Thế Tôn. Chính sự đi khất thực của Đức Thế Tôn đã làm đảo lộn những quan kiến sai lệnh từ trước, tao ra cuộc cách mạng về sự bình đẳng giữa người và người.

– Ngài đi khất thực trong thành Kapilavatthu, tạo thuận duyên đến Đức vua Suddhodana, giúp Đức vua chứng đạt Thánh quả Dự lưu.

– Nếu Đức Thế Tôn ngự đến cung điện của nàng Yasodharā trước tiên, sẽ là tăng trưởng ái luyến trong tâm của nàng Yasodharā. Nàng sẽ nghĩ rằng: “Chồng ta vẫn còn thương tưởng đến ta, nên khi về Hoàng cung Ngài đã đến thăm ta trước tiên”, Và như vậy nàng sẽ khó khăn nhiều khi hành pháp để chứng đạt Thánh quả Alahán.

Do vậy, Đức Thế Tôn chờ đợi cơ hội thuận tiện, điều quan trọng nhất là vào thời điểm nàng Yasodharā chứng Thánh quả Dự Lưu.

Đức Thế Tôn dạy 20 ngàn vị Tỳkhưu rằng: “Này các vị Tỳkhưu, các ngươi hãy ở lại Hoàng cung. Theo Như Lai là hai vị Thượng thủ thinh văn mà thôi”. Rồi Ngài trao bát đến Đức vua Suddhodana, ngự đi đến cung điện của nàng Yasodharā.

Khi đến cung điện của nàng Yasodharā, Đức Thế Tôn dạy hai vị Thượng thủ rằng:

– Nàng Yasodharā là bậc có đại ân đối với Như Lai còn trôi lăn trong vòng sinh tử. Hãy để nàng muốn làm gì thì làm đối với Đấng Như Lai, nếu các ngươi ngăn cản nàng, khiến nàng uất ức bể tim mà mạng chung, như vậy Như Lai không có cơ hội báo đáp công ân của nàng. Như Lai là Đấng giác ngộ, không còn dính mắc những gì thuộc về thế gian, hai ngươi nên thấu rõ điều ấy.

Khi nói xong, Đức Thế Tôn hiển lộ hào quang sáu màu tinh anh, tỏa ra từ thân dài 80 hắc tay, chiếu khắp cung điện của nàng Yasodharā, Đức Thế Tôn bước vào cung điện, đi đến chiếc ngai Ngài thường ngự khi còn là Thái tử. Nơi ngồi của Thái tử Siddhattha luôn được nàng Yasodharā soạn sẵn, khi Bồtát Siddhattha ra đi xuất gia, nàng vẫn thường đến lau dọn chiếc ngai như một kỷ niệm êm đềm mà nàng thường làm khi Bồtát còn sống trong cung điện.

Các cung nhân trong cung điện nhìn thấy Đức Thế Tôn cùng Hoàng tộc ngự đến, Đức Thế Tôn ngồi vào nơi được soạn sẵn như thuở nào, liền đến phòng nàng Yasodharā báo tin rằng:

– Thưa Hoàng hậu, Đức Thái tử đã hồi cung, hiện Ngài đang ngồi vào chiếc bào tọa đã được lịnh bà soạn sẵn như trước đây.

Nghe các cung nhân báo tin này, tâm tư nàng Yasodharā cảm thấy nhẹ hẵn lên, như được người vừa lấy vật nặng ra khỏi tâm, tâm nàng trở nên an tịnh và thơi thới. Sự sầu khổ 7 năm qua chợt tan biến như những hạt muối tan trong giòng sông Hằng rộng lớn, thay vào đó là niềm hân hoan tràn ngập tâm khảm. Những giọt nước mắt đang ràn rụa trên gương mặt diễm lệ bổng khô ráo như ngươi vừa dùng vuông lụa trắng tinh anh lau sạch.

Nàng Yasodharā như cây khô vừa được trận mưa rào thấm nhuần từ ngọn đến tận gốc rễ, gương mặt nàng trở nên tươi tỉnh, nàng vội chải lại mái tóc cho gọn gàng, đấp lên người chiếc y nữ ẩn sĩ cho tề chỉnh, cầm tay Thái tử Rāhula đi đến nơi ngự của Đức Thế Tôn.

Khi đến trước cửa điện, nhìn thấy Đức Thế Tôn, tự dưng trong đôi mắt xinh đẹp của nàng Yasodharā trào ra hai giòng lệ nóng, dù rằng nàng Yasodharā cố gắng giữ tâm bình thản, nhưng nỗi buồn tủi đột ngột kéo về nàng không thể ngăn chận được, những giọt lệ làm mờ dần bóng hình Đức Thế Tôn, bất giác nàng than rằng:

– Lệ ơi! Ngươi đã đổ nhiều rồi, suốt 7 năm qua không ngày nào ngươi không rơi xuống, ngươi chưa cạn được sao? Hôm nay ta được hội ngộ với Đức Thái tử, sao ngươi còn trào tuôn làm mờ bóng hình người thương kính của ta vậy?. Ngươi là một chướng ngại, đã che lấp bóng hình người chồng thương yêu nhất của ta, không cho ta nhìn rõ hình dáng người chồng đã lìa bỏ ta 7 năm qua. Chẳng biết ta đã tạo ác nghiệp gì, mà hôm nay gặp lại người thương yêu nhất đời lại không nhìn rõ bóng hình.

Nàng cố gắng đè nén nỗi cảm xúc u hoài để ngăn đôi giòng lệ, quỳ xuống nơi cửa điện, đi bằng hai gối đến nơi Đức Phật đang ngự, đảnh lễ Ngài, khóc than rằng:

– Thưa Đức Thái tử, Yasodharā này là người nữ đê tiện xấu xa nhất trên đời, là người có tội không thể thứ tha được nên Ngài dứt bỏ ra đi không hề luyến tiếc, ví như người nhổ bỏ nước bọt đầy đàm rải tanh hôi, chẳng buồn phải quay lại nhìn. Ngài dứt áo ra đi xuất gia mà chẳng hề nói cho Yasodharā này biết là đã phạm vào lỗi lầm gì? Nếu Yasodharā này phạm lỗi thì còn trẻ Rāhula vừa sinh ra, nó là đứa trẻ thơ vô tội, vậy trẻ Rāhula có tội gì? Sao Ngài từ bỏ ra đi, dứt tình phụ tử chẳng chút tiếc thương vậy? Thương thay cho trẻ Rāhula, trở thành đứa bé không cha khi vừa mới chào đời.

Yasodharā khi còn là Công nương của dòng ThíchCa, có nhà chiêm tướng đoán rằng: “Công nương là người đại phước, xứng đáng là Hoàng hậu của vua Chuyển Luân”. Nay rõ ra rằng: “Lời của thầy chiêm tướng đã không đúng với sự thật”, Yasodharā là người nữ bất hạnh nhất trên đời, là người nữ xấu xa nhất nên bị chồng bỏ trong lúc tuổi còn xanh, tóc còn đen nhánh.

Khi Thái tử đi du ngoạn về, Di mẫu Gotamī có tán thán rằng:”Nữ nhân nào được làm vợ Thái tử, là nữ nhân đại phước được dập tắt lửa khổ phiền”. Lời nói của Di mẫu Gotamī không thành sự thật rồi, Yasodharā này là nữ nhân vô phước nhất, bị lửa khổ phiền vây hãm quanh năm.

Vừa than khóc, nàng Yasodharā vừa ôm lấy chân Đức Thế Tôn, rồi nàng xổ mái tóc xinh đẹp của mình, dùng mái tóc mềm mại đen nhánh lau sạch đôi bàn chân của Đức Thế Tôn.

Đức vua Suddhodana nhân dịp ấy tán thán đức hạnh của nàng Yasodharā trước Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, nàng Yasodharā xứng đáng là đệ nhất hiền phụ trong thế gian này. Kể từ khi Ngài ra đi xuất gia, nàng Yasodharā muốn ra đi tìm Ngài để cùng xuất gia thành ẩn sĩ, nhưng vì còn hài tử Rāhula nên nàng đành ở lại cung vàng nuôi dưỡng trẻ Rāhula. Rất nhiều Vương tử nhân đó đã cầu hôn với nàng, nhưng nàng Yasodharā đều khước từ, ngay cả cái liếc nhìn dục vọng cũng không hề có.

Khi nghe Ngài thực hành khổ hạnh pháp, nàng cũng từ bỏ mọi lạc thú nơi cung son, gương mặt nàng luôn có nét u buồn hay tràn đầy lệ nóng, nụ cười xinh đẹp như cánh hoa hồng vừa hé không còn xuất hiện trên môi như khi Ngài còn ở nơi Hoàng cung.

Thật vậy, nàng Yasodharā đã hy sinh tất cả cho chồng và con, nàng là nữ nhân đáng kính phục nhất trên đời.

Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Thật vậy, này Đại vương, nàng Yasodharā là nữ nhân đáng khâm phục nhất trong hàng nữ nhân. Chẳng phải chỉ trong kiếp này nàng mới có đức tính hy sinh cho chồng, trong quá khứ nàng cũng đã từng như thế rồi.

Theo lời thỉnh cầu của Hoàng tộc, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Candakinnara.

*Bổn sự Candakinnara([5])(Nhân điểu Canda).

Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại).

Bấy giờ Bồtát sinh ra làm chim thần Kinnara, có tên gọi là Canda, vợ Ngài là chim mái Candā kinnara. Vì đôi chim sinh sống nơi vùng Hymãlạpsơn nơi núi Kelāsa (núi qnh năm có màu trắng bạc), nên đôi chim thần có tên gọi là Canda (ánh trăng) và Candā.

Có lần vua Brahmadatta giao phó triều chính cho các vị Đại thần, vua tổ chức cuộc đi săn nơi vùng núi Tuyết.

Khi đến núi Tuyết đức vua đi sâu vào vùng núi Kelāsa, vì ham đuổi theo thú rừng, Đức vua Brahmadatta lạc mất đoàn tùy tùng. Đức vua mang trên mình năm loại vũ khí, sau khi dùng vật thực mang theo, Đức vua đi đến dòng suối để tìm nước uống.

Thời ấy, vào mùa mưa đôi chim thần Canda sống nơi đỉnh núi, vào mùa khô thì xuống chân núi để tìm nước uống.

Đôi chim thần Canda kinnara đi đến dòng suối uống nước, hái hoa rải đầy trên mặt nước cùng vui đùa ca hát với nhau. Chim trống Canda nhặt lấy khúc trúc rừng thổi lên điệu nhạc du dương, chim mái Candā nhảy múa ca hát theo khúc nhạc của chim trống, trông như nàng tiên nữ xinh đẹp đang múa theo điệu khúc chư thiên nơi cung trời Tāvatimsa (Ba mươi Ba).

Nghe tiếng ca hát du dương của chim thần Candā, Đức vua Brahmadatta lần theo đi đến núp trong bụi rậm để quan sát. Đức vua bổng say đắm trước dung nhan xinh đẹp của chim mái Candā, nên ác ý sinh khởi trong tâm: “Gã đang thổi nhạc hẳn là chồng của nàng, ta hãy bắn chết gã đang thổi nhạc, sau đó chiếm đoạt lấy nàng tiên diễm kiều kia. Nếu gã còn sống, đó là chướng ngại cho việc chinh phục nàng tiên diễm lệ ấy”.

Đức vua Brahmadatta giương cung bắn mũi tên tẩm độc vào người chim trống Canda, chim trống Canda ngã lăn ra nằm bất động, chim mái vẫn say sưa ca hát nhảy múa theo triều hân hoan của mình.

Chợt nghe tiếng nhạc im lặng, chim mái suy nghĩ:

– Vì sao tiếng nhạc lại im lặng?

Dừng múa, chim mái đi đến bên chồng, nhìn thấy chim trống Canda nằm bất động, trên mình còn cắm sâu mũi tên tẩm độc, máu tuôn ra từ vết thương đỏ thắm thân chim trống.

Không nén được sự đau đớn, chim mái than khóc rằng:

– Ôi ! Ai đã nhẫn tâm sát hại chồng ta như thế này?.

Đức vua suy nghĩ: “Chồng nàng tiên kiều diễm chắc đã chết, Ta hãy nhân cơ hội này chinh phục nàng vậy”.

Đức vua từ trong bụi cây đi ra, nhìn thấy Đức vua Brahmadatta chim mái Candā suy nghĩ:

– Đây có lẽ là gã ác độc đã bắn chết chồng ta.

Chim mái kinh sợ bỏ chạy lên đỉnh đồi cao, cất tiếng kết tội Đức vua Brahmadatta rằng:

– Vì sao ngươi có tâm ác độc sát hại chồng ta như thế?

– Thưa Thiên nữ, vì ta cảm xúc trước nhan sắc xinh đẹp của nàng, ta muốn rước nàng về kinh thành Bārāṇasī, tôn vinh nàng lên ngôi vị Hoàng hậu của Đại quốc Kāsi.

Nghe vậy chim mái Candā dõng dạc nói rằng:

– Này tên vua hung ác kia. Ta không bao giờ nhận ngươi là chồng. Chồng ta có tội gì? Tại sao ngươi bắn chết chồng ta? Ngươi đã chạy theo tâm tham ác, ngươi đã tạo một ác trọng nghiệp khi giết chồng để chiếm đoạt vợ người.

Nếu chồng ta mệnh chung, ta sẽ chết theo chồng ta, quyết không làm vợ tên vua ác độc như ngươi.

Nghe những lời của chim mái Chandā, Đức vua Brahmadatta hối hận, tâm ái luyến với Candā tan biến, nói với chim mái Candā rằng:

– Ta đã sai lầm gây ra trọng nghiệp như lời nàng nói, ta xin nàng hãy tha thứ lỗi lầm cho ta. Thôi nàng hãy trở lại đỉnh núi Tuyết đi.

Nói xong, Đức vua Brahmadatta từ biệt ra đi. Khi biết Đức vua đã đi khỏi, chim mái Candā đến ôm lấy xác chồng mang lên đỉnh núi, đặt chồng nằm trên đất bằng phẳng, kê đầu chim trống lên đùi mình, than khóc, trách các thiên nhân ngụ nơi núi rừng Hymãlạpsơn rằng:

– Vì sao các Ngài vẫn thản nhiên để kẻ ác độc sát hại chồng tôi? Giờ đây giữa vùng núi Tuyết giá lạnh này, tôi trở nên cô độc. Chẳng có vị thiên nhân nào có từ tâm, gìn giữ người lành nơi thế gian này sao? Chắc các vị Thiên nhân chết hết cả rồi, nên chẳng cứu giúp chồng tôi tỉnh lại.

Với uy lực của nàng Candā đức hạnh, khiến ngai vàng của vua Trời Sakka (ĐếThích) nóng ran lên, đưa thiên nhãn quán xét vua Trời Sakka biết rõ sự việc,từ Thiên giới vua Trời Sakka đi xuống nhân giới hóa thân thành một ẩn sĩ Bàlamôn, đi đến nơi chim mái Candā đang khóc than.

Vua Trời Sakka hỏi rằng:

– Này Candā, vì sao nàng than khóc như vậy.

Chim mái Candā trình bày mọi việc đến vị ẩn sĩ Bàlamôn, ẩn sĩ Bàlamôn nói: “Thôi, nàng chớ than khóc nữa, ta sẽ giúp cho chồng nàng sống lại”.

Ẩn sĩ Bàlamôn rảy thần dược từ chiếc bình bằng vàng mang theo người, thuốc ngấm vào mình chim trống Canda, đẩy lùi chất độc tuôn chảy ra theo vết thương thoát ra khỏi thân chim và chim trống Canda hồi tỉnh, chẳng mấy chốc khỏe mạnh lại như xưa.

Vô cùng hân hoan chim mái Candā quỳ xuống đảnh lễ vị ẩn sĩ Bàlamôn, Vua Trời Sakka khuyên rằng:

– Hai ngươi nên trở về đỉnh Kelāsa sinh sống, đừng đi xuống nơi này nữa. Nơi đây không thích hợp với hai ngươi đâu.

– Vâng thưa ẩn sĩ.

Từ đó loài nhân điểu (kinnara) không còn thấy xuất hiện nơi có nhân loại sinh sống nữa.

Nhận diện Bổn sự.

Đức vua Brahmadatta nay là Trưởng lão Anuruddha, chim mái Candā nay là Rāhulamātā, chim trống Canda nay là Đấng Như Lai([6]).

Khi chấm dứt Bổn sự, Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Không phải chỉ trong kiếp hiện tại này nàng Yasodharā mới tận tụy hy sinh đối với ta. Trong quá khứ nàng cũng đã từng như thế rồi.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên lý Tứ đế. Dứt pháp thoại nàng Yasodharā cùng nhiều Hoàng tộc, phi tần chứng đạt Thánh quả Dự lưu.

*Đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn).

Ngài là vị vua của dòng ThíchCa, trị vì kinh thành Kapilavatthu, là con Vương tử Sihahanu. Vương tử Sihahanu có 5 người con trai là: Dhotodana([7]), Suddhodana, Sakkodana (vị này chết khi còn nhỏ), Sukkodana và Amittodana; hai người con gái là Amitā và Pamitā.

Khi Vương tử Suddhodana trưởng thành, nghe các vị Bàlamôn tinh thông tướng thuật cho biết hai chị em song sinh là công nương Māyā và Pajāpati, một trong hai người sẽ sinh quý tử, trở thành vị vua Chuyển Luân. Vương tử Suddhodana cưới cả hai người về làm vợ.

Khi Hoàng hậu Māyā sinh ra Thái tử Siddhattha, 7 ngày sau bà mạng chung và bà Pajāpati lên ngôi Hoàng hậu([8]).

Vua Suddhodana có với Hoàng hậu Mahāpajāpati Gotamī hai người con là: Vương tử Nanda và Công nương Janapadakalyāṇī Nandā (nàng Nandā Hoa khôi quốc độ).

Vào ngày thứ hai khi Đức Thế Tôn trở lại kinh thành Kapilavatthu lần đầu tiên, Đức Thế Tôn tế độ Đức vua Suddhodana chứng Thánh quả Nhất Lai (như đã tường thuật ở trên).

Sau khi Thái tử Rāhula xuất gia Sadi, hôm sau (ngày thứ tám) Đức Thế Tôn cùng chư Tỳkhưu đến Hoàng cung thọ thực. Sau khi Đức Thế Tôn thọ thực xong rồi, Đức vua Suddhodana đến đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, khi Ngài thực hành khổ hạnh ở nơi rừng Uruvelā, có vị thiên nhân đến báo rằng: “Thái tử Siddhattha, con của Đại vương đã mệnh chung”.Tôi cảm thấy tim mình nhói đau, như có ai cầm dao nhọn đâm vào, tôi hỏi vị thiên nhân ấy rằng: “Thái tử Siddhattha, con trai của ta chứng đạt Vô thượng Chánh giác chưa?”.

– Này Đại vương, Thái tử chưa chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

Nghe vậy, tôi nói rằng:

– Này thiên nhân, nếu chưa chứng được Vô thượng Chánh giác chắc chắn con trai ta không chết đâu.

Vị thiên nhân cố thuyết phục tôi tin rằng Ngài đã chết, vì Ngài thực hành khổ hạnh khốc liệt hơn tất cả những ai có thân hình bằng xương bằng thịt, nhưng tôi cương quyết không tin điều đó, nói với thiên nhân rằng:

– Cho dù mặt trời có biến mất vào lúc giữa trưa chăng nữa, nếu chưa chứng đắc Vô thượng Chánh giác, con trai của ta không chết được.

Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Thưa Đại vương, không phải trong kiếp này Đại vương không tin lời người khác khi báo rằng con trai Ngài đã chết. Trong quá khứ Ngài cũng từng có điều kỳ diệu này rồi.

Theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Mahādhammapāla.

*Bổn sự Mahādhammapāla (Đại hộ pháp).

Thuở quá khứ, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại) của Vương quốc Kāsi.

Có ngôi làng mang tên là Dhammapāla (Hộ pháp), sở dĩ làng mang tên Dhammapāla vì trong làng có một gia tộc Bàlamôn thực hành gìn giữ 10 pháp của bậc hiền trí, giữ giới rất trong sạch tốt đẹp, được cư dân trong làng tán thán là bậc Dhammapāla (Hộ pháp).

Trong gia tộc vị Bàlamôn ấy ngay cả tôi tớ cũng giữ gìn giới hạnh thường gìn giữ ngày Bốtát giới (Uposathasīla).

Thuở ấy, Bồtát tái sinh vào gia tôc này, Ngài cũng được đặt tên là Dhammapāla. Khi sắp đến tuổi trưởng thành, cha của thanh niên Dhammapāla cho con 1000 đồng vàng, Dhammapāla đi đến kinh thành Takkasilā để học nghệ thuật. Thanh niên Dhammapāla là đệ tử trưởng trong số 500 môn đệ của một danh sư nổi tiếng nơi kinh thành Takkasila.

Bất ngờ con trai vị danh sư mệnh chung, các môn đệ và thân quyến của vị Danh sư than khóc, riêng Bồtát Dhammapāla vẫn dững dưng.

Khi hỏa thiêu thi hài con vị danh sư nơi mộ địa xong, mọi người trở về nhà vị danh sư bàn luận cùng nhau rằng:

– Ôi! Chàng trai này thật đáng thương, mệnh chung khi còn tuổi trẻ phải lìa bỏ cha mẹ như thế.

Bồtát nói rằng:

– Đúng như lời các hiền hữu đã nói, khi còn tuổi trẻ không nên chết. Nhưng tại sao chàng trai này lại chết ở tuổi thanh xuân? Còn niên thiếu mà chết thì không hợp lý chút nào.

   – Này Hiền hữu, thế thì hiền giả không biết: Những người dù già hay trẻ cũng phải chịu chết hay sao?

– Ta biết rõ điều ấy chứ, nhưng khi tuổi còn niên thiếu thì không nên chết, người ta chết lúc về già.

– Đó là tục lệ của gia tộc hiền hữu sao?

– Đúng thế, đó là tục lệ của gia tộc ta. Trong gia tộc ta không có một ai chết trẻ cả.

Các bạn của Bồtát mang câu chuyện nói lại cho vị danh sư biết. Vị danh sư cho gọi Bồtát Dhammapāla đến hỏi rằng:

– Này Dhammapāla con, con có nói: “Trong gia tộc ta chẳng có ai chết trẻ cả”, có đúng như vậy không?.

– Thưa thầy, thật vậy, trong gia tộc con chẳng ai chết trẻ cả.

Vị danh sư suy nghĩ: “Đây là điều thật kỳ diệu, có lẽ gia tộc Dhammapāla có bí quyết chi đây. Ta hãy lên đường đến gia tộc này để tìm hiểu bí quyết ấy”.

Khoảng vài ngày sau, vị Danh sư cho gọi Dhammapāla đến nói rằng:

– Này con, ta có vài công việc cần đi xa, con hãy thay ta dạy dỗ các môn sinh của ta.

Vị danh sư cho tìm một ít xương dê thiêu rồi gói lại, lên đường đi đến làng Bàlamôn Dhammapāla trong xứKāsi.

Ông hỏi thăm những thôn dân và tìm đến gia tộc Bồtát Dhammapāla, nói với người giữ cửa rằng:

– Thưa ông, tôi là thầy của thanh niên Dhammapāla, hãy cho tôi gặp cha của chàng trai thông minh ấy.

Nghe thầy của con mình đến viếng, cha của Bồtát ra đến cửa tiếp đón, đưa đến Khách đường. Cha Bồtát tiếp đãi vị danh sư rất trọng thể.

Rồi cha Bồtát hỏi vị danh sư rằng:

– Thưa Ngài, con của tôi có ngoan chăng? Học có được tiến bộ chăng?

– Thưa Gia chủ, thanh niên Dhammapāla rất ngoan và thông minh, chàng là môn sinh trưởng trong nhóm 500 môn sinh của tôi, thường thay tôi dạy dỗ những môn sinh yếu kém, tất cả mọi người đều thương mến chàng, nhưng có lẽ tài hoa yểu mệnh. Thương thay, thanh niên Dhammapāla lâm phải trọng bệnh và đã mệnh chung, sau khi hỏa táng thi hài chàng, tôi mang xương của chàng đến báo tin cho gia đình biết, xin gia đình chớ đau buồn vì cái chết của thanh niên Dhammapāla.

Nghe tin báo, cha Bồtát vỗ tay cười lớn. Vị danh sư hỏi:

– Thưa Tôn giả Bàlamôn, vì sao Ngài vỗ tay cười lớn?

– Thưa Ngài danh sư, có thể Ngài nhầm lẫn chăng? Người chết trẻ ấy không phải là con tôi đâu, có lẽ là người khác.

– Không đâu, thưa Tôn giả Bàlamôn, chính con trai của Ngài đã chết, đây là xương cốt của con trai Ngài.

Vị danh sư đưa gói xương dê được hỏa táng ra, cha Bồtát nhìn gói xương dê nói rằng:

– Có lẽ đây là xương dê hay xương chó rừng, chứ con trai tôi không chết được, trong gia tộc này đã trải qua 7 đời, không một ai chết trẻ cả. Thưa danh sư, Ngài đã nói sai sự thật rồi.

Bàlamôn Dhammapāla cho hội tất cả người trong gia tộc đến Khách đường, nói rằng:

– Này các người trong gia tộc, vị danh sư này đến đây báo tin rằng: “Thanh niêm Dhammapāla, con trai của ta lâm trọng bịnh và đã mệnh chung”.

Nghe vậy, tất cả mọi người trong nhà đều vỗ tay cười lớn, nói rằng:

– Điều này không hề có, trong gia tộc chúng ta không có ai chết trẻ như thế cả.

Thấy vậy, vị danh sư vô cùng hoan hỷ, nói rằng:

– Thưa Tôn giả Bàlamôn. điều này thật kỳ diệu. Chẳng hay Ngài có bí quyết chi mà toàn thể gia tộc Ngài đã 7 đời không có ai chết trẻ cả?

– Thưa danh sư, chúng tôi chẳng có bí quyết chi cả. Chúng tôi chỉ gìn giữ 10 pháp của bậc hiền trí cổ sơ mà thôi.

Rồi cha Bồtát nói lên những kệ ngôn:

93- Dhammaṃ carāma na musā bhaṇāma;

pāpāni kammāni parivajjayāma.

Anariyaṃ parivajjemu sabbaṃ;

tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.

Thực hành pháp, không hề dối trá;

Không làm tất cả mọi đều ác.

Xa lánh tất cả mọi bất thiện;

Vì thế không ai chết trẻ cả”.

94- Suṇoma dhammaṃ asataṃ satañca;

na cāpi dhammaṃ asataṃ rocayāma.

Hitvā asante na jahāma sante;

Tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.

“Nghe pháp, không nghe điều phi pháp;

thực hành pháp, không hành phi pháp.

Theo người trí không theo kẻ ngu;

vì thế không ai chết trẻ cả”.

95- Pubbeva dānā sumanā bhavāma;

dadampi ve attamanā bhavāma.

Datvāpi ve nānutappāma pacchā;

tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.

“Tâm hân hoan trước khi cho;

trong khi cho tâm vui thích.

Sau khi cho, tâm không hối tiếc;

vì thế không ai chết trẻ cả.

96- Samaṇe mayaṃ brāhmaṇe addhike ca;

vanibbake yācanake dalidde.

Annena pānena abhitappayāma;

tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.

“Kính lễ Samôn và Bàlamôn;

bố thí đến kẻ xin ăn lẫn ai cần.

Cho vật thực đến những người đói khát;

vì thế không ai chết trẻ cả”.

97Mayañca bhariyaṃ nātikkamāma;

amhe ca bhariyā nātikkamanti.

Aññatra tāhi brahmacariyaṃ carāma;

tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.

“Bằng lòng vợ nhà, không nghĩ đến vợ người;

Không ngoại tình với vợ mình.

Giữ gìn sống phạm hạnh([9]);

Vì thế không ai chết trẻ cả.

98- Pāṇātipātā viramāma sabbe; loke adinnaṃ parivajjayāma.

Amajjapā nopi musā bhaṇāma; tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.

“Xa lìa mọi giết hại; xa lánh lấy của đời.

Trọn đời không nói dối;Vì thế không ai chết trẻ.

99- Etāsu ve jāyare suttamāsu;

medhāvino honti pahūtapaññā.

Bahussutā vedaguno ca honti;

tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.

“Cố học hỏi, lắng nghe;

thân cận hiền trí nhiều trí tuệ.

Và nghe nhiều nơi bậc thông thái;

vì thế không ai chết trẻ cả.

Rồi cha Bồtát nói với vị Danh sư rằng:

– Con tôi là Dhammapāla thường gìn giữ 10 pháp của bậc Thiện trí, nó không bao giờ chết trẻ, xương Ngài mang đến, không phải là xương của Dhammapāla.

Nghe cha Bồtát nói như vậy, vị Danh sư hoan hỷ rằng:

– Thật lả lợi ích lớn cho tôi, chẳng phí công tôi đến nơi này. Thật vậy, đây là xương dê rừng, tôi mang đến để thử gia tộc Ngài.

Vị danh sư xin lỗi gia tộc Bồtát, tường thuật lại những lời Bồtát nói với mình. Vị Danh sư xin ghi chép những pháp thiện nhân nơi gia tộc của Bồtát rồi trở lại kinh thành Takkasilā.

Nhận diện Bổn sự.

Người cha nay là Đức vua Suddhodana, vị danh sư nay là Trưởng lão Sāriputta. Bồtát Dhammapāla nay là Đấng Như Lai([10]).

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết giảng pháp thoại thích hợp, dứt Pháp thoại, Đức vua Suddhodana chứng Thánh quả Bất Lai.

Khi Đức Thế Tôn an cư mùa mưa lần thứ năm, Đức vua Suddhodana lâm trọng bệnh, Đức Thế Tôn theo đường hư không từ Kūṭāgārasālā (Giảng đường nóc nhọn) nơi kinh thành Vesāli trở về, đến bên giường bệnh của Đức vua Suddhodana thuyết lên pháp thoại, nghe xong pháp thoại Đức vua Suddhodana chứng Thánh quả Alahán và viên tịch sau đó.

Đức vua Sudddhodana là vị cư sĩ Alahán vậy([11]).

Trong quá khứ tiền thân Đức vua Suddhodana là cha của Bồtát trong những Bổn sự như: Kaṭṭhahārī (nàng kiếm củi)([12]); Ālīnacitta ( tâm thu phục)([13]), Susīma (vua Susīma)([14]), Bandhanāgāra, Kosambī([15]), Mahādhammapāla (Đại hộ pháp) (xem ở trên), Dasaratha([16]), Mahā Ummagga (Hiền trí Mahosatha)([17]), Vessantara (xem ở trên).

*Bổn sự Bandhanāgāra (Nhà tù trói buộc).

Duyên khởi.

Khi Đức Thế Tôn ngụ trú nơi Jetavanavihāra (Đại tự KỳViên) do Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) kiến tạo cúng dường.

Những kẻ trộm cướp trong thành Sāvatthi (Xávệ) bị vua Pasenadi cho tảo trừ, bắt tất cả giam vào trong ngục. Chúng bị trói chặt bằng dây thừng cũng có, bị xiềng xích cũng có, bị gông cùm cũng có …

Có 30 vị Tỳkhưu từ vùng quê đến Đại tự Kỳviên để yết kiến Đức Thế Tôn, vào buổi sáng các Ngài đi khất thực trong thành Sāvatthi.

Khi đi ngang qua khám đường nhìn thấy những phạm nhân bị trói, bị xiềng xích, bị gông cùm … Vào buổi chiều các vị Tỳkhưu đến Đại tự KỳViên, đi vào Giảng pháp đường đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi bạch lên Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, hôm nay chúng con đi khất thực trong thành Sāvatthi (Xávệ), khi đi ngang qua khám đường, nhìn thấy những phạm nhân bị trói bằng dây thừng cũng có, bị xiềng xích cũng có, bị gông cùm cũng có, chúng bị khổ rất nhiều nhưng không thể thoát ra được. Bạch Thế Tôn, có loại trói buộc, xiềng xích, gông cùm nào chắc chắn hơn không?

– Này các Tỳkhưu, có những xiềng xích, gông cùm khác chắc chắn hơn những loại gông cùm, xiềng xích mà các ngươi đã trông thấy. Đó là ái luyến đối với tài sản, vợ con … những gông cùm này bền chắc hơn tất cả.

Tuy vậy, những trói buộc dù to lớn, bền chắc cách mấy, những bậc hiền trí khi đã quyết định, các vị ấy sẽ cắt đứt để thoát ra, đi vào núi rừng Hymã sống đời sống ẩn sĩ.

Theo lời thỉnh cầu của các vị Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại) của vương quốc Kāsi.

Bồtát tái sinh vào một gia đình nông dân nghèo khổ, khi Ngài trưởng thành thì cha Ngài qua đời. Bồtát làm công cho chủ ruộng để nuôi dưỡng mẹ.

Thấy con mình cực khổ bên ngoài lẫn bên trong, mẹ Ngài khuyên Ngài lấy vợ để có người phụ việc nhà. Tuy không hài lòng vì Bồtát có tâm nguyện được xuất gia, nhưng để làm cho mẹ vui, Bồtát ưng thuận.

Khi mẹ qua đời, vợ Ngài đang có mang nhưng Ngài không biết nên nói với vợ rằng:

– Này nàng, ta sẽ ra đi xuất gia làm ẩn sĩ, nàng hãy tìm nơi khác hay tự mình làm thuê nuôi sống.

– Này anh thân yêu, hiện nay em đang có mang chưa thể tự mình nuôi sống được, vậy anh hãy đợi khi em sinh con rồi đi xuất gia cũng chưa muộn.

– Thôi được rồi.

Khi vợ Ngài sinh con được an lành, Ngài nói rằng:

– Này nàng, nay nàng sinh con xong rồi. Ta sẽ sống đời ẩn sĩ vậy.

– Thưa anh, em mới vừa sinh con xong, chưa thể tự mình nuôi sống được, anh hãy đợi khi con mình dứt sữa rồi ra đi xuất gia cũng không muộn.

– Thôi được rồi.

Khi con Ngài dứt sữa thì vợ Ngài lại có mang, Ngài nói rằng:

– Này nàng, nay con chúng ta đã dứt sữa mẹ. Ta sẽ ra đi xuất gia làm ẩn sĩ sống trong vùng núi Tuyết.

– Thưa anh, em lại mang thai rồi. Anh hãy nán đợi khi em sinh con rồi ra đi xuất gia cũng không muộn lắm.

Bồtát suy nghĩ: “Nếu như thế này mãi, làm sao ta có thể thoát ra khỏi đời sống gia đình đầy hệ lụy này”.

Bồtát không nói chi cả, ban đêm lìa bỏ nhà, trốn người vợ ra đi xuất gia.

Khi ra đến cổng thành, Ngài bị những người giữ cổng thành nghi ngờ là trộm đạo, bắt giữ lại, Bồtát nói rằng:

– Thưa các Ngài, tôi không phải là kẻ trộm đạo, tôi còn phải nuôi dưỡng vợ con, xin các Ngài hãy thả tôi đi.

Những người giữ cổng thành thấy tướng mạo của Bồtát chân thật không có vẻ gì là những kẻ trộm đạo, nên thả Ngài ra, Bồtát tìm một nơi gần đó tạm nghỉ mệt. Khi cổng thành mở ra, Ngài đi thẳng lên rừng Tuyết lãnh, xuất gia làm ẩn sĩ, tu tập thiền tịnh chứng đạt 8 thiền chứng cùng năm pháp thần thông phàm. Với tâm hân hoan Ngài nói lên lời cảm hứng rằng:

“Evarūpampi nāma me ducchindaniyaṃ puttadārabandhanaṃ kilesabandhanaṃ chinna’’nti”

“Trói buộc là vợ con, trói buộc là phiền não. Ta đã cắt đứt những trói buộc như vậy rồi”.

Tiếp theo Đức Thế Tôn nói lên kệ ngôn.

345- Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā,

Yadāyasaṃ dārujaṃ pabbajañca.

Sārattarattā maṇikuṇḍalesu,

Puttesu dāresu ca yā apekkhā.

“Sắt, cây, gai trói buộc,

“Người trí xem chưa bền.

Tham châu báu, trang sức,

Tham vọng, vợ và con”.

346- Etaṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā,

Ohārinaṃ sithilaṃ duppamuñcaṃ;

Etampi chetvāna paribbajanti,

Anapekkhino kāmasukhaṃ pahāyā’’ti.

“Người có trí nói rằng, trói buộc này thật bền.

Trì kéo xuống lỏng lẻo;nhưng thật sự khó thoát.

Người trí cắt trừ nó; bỏ dục lạc không màng” (HT. TMC d)([18]).

Kệ ngôn này còn được tìm thấy trong tập Saṃyutta nikāya Phẩm Kosalasaṃyutta (Tương Ưng Kosala)([19]).

Nhận diện Bổn sự.

Người cha nay là Đức vua Suddhodana, người mẹ nay bà Hoàng Māyā, người vợ nay là bà Rāhulamātā, Bồtát nay là Đức Chánh giác([20]).

*Thánh nữ Yasodharā.

Bà là ái nữ của vua Suppabuddha (Thiện Giác), vua Suppabuddha là con của vua Añjana thuộc dòng ThíchCa cai trị kinh thành Devadaha.

Vua Añjana có hai người con gái bà Māyā và Pajāpatī, hai trai là Suppabuddha và Daṇḍapāṇi.

Vua Suppabuddha có Hoàng hậu là công nương Amitā (em gái của vua Suddhodana), có hai người con là Thái tử Devadatta và công nương Yasodharā. Như vậy, vua Suppabuddha vừa là em vợ vừa là em rễ của vua Suddhodana, Thái tử Devadatta lại là anh vợ của Bồtát Siddhattha, còn Daṇḍapāṇi là chú vợ của Bồtát Siddhattha.

Do thứ bậc như vậy nên Vương tử Daṇḍapāṇi không có tâm kính trọng Đức Thế Tôn và Daṇḍapāṇi là người ủng hộ Tôn giả Devadatta.

Theo Bản Sớ giải kinh Pháp Cú: “Vua Suppabuddha có tâm hiềm hận với Đức Thế Tôn, vì Ngài bỏ bà Yasodharā con gái của ông, ra đi xuất gia”, rồi Suppabuddha bị đất rút ở chân thang lầu của Hoàng cung, đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến Tôn giả Devadatta chống lại Đức Thế Tôn sau này([21]).

Yasodharā (người nữ nỗi tiếng) là danh hiệu không phải là tên, tên thật của bà là Bimbādevī([22]), sau được gọi là Bimbāsundarī (nàng Bimbā xinh đẹp)([23]), khi trưởng thành, vì xinh đẹp nhất trong 7 xứ của dòng tộc ThíchCa nên bà được gọi là Yasodharā([24]).

Khi sinh được một trai là Thái tử Rāhula bà được gọi là Rāhulamātā (mẹ Rāhula), khi xuất gia trong Ni đoàn bà có thêm danh hiệu Bhaddakaccāna (hay Bhaddākaccānā); đây là danh hiệu sau cùng của bà.

Kinh điển Nam truyền thường gọi bà là Rāhulamātā ([25]), còn Kinh điển Bắc truyền thường gọi bà là Yasodharā và nói bà là ái nữ củaDaṇḍapāṇi. Có thể Vương tử Daṇḍapāṇi có một ái nữ có tên là Yasodharā nên có sự nhầm lẫn ở trên.

Được gọi là Bhaddakaccāna([26]) vì bà có màu da vàng óng ánh và có tiếng là hiền thục([27]). Ông Thomas giải thích: “Vì bà thuộc tộc họ Kaccānā nên được gọi là Bhaddākaccāna”([28]), nhưng cách giải thích này không chuẩn vì bà không thuộc tộc họ Kaccānā.

Bà sinh ra cùng ngày với Bồtát Siddhattha([29]), năm 16 tuổi([30]) bà thành hôn với Bồtát, được xếp đứng đầu 40 ngàn cung nhân mà các Thích tử tặng cho Bồtát Siddhattha do thán phục uy dũng của Ngài trong cuộc thi tài để có được nàng Yasodharā.

Bà Yasodharā sống trong ba tòa cung điện: Rama, Suramma và Subha cho ba mùa, với danh xưng là Hoàng hậu của Đại vương Siddhattha. Mãi 13 năm sau bà mới sinh người con trai là Thái tử Rāhula.

Trước khi ra đi xuất gia, Bồtát có đến thăm bà, nhưng Ngài chỉ đứng ngoài cửa chứ không vào phòng, e kinh động giấc ngủ của bà khiến bà thức giấc và cuộc xuất gia tìm đạo giải thoát của Ngài sẽ bị chướng ngại.

Từ ngày Thái tử Siddhattha ra đi xuất gia sống đời sống Samôn khổ hạnh, bà cũng gác lại mọi thọ dụng xa hoa và tự sống đời sống Samôn. Tức là cũng mặc chiếc y vàng, không dùng vật thực phi thời, không trang điểm, không nằm trên vương sàng xinh đẹp ….

Vào ngày thứ 7 của chuyến viếng thăm kinh thành Kapilavatthu đầu tiên, bà trang điểm Thái tử Rāhula thật xinh đẹp, dạy con rằng:

– Này Rāhula con! Vị Samôn đang dẫn đầu Tăng chúng chính là cha của con. Khi Ngài còn ở tại gia có phát sinh bốn hầm châu báu, nhưng khi Ngài ra đi xuất gia thì bốn hầm châu báu biến mất. Con hãy đến vị Samôn ấy xin tài sản của cha đi.

Đức Thế Tôn dạy Trưởng lão Sāriputta (XáLợiPhất) tế độ cho Rāhula xuất gia là Sadi ([31]).

Khi Ni đoàn được thành lập qua sự kiện xuất gia của bà Di mẫu Mahāpajāpati Gotamī, sau đó bà Rāhulamātā cùng với nàng Janapadakalyānī Nandā cũng xin được xuất gia vào Ni đoàn (vào hạ thứ 5 của Đức Thế Tôn), Tế độ sư của bà là Di mẫu Gotamī([32]).

Bà tinh cần thực hành Phạm hạnh, chưa được nửa tháng chứng đạt Thánh quả Alahán Tuệ phân tích([33]).

Bà lặng lẽ đời sống Samôn nơi Ni viện, thường tìm nơi thanh vắng để thiền tịnh. Mặt khác tuy hiểu biết rất nhiều nhưng bà không hề tranh luận với ai về bất kỳ vấn đề gì, nên được gọi là Trưởng lão ni Bhaddā.

Để phân biệt với các nàng Bhaddā khác, bà được gọi là Bhaddakaccānā.

Ngài Đại Luận sư Buddhaghosa có giải thích: “ Trưởng lão ni Bhaddakaccānā là Rāhulamātā”([34]).

Biên niên sử Tích Lan cũng giải thích: “Bhaddakaccānā nói đây là ái nữ của vua Suppabuddha và nàng Amitā([35]).

Vào thời điểm thích hợp, giữa hàng tứ chúng, Đức Thế Tôn ban cho bà địa vị: “Đại thắng trí (mahā abhiññāṇa) trong hàng Tỳkhưu ni”.

Etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ mahābhiññappattānaṃ yadidaṃ bhaddakaccānā.

“Này các Tỳkhưu, trong hàng Tỳkhư ni đệ tử Như Lai, đạt đại thắng trí là Bhaddakaccānā”([36]).

Trong thời Đức Phật Gotama chỉ có bốn vị đạt đại thắng trí là có túc mạng thông nhớ được 1 Atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất; ba vị kia là: Trưởng lão Sāriputta, Trưởng lão Moggallāna và Trưởng lão Bakkula([37]).

Khi được 78 tuổi, nhận thấy tuổi thọ củamình sắp mãn, bà Bhaddakaccānā đưa Thắng trí quán xét thấy được rằng: “Đức vua Suddhodana, Di mẫu Gotamī, Nanda, Rāhula cùng hai vị Thượng thủ Thinh văn đều viên tịch trong thời Đức Thế Tôn còn hiện tiền, ngay cả chính ta cũng viên tịch trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế”.

Đưa trí quán xét về tuổi thọ của mình, bà thấy rằng: “Hôm nay là ngày ta viên tịch, thật không hợp lẽ khi ta viên tịch đạt an ổn vĩnh hằng mà không đến đảnh lễ Đức Thế Tôn lần cuối cùng trong dòng sinh tử luân hồi dài thăm thẳm này””.

Vị Thánh nữ có đại thần lực, đại thắng trí tay cầm lấy y bát rời khỏi Ni viện, dẫn đầu 18 ngàn vị Thánh nữ Alahán, đi đến nơi Đức Thế Tôn ngự trú nơi sườn núi gần thành Rājagaha (Vương Xá)([38]).

Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, bà ngồi xuống một bên hợp lẽ bạch rằng:

– Kính bạch Đấng Đại hiền trí, nay con đã 78 tuổi rồi đã đi đến tận cùng của tuổi thọ. Vào đêm nay con sẽ viên tịch chứng đạt Vô dư NípBàn.

Kính bạch Đấng Đại hiền trí, đây là lần cuối cùng con được đảnh lễ dưới bàn chân có bánh xe ngàn căm xinh đẹp của Ngài.

Kính bạch Đấng Đại hùng, trong vòng luân hồi thăm thẳm, nếu con vô tình hay cố ý phạm lỗi với Ngài, xin Ngài từ bi cho con được sám hối những lỗi lầm ấy, xin Ngài hãy tha thứ những lỗi lầm ấy cho con.

Nghe lời tác bạch của bà Bhaddakaccānā, Đức Thế Tôn đưa Phật trí quán xét rồi Ngài dạy rằng:

– Này Bhaddakaccānā, nàng là bậc có đại ân với Như Lai. Trong vòng sinh tử luân hồi, nàng đã hổ trợ tích cực cho Như Lai hoàn thiện công hạnh, giúp Như Lai thành đạt địa vị Vô thượng Chánh giác, thì còn nói chi đến những lỗi lầm nhỏ nhặt chứ.

Này Bhaddakaccānā, nay nàng muốn viên tịch thì Đấng Như Lai còn biết nói gì hơn nữa. Đây là lần cuối cùng Đấng Như Lai được nhìn thấy người nữ khó tìm trên thế gian này như nàng.

Nàng hãy thi triển đại thần lực, để đoạn trừ những nghi hoặc cho những ai chưa có niềm tin trong Giáo pháp này, làm tăng trưởng niềm tin cho những ai đã có niềm tin nơi Giáo pháp này.

Này Bhaddakaccānā, nàng hãy nói lên công hạnh của nàng cho đại chúng thấu rõ đi.

Nghe Đức Thế dạy như vậy, bà Bhaddakaccānā từ nơi chỗ ngồi đứng dậy đấp y tề chỉnh đảnh lễ Đức Thế Tôn, bạch rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, con là Yasodharā nữ đệ tử của Ngài. Con là vợ của Ngài khi Ngài còn sống tại gia, con được sinh ra trong dòng Hoàng tộc ThíchCa, là người xinh đẹp nhất trong 7 xứ của dòng ThíchCa, con là người đứng đầu 40 ngàn cung nhân xinh đẹp phục vụ cho Ngài và con đã chu toàn phận sự người vợ.

Rồi bà Baddakaccānā bay lên giữa hư không thực hiện nhiều loại thần thông, từ hư không bà trở về mặt đất, đứng chấp tay hướng về Đức Thế Tôn bạch rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài hãy nhớ lại những thiện nghiệp trước đây của con đi, những phước báu mà con đã tích lũy được, mục đích cũng chỉ vì tâm nguyện của Ngài.

Bạch Thế Tôn, con giữ gìn giới hạnh, lánh xa ác hạnh, con hy sinh ngay cả mạng sống, mục đích cũng chỉ vì tâm nguyện của Ngài.

Bạch Đức Thế Tôn, Ngài đã bố thí con đến kẻ khác để làm vợ, có đến hàng triệu lần, nhưng con không hề có tâm bất bình đối với Ngài, mục đích cũng chỉ vì tâm nguyện của Ngài.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã bố thí con làm nô tỳ cho người khác, có đến hàng triệu lần, nhưng con không hề có tâm bất bình đối với Ngài, mục đích cũng chỉ vì tâm ngyyên của Ngài

Bạch Thế Tôn, Ngài đã bố thí con đến kẻ khác để làm vật thực, có đến hàng triệu lần, nhưng con không hề có tâm bất bình đối với Ngài, mục đích cũng chỉ vì hạnh nguyện của Ngài.

Bạch Đức Thế Tôn, con đã từ bỏ hàng triệu lần mạng sống, mục đích cũng chỉ vì tâm nguyện của Ngài.

Bạch Đức Thế Tôn, không thể đếm được số lượng voi, ngựa, vàng ngọc, ruộng vườn, ngay cả tôi trai tớ gái mà con có được đã dứt bỏ để Ngài thực hiện tâm nguyện của Ngài.

Bạch Đức Thế Tôn, con đã trải qua vô số đau khổ trong vòng luân hồi với vô số hình thức, mục đích cũng chỉ vì tâm ngyện của Ngài.

Bạch Đức Thế Tôn, ngay trong hiện tại, ba Minh con đạt được, thành tựu sáu Thắng trí cùng bốn Tuệ phân tích. Quá khứ đã cạn, hiện tại đã cạn , tương lai đã cạn.

Bạch Thế Tôn con xin đảnh lễ Ngài lần sau cùng để rồi viên tịch trong đêm nay.

Đại chúng được nghe công hạnh của bà, xúc động lặng yên với niềm thán phục vô biên.

Thánh nữ ni Alahán Bhaddakaccānā đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi cùng 18 ngàn nữ Thánh trở về Tự viên.

Đêm ấy bà và 18 ngàn vị thánh nữ Alahán cùng viên tịch([39]); trái đất chịu đựng không nỗi phải rùng mình chuyển động.

Trong kinh Trường bộ có ghi nhận: Tiền thân bà Rāhulamātā là Chánh hậu Subhaddā của vua Chuyển Luân Mahā Sudassana (Đại Thiện Kiến) (là tiền thân của Đức Phật)([40]).

Tiền sự.

Cách đây 4 Atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất, tiền thân bà Yasodharā là thiếu nữ Bàlamôn Sumittā, từng dâng cho ẩn sĩ Sumedha 5 cánh hoa sen để Bồtát cúng dường đến Đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng), còn nàng cúng dường đến Đức Thế Tôn ba cánh bông sen.

Đức Phật Dīpaṅkara tiên tri ẩn sĩ Sumedha sẽ thành tựu Vô thượng Chánh giác và nànng Sumittā sẽ là người bạn đường của Bồtát vô số kiếp trong thời gian bốn Atăngkỳ và 100 ngàn kiếp trái đất.

Cách đây 100 ngàn kiếp trái đất, vào thời Đức Chánh giác Padumuttara, tiền thân bà là một nữ gia chủ trong thành Haṃsavatī.

Có lần được chứng kiến một Thánh nữ Alahán được Đức Thế Tôn ban cho địa vị đệ nhất đại thắng trí trong hàng Tỳkhưu ni. Nữ gia chủ ước nguyện đạt địa vị này trong thời Đức Chánh giác vị lai, nên cúng dường đại thí đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng trọn 7 ngày, rồi ước nguyện đạt được địa vị trên.

Tiền thân bà Yasodharā được ghi nhận nhiều trong những Bổn sự.

*Bổn sự Ananusociya (Không khóc người chết).

Duyên khởi.

Có một gia chủ là chủ ruộng sống nơi kinh thành Sāvatthi (Xávệ), chàng có cô vợ trẻ chẳng may mệnh chung. Chàng phát sinh sầu khổ, chẳng thiết tha đến mọi việc, thường đến mộ địa nơi thiêu thi hài của người vợ trẻ, than van sầu khổ.

Vào một buổi sáng, nơi Hương thất trong Đại tự KỳViên, Đức Thế Tôn đưa Phật trí quán xét thế gian, thấy được duyên lành của nam gia chủ này.

Sau khi đi khất thực, thọ thực xong Ngài cùng vị Tỳkhưu thị giả đi đến nhà nam gia chủ.

Nam gia chủ thỉnh Đức Thế Tôn đến Khách đường, khi Đức Thế Tôn ngồi vào nơi được soạn sẵn, nam gia chủ đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi, ngồi xuống một bên hợp lẽ, im lặng với gương mặt sầu thảm, Đức Tế Tôn hỏi rằng: “Này gia chủ, vì sao ngươi im lặng như thế?”.

– Bạch Thế Tôn, con đang sầu muộn vì người vợ con thương yêu nhất đã mệnh chung.

– Này gia chủ, vật gì có tính chất tan rã, khi đến thời tan rã thì phải tan rã. Khi điều này xảy ra, người trí không hề sầu thảm khi biết rõ định luật vô thường của vạn vật là như thế.

Thuở xưa, bậc hiền trí khi người vợ mệnh chung, vị ấy hiểu rõ nguyên lý này nên bình tâm không hề sầu khổ.

Theo lời thỉnh cầu của nam gia chủ, Đức Thế Tôn thuật lại bổn sự Anunasociya (Không khóc người chết).

Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại), Bồtát mệnh chung từ Phạm thiên giới tái sinh vào một gia tộc Bàlamôn đại trưởng giả có tài sản là 800 triệu tiền vàng.

Khi đến tuổi trưởng thành Bồtát đi đến kinh thành Takkasilā để học nghiệp nghệ gia tộc, thông thạo ba Tạng Veda (Vệđà) cùng với những nghệ thuật của dòng dõi Bàlamôn.

Sau khi thành tài, Bồtát trở về kinh thành Bārāṇasī, tâm ý của Bồtát muốn sống đời ẩn sĩ, nhưng cha mẹ Ngài muốn Ngài thành lập gia thất, cố tìm một cô gái xinh đẹp tương xứng với gia tộc để cưới về làm vợ Bồtát, Bồtát thưa rằng:

– Con muốn sống đời sống ẩn sĩ, con sẽ sống độc thân để phụng dưỡng cha mẹ. Khi cha mẹ qua đời, con sẽ xuất gia làm ẩn sĩ.

Cha mẹ Ngài nài nỉ Ngài phải thành lập gia thất, Ngài thuê những người thợ kim hoàn, dùng vàng đúc thành một tượng nữ nhân xinh đẹp theo ý tưởng tượng của Ngài, rồi nói với cha mẹ rằng:

– Nếu cha mẹ tìm được nữ nhân xinh đẹp như pho tượng vàng này, con sẽ nhận nàng ấy là vợ.

Cha mẹ Ngài suy nghĩ: “Con của ta là bậc đại phước, chắc chắn phải có một nữ nhân cùng tạo chung việc lành với con ta”.

Cha mẹ Ngài cho 8 vị Bàlamôn thông thái mang tượng vàng đi kắp nơi để tìm người nữ xinh đẹp như pho tượng, dùng pho tượng vàng làm lễ vật rồi cưới nàng ấy về làm vợ Bồtát.

Có vị Phạm thiên mệnh chung, tái sinh về nhân giới nơi một thành phố thuộc vương quốc Kāsi với thân nữ nhân([41]), nàng có tên gọi là Samillabhāsinī, con một gia tộc Bàlamôn đại rưởng giả, có tài sản là 800 triệu tiền vàng.

Nghiệp lực dẫn lối, sau những ngày tháng dong ruỗi khắp nơi trên đất Ấn cổ, tám vị Bàlamôn thông thái tìm được nàng Samillabhāsinī.

Riêng nàng Samillabhāsinī cũng có khuynh hướng ly gia sống đời ẩn sĩ, khi nàng được 16 tuổi thì các vị Bàlamôn tìm thấy nàng như pho tượng vàng, thật ra nàng còn xinh đẹp, sống động hơn pho tượng vàng.

Tám vị Bàlamôn trao pho tượng vàng để làm sính lễ và cha mẹ nàng nhận lời.

Nghe được tin này, nàng Samillabhāsinī thưa với cha mẹ rằng:

– Thưa cha mẹ, con chỉ muốn sống đời sống ẩn sĩ; khi cha mẹ qua đời con sẽ xuất gia.

Cha mẹ nàng không chấp nhận lời thỉnh cầu của nàng và gả nàng cho Bồtát. Dù trên danh nghĩa là vợ chồng cho vui lòng cha mẹ hai bên, nhưng cả hai sống như anh em, không hề có tư tưởng dục tình sinh khởi.

Khi cha mẹ cả hai qua đời, cả hai cùng bố thí hết tài sản của mình được thừa hưởng, rồi xuất gia làm ẩn sĩ, tu tập nơi núi rừng Hymã.

Thời gian sau, cả hai rời núi rừng Hymã đi đến kinh thành Bārāṇasī để tìm muối dấm. Cả hai vị ẩn sĩ trú ngụ nơi vườn Ngự Uyển của vua Brahmadatta gần kin thành Bārāṇasī.

Vị nữ ẩn sĩ với thân hình mảnh mai, do dùng vật thực đạm bạc nên nàng lâm bịnh kiết lỵ, Bồtát ẳm nàng đi đến cổng thành, đặt nàng nằm nghỉ trên chiếc ghế dài ở trước cổng thành, rồi Ngài đi vào kinh thành tìm vật thực.

Khi Bồtát trở ra thì nữ ẩn sĩ đã mệnh chung vì kiệt sức; Ngài vẫn thản nhiên tìm nơi ngồi thọ thực. Cư dân thấy nàng nữ ẩn sĩ xinh đẹp lại mệnh chung khi tuổi còn trẻ nên họ tỏ ý thương tiếc sầu khổ, Bồtát nói với đại chúng rằng:

– Này đại chúng, có gì mà các người phải than van sầu khổ, vật gì có tính tan rã khi đến thời thì phải tan rã thôi. Tất cả những gì hiện hữu trên đời này cũng đều như thế cả.

– Thưa Ngài ẩn sĩ, nữ ẩn sĩ này là chi của Ngài?

– Khi còn tại gia, nàng là vợ của ta.

– Thưa ẩn sĩ, trong khi chúng tôi tỏ ý thương tiếc cho cái chết của nữ ẩn sĩ xinh đẹp lại còn trẻ này, vì sao Ngài vẫn điềm tỉnh khi nữ ẩn sĩ ấy là vợ của Ngài trước đây.

– Này Đại chúng, tại sao ta phải sầu muộn đối với cái chết của nữ ẩn sĩ này? Đã có sinh tất có diệt là điều phải xảy ra. Người có trí cần phải nghiệm suy tính chất vô thường của vạn vật.

Nhận diện Bổn sự.

Nữ ẩn sĩ Samillabhāsinī nay là Rāhulamātā; Bồtát nay là Đấng Như Lai.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên Bốn sự thật, nghe xong thời Pháp thoại nam gia chủ chứng Thánh quả Dự lưu([42]).

*Bổn sự Āditta (Ngọn lửa đốt cháy).

Duyên khởi.

Khi Đức vua Pasenadi (PaTưNặc) cúng dường Vô song thí đến Đức Thế Tôn và 500 vị Tỳkhưu.

Ngày hôm sau, Tăng chúng cùng nhau bàn luận trong Giảng pháp đường nơi Đại tự Kỳviên rằng:

– Này chư hiền, Đức vua Pasenadi sau khi đã suy nghiệm kỹ đã tìm thấy ruộng phước chân chính, rồi cúng dường đến chư Tăng có Đức Thế Tôn là vị Thương thủ.

Nghe được cuộc bàn luận của chư Tăng bằng thiên nhĩ siêu nhân, Đức Thế Tôn ngự đến Giảng pháp đường. Sau khi ngồi vào nơi được soạn sẵn, Đức Thế Tôn hỏi rằng:

– Này các Tỳkhưu, các ngươi đang bàn luận về vấn đề gì? Vấn đề nào được khởi lên nơi đây?

Chư Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn vấn đề đang được đàm luận, Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, điều ấy không có gì là lạ. Bậc trí ngày xưa cũng đã từng như thế, sau khi suy nghiệm kỹ, đã cúng dường trọng thể đến các bậc Thánh Đức, có Giới hạnh cao quý nhất.

Theo lời thỉnh cầu của các vị Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này([43]).

Bổn sự.

Thuở xưa có vị vua là Bharata trị vì kinh thành Roruva thuộc vương quốc Sovīra. Đức vua trị nước theo Tập vương pháp, có nàng Chánh hậu thông minh và xinh đẹp là Samuddavijayā.

Đức vua cho kiến tạo sáu Bố thí đường nơi kinh thành Roruva, 4 ở bốn cổng thành, một ở trung tâm kinh thành và một ở gần Hoàng cung để bố thí cho những người nghèo khổ, khách lỡ đường, những người cô độc không ai nuôi dưỡng. Mỗi ngày Đức vua chi cho việc bố thí này là 600 ngàn tiền vàng.

Một hôm Ngài đi du hành quan sát sáu bố thí đường, suy nghĩ rằng:

“Thí vật của ta đã bị những người tham lam, lười nhác thọ dụng, ta không thích như vậy. Ta muốn được cúng dường đến những bậc có Giới hạnh với những lễ vật quý nhất, để có được lợi ích lớn, quả báu lớn theo sự mong cầu của ta, nhưng biết tìm các Ngài nơi nào, vì núi rừng Hymã rất rộng lớn.

Khi trở về Hoàng cung, Ngài nói lên điều mình suy nghĩ với Chánh hậu Samuddavijayā, Chánh hậu thưa rằng:

– Thưa Đại vương, Ngài chớ quá lo lắng, với thành ý Đại vương hãy gửi những cánh hoa như lời thỉnh cầu, cung thỉnh các Ngài ngự đến Hoàng cung để cúng dường. Khi các Ngài ngự đến Hoàng cung, chúng ta sẽ cúng dường lễ phẩm quý giá đến các Ngài.

Đức vua hoan hỷ với lời thông minh của Chánh hậu Samuddavijaya. Hôm sau, Đức vua cho đánh trồng truyền rao khắp kinh thành rằng: “Cư dân trong thành phố hãy trai giới trọn 7 ngày”.

Riêng Đức vua cùng tất cả Hoàng tộc đều thọ trì Giới Bốtát nghiêm túc. Sau 7 ngày, Đức vua mang hộp vàng bên trong chứa những cánh hoa xinh đẹp tươi thắm, đứng giữa sân Hoàng cung Ngài đảnh lễ theo cách năm chi chạm đất, hướng tâm về phương Đông, nguyện rằng:

– Đệ tử xin đảnh lễ những bậc Thánh giả ở phương Đông, Kính thỉnh các Ngài ngự đến Hoàng cung để thọ vào ngày mai.

Đức vua tung lên hư không về phương Đông 7 nắm hoa. Vì không có vị Phật Độc giác nào trú ngụ ở hướng Đông, nên hôm sau không có vị Thánh giả nào ngự đến Hoàng cung cả.

Hôm sau, Đức vua hướng về phương Nam, đảnh lễ rồi nguyện như trên, tung lên hư không 7 nắm hoa. Ở hướng Nam không có vị Phật Độc giác nào trú ngụ cả.

Ngày thứ ba, Đức vua hướng về phương Tây, đảnh lễ rồi nguyện như trên, tung lên hư không 7 nắm hoa. Ở hướng Tây cũng không có vị Độc giác Phật nào trú ngụ.

Ngày thư tư, Đức vua đảnh lễ rồi hướng tâm về phương Bắc và nguyện như trên, rồi tung lên hư không 7 nắm hoa.

Chư thiên nơi kinh thành Roruva hướng những cánh hoa rơi xuống chân 500 vị Phật Độc giác đang trú ngụ nơi động Nandamūlapabbhāra trong núi Gandhamādana (Hương sơn), ở phương Bắc.

Vị Độc giác Phật trưởng đoàn nói rằng:

– Này các Tôn giả, Đức vua Bharata thỉnh cầu cúng ta ngự đến Hoàng cung thọ thực vào ngày mai. Chúng ta hãy đáp lời thỉnh nguyện của Đức vua Bharata, để làm tăng trưởng niềm tin tốt đẹp nơi tâm của vị vua hiền đức này.

Hôm sau, năm trăm vị Phật Độc giác theo đường hư không đi đến Hoàng cung, các Ngài hạ thân nơi giữa sân Hoàng cung. Thấy các bậc Thánh giả từ hư không ngự xuống, Đức vua và Chánh hậu Samuddavijayā vô cùng hân hoan, từ nội cung bước ra đi đến giữa sân Hoàng cung đảnh lễ các Ngài, thỉnh các Ngài ngự vào Hoàng cung rồi cúng dường vật thực thượng vị đến các Ngài, tự thân Đức vua và Chánh hậu phục vụ các Ngài.

Sau khi các Ngài thọ thực xong, Đức vua và Chánh hậu thỉnh các Ngài ngự đến Hoàng cung thọ thực vào ngày mai.

Liên tiếp 7 ngày, Đức vua và Chánh hậu cúng dường đến 500 vị Phật Độc giác với các loại vật thực thượng vị trân quý nhất.

Vào ngày thứ 7 sau khi các vị Phật Độc giác thọ thực xong, Đức vua và Chánh hậu sắp đặt cúng dường đến 500 vị Phật Độc giác những dụng cụ cần thiết của đời sống Samôn, dâng lên mỗi vị một bộ Tam y đắc giá nhất, ngoài ra còn có ghế dài, ghế ngắn để các Ngài nằm hay ngồi … Tất cả đều là những vật có giá trị cao nhất.

Sau khi cúng dường xong, Đức vua và Chánh hậu đảnh lễ dưới chân 500 vị Phật Độc giác.

Vị Trưởng đoàn cùng 6 vị Phật Độc giác trong số 500 vị Phật Độc giác, mỗi vị nói lên một câu kệ ngôn tùy hỷ phước cao quý của Đức vua và Chánh hậu đã tạo, rồi các Ngài theo đường hư không trở lại núi Gandhamādana, các lễ vật cũng theo đường hư không đến nằm nơi động Nandamūlapabbhāra trước sự chứng kiến của Đức vua Bharata, Chánh hậu Samuddavijayā và cư dân kinh thành Roruva.

Nhận diện Bổn sự.

Chánh hậu Samuddavijayā nay là Rāhulamāta, Đức vua Bharata nay là Đấng Như Lai([44]).

*Bổn sự Udaya (Vua Thiện Lai).

Duyên khởi.

Khi Đức Thế Tôn ngự trú nơi Đại tự KỳViên. Bấy giờ có vị Tỳkhưu thối thất tinh tấn do cảm dục với một nữ nhân, muốn từ bỏ Học giới trở về với đời sống tại gia.

Chư Tỳkhưu mang vấn đề này trình lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn cho gọi vị Tỳkhưu ấy đến, hỏi rằng:

– Này Tỳkhưu, được nghe rằng: “Ngươi vì cảm dục với một nữ nhân, nên muốn lìa bỏ đời sống Phạm hạnh trong Giáo pháp này”, có đúng như thế không?

– Bạch Thế Tôn, sự thật đúng như vậy.

Đức Thế Tôn khiển trách rằng:

– Này Tỳkhưu, vì sao ngươi lại thối thất trong Giáo pháp trong sáng, mang đến an lành cho tựu giải thoát chỉ vì thamdục? Các bậc trí ngày xưa dù làm chủ một vương quốc rộng lớn, có Kinh thành phồn thịnh vuông vức 12 dotuần, dù suốt cả 700 năm cùng phòng với một nữ nhân xinh đẹp như Thiên nữ, cũng không hề bị lôi cuốn vào dục vọng, thậm chí không hề đưa mắt nhìn nàng với tâm tà vạy.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Udaya.

Bổn sự.

Thuở xưa khi vua Kāsi trị vì kinh thành Surundha([45]), Đức vua hiếm muộn con nên ra lịnh cho các Vương phi cầu tự.

Từ Phạm thiên giới, Bồtát mệnh chung tái sinh vào thai bào của bà Chánh cung. Sau 10 tháng trú trong thai bào,Bồtát ra khỏi lòng mẹ, vì khi sinh ra làm cho Hoàng tộc luôn cả thần dân trong Vương quốc Kāsi hân hoan nên Ngài được đặt tên là Udayabhadda (Thiện lai).

Khi Thái tử Udayabhadda đi chập chững, một vị Phạm thiên khác cũng vừa mệnh chung, tái sinh vào thai bào của một Vương phi với thân nữ nhân.

Khi sinh ra nàng công nương này được đặt tên là Udayabhaddā. Khi đến tuổi trưởng thành, Thái tử Udaya tinh thông mọi môn nghệ thuật của Hoàng tộc, Đức vua Kāsi muốn làm lễ Đăng quang cho Thái tử, trị vì quốc độ Kāsi. Thái tử thưa rằng:

– Thưa cha, con chẳng thiết tha đến ngai vàng này, con chỉ muốn xuất gia làm ẩn sĩ.

– Này con, không được đâu. Con là nơi kỳ vọng của Hoàng tộc cùng thần dân của quốc độ. Con phải cưới vợ rồi làm lễ Đăng quang, thay cha trị vì vương quốc này.

Thái tử Udaya gọi những thợ kim hoàn tài giỏi nhất đến, đúc cho Ngài pho tượng mỹ nhân bằng vàng theo sự tưởng tượng của Ngài, rồi thưa với Đức vua rằng:

– Thưa cha, khi nào tìm được nữ nhân giống như pho tượng mỹ nhân này, khi ấy con mới nhận nữ nhân ấy là vợ.

Đức vua cho các vị Bàlamôn thông thái mang pho tượng vàng đi khắp nơi, nhưng không tìm thấy nàng nào xinh đẹp như pho tượng.

Khi trở về kinh thành Surundha, các vị Bàlamôn đi đến bến nước, đặt pho tượng gần nơi bến nước. Một nữ tỳ trong cung của nàng Udayabhaddā ra bến nước lấy nước, nhìn thấy pho tượng, nàng kêu lên:

– Ồ! Vì sao công nương lại ra bến nước này.

Thế là các vị Bàlamôn tìm thấy nàng Udayabhaddā, nàng còn xinh đẹp hơn pho tượng vàng. Và Thái tử Udayabhadda buộc phải cưới công nương Uddayabhaddā, rồi làm lễ Đăng quang.

Cả hai vì từ Phạm thiên giới tái sinh về nhân giới, do Phạm thiên hạnh trong quá khứ, khiến tâm hai vị không hề khởi lên dục tình. Dù sống chung phòng với công nương xinh đẹp như thiên nử suốt 700 năm, Đức vua Udayabhadda xem nàng như em gái, không hề có tâm ô nhiễm đối với nàng, ngay cả một cái nhìn có tâm tham dục đối với nàng cũng không hề có.

Nàng Udayabhaddā cũng có tâm trong sạch đối với Đức vua Udayabhadda như thế.

Không những thế, cả hai có giao ước với nhau rằng: “Nếu người nào mệnh chung trước, hãy trở về thông báo cho người kia biết nơi tái sinh của mình”.

Sau 700 năm cai trị vương quốc Kāsi, Đức vua Udayabhadda mệnh chung tái sinh làm vua Trời Sakka (ĐếThích). Vì Đức vua Udayabhadda không có người nối dõi, nên vương quốc được giao cho nàng Udayabhaddā điều hành.

Sau 7 ngày (tính theo nhân loại là 700 năm) thọ hưởng thiên lạc nơi cõi Tāvatiṃsa (Bamươi ba), vua Trời Sakka nhớ lại lời giao ươc của mình với nàng Udayabhaddā, để thử tâm nàng, vua Trời Sakka mang chiếc đỉa bằng vàng ròng nơi thiên giới, xuất hiện nơi phòng của nàng Udayabhaddā. Ngài đưa chén vàng ra rồi tán tỉnh nàng ưng thuận làm vợ Ngài. Nàng đáp rằng:

– Từ khi ta làm vợ Đại vương Udayabhadda, tâm ta chưa hề khởi lên dục tình. Khi Đức vua Udayabhadda mệnh chung, tâm ta muốn xuất gia thành ẩn sĩ nơi rừng sâu.

Vua Trời Sakka tiếp tục tán tỉnh rồi khuyến dụ nàng, nàng Udayabhaddā nói rằng:

– Này vị thiên tử kia, ngươi hãy đi khỏi nơi này, đừng có quấy rầy ta.

Do uy lực giới hạnh của nàng, vua Trời Sakka không thể đứng yên đành biến mất tại chỗ như giả từ nàng Udayabhaddā.

Đêm hôm sau, cũng vào giờ ấy thiên vương Sakka xuất hiện nơi phòng nàng Udayabhaddā, trên tay cầm chiếc đĩa bằng bạc tinh anh, vua Trời đưa chén bạc ra rồi tỏ lời tán tỉnh nàng. Nàng Udayabhadā suy nghĩ:

– Nếu ta không tỏ thái độ dứt khoát, gã thiên tử này sẽ đến đây quấy rầy ta mãi. Vậy ta hãy lim lặng không nói tiếng nào cả.

Vua Trời Sakka thấy nàng im lặng, mặc cho Ngài muốn nói gì thì nói, đành biến mất tại chỗ.

Ngày thứ ba, vua Trời Sakka lại đến với đĩa đồng đựng đầy tiền vàng, thấy thế nàng châm biếm rằng:

– Thiên tử này thật keo kiết, lễ vật cầu hôn cứ giảm dần.

– Này nàng, ta là kẻ đi buôn, phải nhận định rõ giá trị của món hàng. Nàng mỗi ngày một già đi, nhan sắc của nàng cũng suy giảm cho nên giá trị phải giảm thôi.

– Ta nghe nói rằng: “Trên thiên giới không có sự già trên thânthể”. Điều này là một điều an lạc, này Thiên vương, hãy nói cho ta biết con đường đi đến Thiên giới đi.

– Này nàng, muốn được sinh về Thiên giới, cần phải gìn giữ thân, ngữ, ý không cho rơi vào ác giới. Có tâm hào sảng phân phát những gì mình có đến người khác, lánh xa những ác nghiệp.

Nghe được con đường dẫn về thiên giới, nàng Udayabhaddā tỏ lời tri ân vua Trời Sakka. Vua Trời Sakka nói rằng:

– Ta chính là Đức vua Udayabhadda, ta đến đây để thử tâm của nàng, hiện tại ta tái sinh về cõi Trời Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba). Nay ta đến báo tin cho nàng rõ, đúng theo lời giao ước khi xưa, nàng hãy giữ giới hạnh thật thanh nghiêm, nàng sẽ đến được thiên giới Ba mươi Ba vậy.

Rồi vua Trời Sakka từ giả nàng Udayabhaddā trở về thiên giới.

Hôm sau, nàng Udayabhaddā cho triệu tập các vị Đại thần đến, giao vương quốc cho các vị Đại thần, rồi nàng xuất gia làm ẩn sĩ, sống trong biệt điện cho đến khi mệnh chung, tái sinh về cõi Ba mươi Ba, là thiên hậu của vua Trời Sakka.

Nhận diện Bổn sự.

Nàng Udayabhaddā nay là Rāhulamātā, Đức vua Udayabhadda nay là Đấng Như Lai([46]).

*Bổn sự Kumbhakāra (Người thợ gốm).

Duyên khởi.

Khi Đức Thế Tôn trú nơi Đại tự KỳViên.

Theo thông lệ, Đức Thế Tôn dùng Phật trí quán sát các Tỳkhưu đệ tử, ban ngày ba lần, ban đêm ba lần để kịp thời tế đô đệ tử, ví như chim dẽ ấp trứng luôn trông chừng trứng của mình hay như con bò Yak giữ gìn cái đuôi luôn chăm sóc cái đuôi không cho rụng một sợi lông đuôi hay như người bảo vệ con mắt còn lại của mình.

Có 500 vị Tỳkhưu thuộc dòng ThíchCa xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn. Vào lúc nửa đêm, cả 500 vị khởi lên dục tưởng, Đức Thế Tôn với tâm mình biết được tâm của 500 vị Tỳkhưu, Ngài dạy Ngài Ānanda rằng:

– Này Ānanda, hãy cho gọi 500 vị Tỳkhưu ấy đến Giảng Pháp đường.

– Vâng, bạch Đức Thế Tôn.

Khi 500 vị Tỳkhưu được lịnh Đức Thế Tôn, tề tựu nơi Giảng pháp đường, Đức Thế Tôn đi đến Giảng pháp đường, ngồi vào nơi được soạn sẵn, dạy năm trăm vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhưu, các ngươi sống đời sống Phạm hạnh trong Giáo pháp này. Nếu các ngươi để dục tưởng chi phối là điều không thích hợp, khi dục tưởng tăng trưởng sẽ trở thành kẻ thù lớn của các ngươi, vị Tỳkhưu phải tự khiển trách lỗi lầm dù nhỏ nhặt nhất của mình.

Bậc trí ngày xưa đã tự khiển trách lỗi lầm nhỏ của mình và thành tựu địa vị Phật Độc giác.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại) của vương quốc Kāsi. Bồtát sinh ra trong một gia đình làm đồ gốm ở ngoài kinh thành Bārāṇasī, khi trưởng thành Ngài thành lập gia thất, có được trai và một gái. Ngài hành nghề gốm để nuôi dưỡng vợ con.

* Đức Phật Độc giác Karaṇdu.

Thuở ấy, nơi vương quốc Kaliṅga có kinh thành là Dantapura, trị vì kinh thành Dantapura là Đức vua Karaṇḍu.

Một lần nọ Đức vua Karaṇḍu đi dạo chơi vườn Ngự Uyển, trước cổng đi vào Ngự Uyển có một cây xoài trỉu nặng những trái xoài chín, đi ngang qua cây xoài, từ trên lưng voi, Đức vua đưa tay hái một chùm xoài chín.

Khi đi vào vườn hoa, Đức vua ngồi nơi gốc cổ thụ, sai người hầu ép nước xoài cho Đức vua dùng, Đức vua ban những trái xoài cho lại cho những người được ân sủng.

Vào buổi chiều, Đức vua ngự về Hoàng cung, đi ngang qua cây xoài ban sáng, Ngài thấy nó xác xơ, có những cành cây bị gẩy, nhìn sang Ngài thấy cây xoài khác còn nguyên vẹn. Ngạc nhiên, Ngài hỏi:

– Này các Đại thần, cây xoài này ban sáng còn tươi tốt, giờ đây sao bị tơi tả như thế này?

– Thưa Đại vương, vì Đại vương hái xoài để thọ dụng. Trước đây, Đại vương chưa thọ dụng xoài nên mọi người không dám thọ dụng trước Đại vương, khi Đại vương hái xoài rồi thì mọi người đua nhau hái xoài và cây xoài trở nên xơ xác.

– Thế còn cây xoài kia sao không bị xơ xác.

– Thưa Đại vương, vì cây xoài kia không có trái.

Đức vua Karaṇḍu suy gẫm rằng: “Cây xoài kia tươi tốt do không có trái nào, cây xoài này vì có nhiều trái ngon ngọt nên gặp tai họa. Chính vương quyền của ta là điều mong ước của nhiều người, ví như cây xoài có trái ngon ngọt, chính vương quyền là nơi chứa đầy hiểm họa diệt vong.

Đời sống tại gia thật quá nhiều hệ lụy, trái lại, đời sống xuất gia an nhàn không vướng bận”.

Dùng cây có trái và không trái làm đối tượng phát huy tuệ quán và ngay tại chỗ đứng Đức vua Karaṇḍu chứng đạt địa vị Phật Độc giác.

Các vị Đại thần thưa rằng:

– Thưa Đại vương, Ngài đứng đây đã quá lâu.

– Này các Đại thần, nay ta không còn là vị Đại vương nữa, ta là vị Độc giác Phật.

– Thưa Đại vương, vị Phật Độc giác không có phẩm mạo như Đại vương , Ngài phải là vị xuất gia.

Đức Phật Độc giác Karaṇḍu đưa tay lên vuốt đầu, lập tức râu tóc rụng hết, vương phục biến mất trên mình xuất hiện 8 dụng cụ của vị Samôn, đó là:

Ticīvarañca patto ca, vāsi sūci ca bandhanaṃ;

Parissāvanena aṭṭhete, yuttayogassa bhikkhuno’’ti. –

“Tam y, bát, kim may, dao cao tóc, vải lọc nước và dây đai.

Là tám món vật dụng cần có, dính liền với vị Tỳkhưu”.

Đức Phật Độc giác theo đường hư không đến động Nandamūla ở phương Bắc núi Hymãlạpsơn để trú ngụ.

* Đức Phật Độc giác Naggaji.

Nơi quốc độ Kasmīra- Gandhāra có kinh thành trù phú là Takkasilā, trị vì vương quốc này là Đức vua Naggaji.

Một hôm đứng trên sân thượng của Hoàng cung, nhìn thấy một nữ nhân đang xay tán hương liệu, trên tay nàng mỗi tay có đeo chiếc vòng vàng sáng bóng, một lúc sau nàng tháo vòng ngọc tay phải ra đeo sang tay trái, dùng tay phải để thu nhặt hương liệu.

Hai chếc vòng vàng chạm nhau kêu leng keng, Đức vua suy nghĩ: “Mỗi chiếc vòng ở một nơi thì yên lặng, khi chúng cùng ở chung với nhau thì sinh ra tiếng động”.

Đức vua lấy đề tài này để suy quán về lợi ích của sự an tịnh và chứng đạt Phật Độc giác và Ngài theo đường hư không đến động Nandamūla hội kiến với các vị Phật Độc giác.

*Đức Phật Độc giác Nimi.

Trị vì kinh thành Mithilā của vương quốc Videha là Đức vua Nimi.

Một hôm Đức vua nhìn thấy con diều hâu đang bay trên không trung mỏ ngậm miếng thịt, nó bị đàn chim Ưng đuổi theo tấn công tới tấp nên đành nhả miếng thịt ra, con chim Ưng khác vừa tha được miếng thịt, lập tức chúng bị những con chim Ưng khác tấn công.

Đức vua Nimi suy gẫm: “Tiền tài, danh vọng như miếng mồi ngon, là đối tượng để những kẻ khác tấn công tranh cướp”.

Suy quán đến sự nguy hiểm của ngũ dục, Đức vua chứng đạt Độc giác Phật, Ngài từ bỏ 16 ngàn mỹ nữ xinh đẹp cùng cung điện nguy nga, theo đường hư không đến động Nandamūla hội kiến với các vị Phật Độc giác.

*Đức Phật Độc giác Dummakha.

Nơi kinh thành Kampilla của vương quốc Uttarapañcāla, Đức vua Dummakha cai trị vương quốc này.

Một hôm từ nơi cửa sổ cung điện, Ngài nhìn xuống sân Hoàng cung, thấy nhiều con bò đực tranh nhau con bò cái. Con bò đực khỏe mạnh nhất đã húc chết nhiều con bò đối thủ, những con bò không tranh chấp thì được an toàn. Đức vua quán tưởng về sự nguy hại của lòng tham dục và Ngài chứng đắc địa vị Độc giác Phật.

Vị Phật Độc giác Dummakha theo đường hư không đến động Nandamūla hội kiến với các vị Phật Độc giác.

Một hôm, bốn vị Phật Độc giác cùng đi đến hồ Anotatta (Vô nhiệt) sau khi tắm rửa, làm vệ sinh xong, các Ngài theo đường hư không đến kinh thành Bārāṇasī (Balanại) để khất thực.

Các Ngài hạ thân ở ngoài thành Bārāṇasī, đấp y tề chỉnh, rồi ôm bát đi khất thực. Các Ngài dừng chân nơi nhà người thợ gốm, nhìn thấy bốn vị Samôn đang khất thực nơi nhà của mình, Bồtát vô cùng hân hoan, thỉnh các Ngài ngự vào nhà, ngồi vào chỗ ngồi được soạn sẵn. Bồtát cúng dường các Ngài những vật thực thượng vị mà mình có được.

Sau khi các Ngài thọ thực xong, Bồtát đến đảnh lễ các Ngài rồi ngồi xuống một bên hợp lẽ, bạch rằng:

– Thưa các Tôn giả, các quyền của các Ngài thật thanh tịnh, làn da của các Ngài thật trong sáng. Đời sống xuất gia của các Ngài thật nhiều hạnh lạc.

Bạch các Ngài, do nhân nào các Ngài lìa bỏ gia đình sống đời sống không gia đình.

Vị Phật Độc giác trưởng Karaṇḍu thuật lại câu chuyện của mình, rồi nói kệ ngôn.

90- Ambāhamaddaṃ vanamantarasmiṃ;

nilobhāsaṃ phalitaṃ saṃvirūḷhaṃ.

Tamaddasaṃ phalahetu vibhaggaṃ;

taṃ disvā bhikkhācariyaṃ carāmi.

“Cây xoài ta thấy ở rừng xanh;

Đen rậm cao to, trái trĩu cành.

Vì trái, con người đã phá gãy

Lòng ta chính thế muốn cầm bình”.

Đức Phật Độc giác Naggaji thuật câu chuyện của mình rồi nói kệ ngôn.

91- Selaṃ sumaṭṭhaṃ naravīraniṭṭhitaṃ;

nārī yugaṃ dhārayi appasaddaṃ.

Dutiyañca āgamma ahosi saddo;

taṃ disvā bhikkhācariyaṃ carāmi.

“Vòng sáng nhờ tay thợ nỗi danh;

Người đeo một chiếc chẳng âm thanh.

Chiếc kia va chạm gây huyên náo.

Vì thế lòng ta muốn chiếc bình”.

Đức Phật Độc giác Nimi nói kệ ngôn sau khi thuật chuyện của mình.

92-Dijā dijaṃ kuṇapamāharantaṃ;

ekaṃ samānaṃ bahukā samecca.

Āhārahetū paripātayiṃsu;

taṃ disvā bhikkhācariyaṃ carāmi.

“Đàn chim xâu xé vật có thân;

Đơn độc mang theo miếng thịt ăn.

Chim bị đánh đau vì miếng thịt;

Lòng ta chính thế muốn ly trần”.

Tương tự như vậy với Đức Phật Độc giác Dummakha, Ngài nói kệ ngôn.

93- Usabhāhamaddaṃ yūthassa majjhe;

calakkakuṃ vaṇṇabalūpapannaṃ.

Tamaddasaṃ kāmahetu vitunnaṃ;

taṃ disvā bhikkhācariyaṃ carāmī’’ti.

“Bò đực kiêu căng giữa đám bò;

Vươn lưng khỏe đẹp, bước chân ra.

Chết vì lòng dục, sườn đâm mạnh.

Do vậy, lòng ta muốn xuất gia” (B. Trần Phương Lan d).

Nghe mỗi kệ ngôn, Bồtát đều tán thán rằng:

– Lành thay, lành thay, lời dạy của các Ngài thật chí lý.

Rồi các vị Độc giác Phật từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Sáng hôm sau, khi dùng điểm tâm xong, Bồtát nói với vợ rằng:

– Này nàng, bốn vị Đại vương nhận thấy sự ràng buộc khi sống đời sống tại gia nên lìa bỏ đời sống nhung lụa xuất gia thành ẩn sĩ, đời sống của các Ngài thật an lạc. Trong khi ta phải vất vả hằng ngày với cuộc sống, so với các Ngài, ta có là gì đâu, thế mà các Ngài còn từ bỏ để sống hạnh ly trần.

Này nàng, nay ta không còn thích thú với đời sống gia đình nữa, ta sẽ xuất gia làm ẩn sĩ. Nàng hãy ở lại chăm sóc các con.

Nàng Kumbhakārī([47]) cũng muốn sống đời sống ẩn sĩ nên nói với chồng rằng:

– Thưa anh, khi nghe được lời cao quý của bốn vị ẩn sĩ, em cũng không tha thiết đến đời sống gia đình nữa, em cũng muốn được xuất gia mà thôi.

Anh là trụ cột của gia đình, vậy anh hãy chăm sóc các con , còn em xin anh cho em được xuất gia.

Nghe vợ nói như thế, Bồtát im lặng.

Nàng suy nghĩ rằng: “Cả chồng ta và ta đều có ý nghĩ xuất gia. Vậy ta phải xuất gia trước mới được”. Nàng lấy chiếc bình giả vờ ra bến nước lấy nước mang về nhà, nàng đi thẳng đến các ẩn sĩ đang trú ngụ ngoài kinh thành Bārāṇasī, xin các Ngài tế độ cho nàng xuất gia thành nữ ẩn sĩ.

Không thấy vợ trở về, Bồtát đành phải ở lại nhà để chăm sóc hai đứa con. Khi chúng có trí có thể hiểu biết đôi chút, Ngài muốn thử trí của các con mình, hôm thì Ngài nấu cơm khô còn sống, hôm thì Ngài nấu cơm vừa chín, hôm thì Ngài nấu cơm nhão, có hôm Ngài cho chúng dùng cơm nhạt không muối, có hôm Ngài cho chúng dùng cơm có quá nhiều muối.

Các con Ngài kêu rằng:

– Cha ơi! Hôm nay cơm chưa chín.

– Này các con, thật vậy, hôm nay cơm chưa chín.

– Cha ơi! Hôm nay cơm nhão … cha ơi, hôm nay cơm nhạt quá … cha ơi, hômnnay cơm mặn quá …

Bồtát suy nghĩ: “Các con của ta đã có trí, biết nhận định rồi”.

Ngài mang chúng đến gửi cho các thân tộc, rồi xuất gia thành ẩn sĩ.

Thời gian sau, nữ ẩn sĩ lại gặp lại Bồtát, nghĩ đến hai con nàng đi đến ẩn sĩ. Sau khi đảnh lễ Ngài, nữ ẩn sĩ thưa rằng:

– Thưa Tôn giả, tôi chắc Tôn giả đã giết hai con mình rồi ra đi xuất gia để không phải vướng bận.

– Này nữ ẩn sĩ, không phải thế đâu. Ta đã nuôi dưỡng chúng, khi chúng có trí nhận biết chút ít, có thể tự lo thân được, ta gửi chúng đến nương nhờ các thân tộc rồi.

Rồi Ngài khuyến giáo nữ ẩn sĩ rằng:

– Này nữ ẩn sĩ, nàng hãy tìm nơi thanh vắng, tu tập sự an tịnh nội tâm, nàng không nên tìm đến ta nữa.

Nghe vậy nữ ẩn sĩ hoan hỷ rằng:

– Lành thay, lành thay, thưa Tôn giả.

Sau lần đó, hai vị không bao giờ gặp lại nhau. Bồtát tinh cần thực hành thiền tịnh chứng đạt thiền cùng Thắng trí, khi mệnh chung Ngài tái sinh về Phạm thiên giới.

Nhận diện Bổn sự.

– Nàng Kumbhakārī nay là nàng Rāhulamātā, con trai nay là Thái tử Rāhula, con gái nay là Thánh nữ Upalavaṇṇā. Còn Bồtát nay là Đấng Như Lai([48]).

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên Bốn sự thật. Nghe xong Pháp thoại năm trăm vị Tỳkhưu chứng Thánh quả Dự lưu.

*Bổn sự Pānīya (Ngụm nước uống).

Duyên khởi.

Tương tự như câu chuyện trên, nhưng có khác chi tiết là: Có năm trăm gia chủ là bạn của nhau, trú ngụ nơi thành Sāvatthi (Xávệ).

Sau khi nghe Pháp từ Đức Thế Tôn, cả 500 người cùng xuất gia Tỳkhưu trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Trong đêm, cả 500 vị Tỳkhưu khởi dục tưởng, Đức Thế Tôn dạy Ngài Ānanda: “Hãy triệu tập 500 vị Tỳkhưu đến Giảng pháp đường”.

Sau khi khiển trác 500 vị Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì vương quốc Kāsi, có kinh thành là Bārāṇasī.

a- Chuyện uống trộm ngụm nước.

Có hai người bạn cùng trú trong một ngôi làng của quốc độ Kāsi. Một hôm cả hai cùng ra đồng làm việc, mỗi người mang theo một bình nước để uống khi khát nước.

Một trong hai người khi khát nước, đến nơi để hai bình nước, ngưởi ấy lấy bình nước của người bạn uống một ngụm nước.

Buổi chiều khi làm việc xong, cả hai đi xuống hồ nước để tắm rửa, người uống trộm nước tự kiểm rằng: “Hôm nay ta có làm gì sai phạm chăng?”, ông chợt nhớ lại: “Ta đã uống một ngụm nước của bạn ta mà chưa hỏi xin, như vậy ta đã phạm vào giới trộm cắp rồi”. Ông suy nghĩ rằng:

– Ta đã bất cẩn chạy theo lòng tham , uống trộm ngụm nước. Nếu tham dục này tăng trưởng trong ta, nó sẽ dẫn ta rơi vào khổ cảnh”.

Vị ấy đưa tâm quán xét về sự tai hại của tham dục, dẫn đến hiểm họa lớn, chứng đắc Thắng trí, trở thành vị Phật Độc giác.

Người bạn sau khi tắm xong, nói rằng:

– Này bạn, chúng ta hãy trở về nhà.

– Này gia chủ, ông hãy trở về nhà đi. Nhà đối với ta không còn có ý nghĩa gì nữa.

– Này bạn, vì sao thế?

– Này gia chủ, vì ta đã trở thành vị Phật Độc giác.

Ngỡ bạn mình quẩn trí, người nông dân kia nói.

– Này bạn, vị Độc giác Phật không có hình tường tại gia như bạn đâu, Ngài phải là bậc xuất gia.

– Thật vậy sao?

Ngài đưa tay vuốt lên đầu, lập tức râu tóc rụng hết, trên người xuất hiện 8 vật dụng của bậc Samôn. Rồi Ngài theo đường hư không đến động Nandamūla.

b- Chuyện liếc trộm vợ người.

Có một thương nhân sống trong ngôi làng của vương quốc Kāsi. Môt hôm, người thương nhân đang ngồi nơi cửa hàng của mình, một người đưa vợ đến cửa hàng của thương nhân để mua hàng.

Vợ người này rất xinh đẹp, nhìn thấy vợ người khác, người thương buôn khởi ý tà dục, trong khi nói chuyện với người chồng, ông khẻ đưa mắt liếc trộm vợ người khách. Chợt tâm ông phát sinh hối hận rằng:

– Ta đã để cho dục vọng lôi cuốn rồi, vì sao ta lại liếc trộm vợ người khác với tâm đầy cảm dục? Nếu ta để cho sự tham dục này tăng trưởng, nó sẽ dẫn ta đến khổ cảnh.

Người thương nhân đứng suy tư về nỗi khổ của lòng tham dục, phát huy trí quán trở thành vị Phật Độc giác và Ngài theo đường hư không đi đến động Nandamūla của rặng núi Gandhamādana (Hương sơn).

c- Chuyện nói dối.

Có hai cha con sống trong ngôi làng thuộc vương quốc Kāsi, cùng nhau đi đến kinh thành Bārāṇasi (Balanại) do một vài công việc cần thiết.

Trên đường đi, cả hai đến một khu rừng, trong rừng có một bọn cướp, chúng thường chận bắt người qua rừng để đòi tiền chuộc.

Nếu chúng bắt được hai cha con, chúng giữ người con lại, cho người cha ra về mang tiền chuộc đến nhận lấy người con về; nếu là anh em, chúng giữ người em lại cho người anh ra về mang tiền chuộc đến; nếu là hai thầy trò, chúng giữ người thầy lại, cho người trò ra về mang tiềnchuộc đến.

Thấy thấp thoáng bóng bọn cướp, người cha bảo con rằng:

– Nếu bọn cướp bắt được cha con chúng ta, con đừng gọi ta là cha và ta cũng không gọi con là con.

– Vâng, thưa cha.

Bọn cướp bắt được hai cha con, sau khi vơ vét tài sản họ mang theo, hỏi rằng:

– Ai là cha, ai là con?

Cả hai đều đáp rằng:

– Chúng ta chẳng ai là cha, cũng chẳng ai là con cả. Chúng ta chỉ gặp nhau trên đường đến đây thôi.

Bọn cướp thả hai cha con ra. Khi xuyên qua khu rừng, đến cái hồ có nước trong mát, hai cha con xuống tắm rửa. Người con xem xét lại lỗi lầm của mình, nhớ ra rằng: “Ta đã nói dối bọn cướp. Ta vì tài sản hay mạng sống nên đã vi phạm giới hạnh, nếu ta cứ để cho ác pháp tăng trưởng, ta sẽ rơi vào khổ cảnh”.

Người con đứng lặng yên suy tưởng đến ân đức giới rồi phát huy tuệ quán, chứng đạt địa vị Phật Độc giác. Ngài theo đường hư không đi đến động Nandamūla.

d- Chuyện sát sinh để làm lễ tế đàn.

Trong một ngôi làng của vương quốc Kāsi, người thôn trưởng ra lịnh thôn dân không được sát sinh.

Theo thông lệ của làng, hằng năm có tổ chức lễ tế đàn để cúng dường đến thần lửa. tế đàn ấy phải giết trâu bò, dê … lấy máu tế thần.

Thôn dân cùng đi đến nhà thôn trưởng nói rằng:

– Thưa chủ, đây là thông lệ hằng năm của làng, xin chủ nhân cho chúng tôi được giết dê, bò … để lấy máu tế thần lửa.

– Nếu là thông lệ của làng, các ngươi hãy làm theo thông lệ ấy đi.

Người thôn trưởng đứng trền lầu nhìn qua của sổ, thấy rất nhiều sinh vật bị giết để lấy máu tế thần lửa, ông suy nghĩ:

– Ta đã vi phạm một ác trọng nghiệp rồi, ta đã cho phéo những người này sát hại sinh chúng. Ôi ! Đây là một ác nghiệp rất lớn đã đến với ta.

Vị thôn trưởng đứng bên cửa sổ suy quán về ân đức không sát hại sinh vật, rồi phát huy Tuệ quán chứng đạt địa vị Phật Độc giác.

Ngài theo đường hư không đi đến hang Nandamūla.

đ- Chuyện cho bán rượu.

Một thôn trưởng khác thuộc quốc độ Kāsi, ông ra lịnh không được bán rượu trong làng.

Theo thông lệ của dân làng, hằng năm mở lễ hội 7 ngày để dân làng vui chơi. Dân làng đến thưa với vị Thôn trưởng rằng:

– Thưa chủ, theo thông lệ, dân làng được vui chơi trong 7 ngày, nhưng lễ hội không có rượu thì sự vui thích bị tổn giảm. Vậy chủ hãy cho bán rượu trong 7 ngày để chúng tôi vui lễ hội.

– Nếu là thông lệ thì các ngươi cứ làm theo thông lệ ấy đi.

Dân làng vui chơi lễ hội, uống rượu mạnh rồi gây sự lẫn nhau. Kẻ bị vỡ đầu, người bị gãy tay, bị thương tích, nhiều người vi phạm luật làng bị trừng phạt …

Người thôn trưởng suy nghĩ:

– Nếu ta nghiêm khắc cấm đoán thì sự tác hại của rượu mạnh không xảy ra như thế này. Như vậy, chính ta đã gây ra sự bất an trong làng này.

Ông cảm thấy hối tiếc cho việc làm thiếu suy nghĩ của mình, rồi vị thôn trưởng suy gẫm đến sự từ bỏ chất rượu say mang lại nhiều lợi ích, tâm thôn trưởng hân hoan, phát huy trí quán thành đạt địa vị Phật Độc giác và Ngài theo đường hư không đến hang Nandamūla.

Thời gian sau, năm vị Độc giác Phật theo đường hư không đến kinh thành Bārāṇasī để khất thực.

Nơi lầu cao của Hoàng cung, Đức vua Brahmadatta nhìn xuống đường phố, thấy các Ngài đang khất thực với phong cách trang nghiêm thanh tịnh. Tâm Đức vua hân hoan thỉnh các Ngài ngự đến Hoàng cúng dường vật thực đến các Ngài.

Sau khi các Ngài thọ thực xong, Đức vua và Chánh hậu đi đến đảnh lễ các Ngài rồi bạch hỏi rằng:

-Bạch các Ngài, do nhân nào các Ngài sống đời sống ẩn sĩ.

Mỗi vị Phật Độc giác nói lên kệ ngôn, thuật lại kỳ tích của mình.

Nghe được năm kỳ tích của năm Ngài, Đức vua vô cùng hân hoan tán thán rằng:

– Hạnh phúc thay, an lạc thay sự xuất gia của các Ngài.

Đức vua và Chánh hậu cúng dường mỗi Ngài một bộ Tam y đắt giá cùng những lễ vật quý giá khác.

Các vị Phật Độc giác từ chỗ ngồi đứng dậy, theo đường hư không trở về động Nandamūla, các lễ phẩm cũng theo đường hư không đến động Nandamūla nằm trên mặt đất.

Từ khi nghe được kỳ tích của các Ngài, Đức vua Brahmadatta chán nãn việc thế tục, Ngài lui vào một biệt điện nơi Hoàng cung, chỉ cho một người mang vật thực đến nơi Ngài trú ngụ.

Suốt bốn tháng Ngài nỗ lực tu tập thiền định, đạt thiền chứng cùng năm thắng trí.

Thấy Đức vua ngự quá lâu trong biệt điện, Chánh hậu cùng các cung phi trang điểm thật xinh đẹp đến biệt điện để hội kiến cùng Ngài.

Sau khi đảnh lễ Đức vua, Chánh hậu thưa rằng:

– Thưa Đại vương, đã bốn tháng rồi Ngài không ra khỏi biệt điện để điều hành công việc của quốc độ. Kính thỉnh Ngài rời biệt điện để trở lại triều chính, các quan Đại thần đang mong chờ Đại vương.

Đức vua Brahmadatta giữ gìn các quyền, Ngài không nhìn Chánh hậu cùng các cung phi xinh đẹp, Ngài nói rằng:

– Này Chánh hậu, các dục lạc thế gian nhiều khổ lụy, chẳng có gì an lạc để bám víu cả.

– Thưa Đại vương, Ngài vừa khinh chê dục lạc, nhưng thật ra chẳng có gì êm ái cho bằng dục lạc cả.

Đức vua nghe vậy liền khiển trách rằng:

– Này nữ nhân kia, ngươi vừa nói gì thế? Ngươi có biết dục lạc xuất phát do nhân nào không? Có nhiều khổ lụy sẽ tiếp nối sau dục lạc ấy.

Thế rồi, hôm sau Đức vua giao quốc độ phồn thịnh đến ch các Đại thần, Ngài theo đường hư không đến núi Hymãlạpsơn, xuất gia làm ẩn sĩ.

Nhận diện Bổn sự.

Chánh hậu nay là Rāhulamātā, Đức vua Brahmadatta nay là Đấng Như Lai([49]).

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên Bốn sự thật. Nghe dứt Pháp thoại, năm trăm vị Tỳkhưu chứng Thánh quả Dự Lưu.

*Bổn sự Bandhanāgāra.

Tiền thân bà Rāhulamātā là người vợ (xem ở trên).

*Bổn sự Candakinnara.

Tiền thân bà Rāhulamātā là nhân điểu mái Candā (xem ở trên).

*Bổn sự Kurudhamma.

Tiền thân bà Rāhulamātā là Chánh cung của vua Dhanañjaya([50])

*Bổn sự Campeyya.

Tiền thân bàRāhulamāta là nữ rắn chúa Sumanā([51]).

*Bổn sự Lakkhaṇa.

Tiền thân bà Rāhulamātā là nai mẹ([52]).

*Bổn sự Cullabdhi.

Tiền thân bà Rāhulamātā là nữ ẩn sĩ([53]).

*Bổn sự Mahājanaka.

Tiền thân bà Rāhulamātā là Chánh hậu Sīvalī([54]).

*Bổn sự Vessantara.

Tiền thân bà Rāhulamātā là Chánh hậu Maddī (xem ở trên).

*Bổn sự Dasaratha.

Tiền thân bà Rāhulamātā là Chánh hậu Sītā([55]).

*Bổn sự Culla Sutasoma,

Tiền thân bà Rāhulamātā là Chánh hậu Candadevī([56]).

*Bổn sự Khaṇḍahāla.

Tiền thân bà Rāhulamātā là nàng Candā vợ Hoàng tử Candakumāra([57]).

*Bổn sự Kummāsapiṇḍa (Phần cháo cúng dường).

Duyên khởi.

Nàng Mallikā([58]) Hoàng hậu của vua Pasenadi (PaTưNặc) nguyên là con gái của người chủ một cửa hàng làm vòng hoa. Khi nàng được 16 tuổi, dung sắc xinh đẹp, tính tình đoan trang hiền thục.

Một lần nọ, nàng đi vào vườn hoa để hái hoa về cho cha kết vòng hoa, nàng mang theo phần cháo sữa chua để trong giỏ hoa, dùng làm bữa trưa cho mình. Trên đường đi vào vườn hoa, nàng nhìn thấy Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng đang đi vào kinh thành Sāvatthi (Xávệ) để khất thực.

Với tâm hân hoan nàng cúng dường phần cháo sữa chua của mình đến Đức Thế Tôn rồi đảnh lễ Đức Thế Tôn với cách năm chi chạm đất, rồi nàng đứng nhìn Đức Thế Tôn với tâm dào dạt niềm hoan hỷ.

Đức Thế Tôn mĩm cười, thấy hai tia hào quang sáng ngời từ chót răng nhọn của Đức Thế Tôn phómg ra, Ngài Ānanda bạch hỏi rằng:

– Bạch Thế Tôn, do nhân chi do duyên chi Ngài mỉm cười?

Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này Ānanda, cô gái vừa cúng dường sữa chua đến Như Lai, hôm nay sẽ trở thành Hoàng hậu, do phước lành cúng dường cháo sữa chua đến Như Lai hôm nay.

Khi khuất hình bóng Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, nàng Mallikā đi vào vườn hoa hái hoa với tâm trạng hân hoan, nàng vừa hái hoa vừa ca hát.

Vào hôm ấy, vua Kosala giao chiến với vua Ajātasattu (AXàThế), bị vua Ajātasattu đánh bại, phải lên ngựa đào tẩu([59]).

Khi chạy về đến kinh thành Sāvatthi (Xávệ), đi ngang vườn hoa, nghe tiếng hát du dương của nàng Mallikā, Đức vua cho ngựa đi vào vườn hoa.

Do phước lành đang thời cho quả an lạc, nhan sắc nàng trở nên xinh đẹp bội phần, khi thấy Đức vua nàng không kinh hoàng chạy trốn, trái lại đi đến đầu ngựa đảnh lễ Đức vua xong rồi, tay nắm lấy cương ngựa.

Đức vua cảm thấy thương yêu cô gái xinh đẹp và can đảm, hỏi rằng:

– Này nàng, nàng đã có chồng chưa?

– Thưa Đại vương, con còn độc thân.

Đức vua Pasenadi không kềm được tâm, ẳm nàng đưa lên lưng ngựa, ngồi phía sau Đức vua đưa về Hoàng cung. Chiều hôm đó, Đức vua tấn phong nàng lên địa vị Hoàng hậu và nàng được Đức vua Pasenadi sủng ái.

Một hôm, các vị Tỳkhưu ngồi đàm luân nơi Giảng pháp đường trong Đại tự Kỳviên rằng:

– Này chư hiền, hồng ân Đức Thế Tôn thật kỳ diệu. Nàng Mallikā con gái người thợ kết vòng hoa, cúng dường đến Đức Thế Tôn cháo sữa chua, chiều nàng được tấn phong làm Hoàng hậu của vua Pasenadi.

Đức Thế Tôn nghe được điều các vị Tỳkhưu đang luận bàn, Ngài ngự đến Giảng pháp đường, ngồi vào nơi được soạn sẵn, hỏi rằng:

– Này các Tỳkhưu, các ngươi đang bàn luận về đề tài gì? Việc gì đang khởi lên nơi đây?

Các Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn về đề tài đang bàn luận, Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, điều ấy không có gì là kỳ lạ khi tạo phước lành đến Đức Như Lai. Bậc trí ngày xưa cũng cúng dường cháo lạt đến Đức Phật Độc giác, nhờ thế trong kiếp sau được làm vị Đại đế cai trị vương quốc trú phú rộng 300 dotuần.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳkhưu, Đức Thế Tôn nói lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì vương quốc Kāsi rộng 300 dotuần có kinh thành là Bārāṇasī thịnh vượng rộng 12 dotuần.

Khi ấy Bồtát tái sinh vào một gia đình nghèo khổ, Ngài phải làm công cho một gia đình trưởng giả.

Một hôm Bồtát mua bốn phần cháo lạt nơi một cửa hàng, suy nghĩ: “Phần cháo lạt này vừa đủ để ta dùng buổi trưa”. Rồi Ngài ra đồng làm việc.

Bấy giờ có bốn vị Phật Độc giác đang đi vào kinh thành Bārāṇasī để khất thực, nhìn thấy bốn vị Samôn với Tăng tướng trang nghiêm tề chỉnh, các quyền được gì giữ, bất giác niềm tịnh tín sinh khởi nơi tâm Bồtát. Ngài suy nghĩ: “Ta dùng bốn phần cháo lạt này chỉ mang lại lợi ích cho ta nửa ngày. Ta nên cúng dường đến bốn vị Samôn, như thế ta sẽ được lợi ích lâu dài”.

Bồtát đi đến đảnh lễ bốn vị Samôn theo cách năm chi chạm đất, rồi bạch rằng: “Thưa các bậc Thánh đức, con có bốn phần cháo lạt, con kính dâng đến bốn Ngài, mong các Ngài thọ dụng để con được sự an lạc lâu dài”.

Thấy các Ngài im lặng, Bồtát hiểu rằng: “Các Ngài đã nhận lời”.

Bồtát tìm cát sạch rải lên mặt đất, tìm những chiếc lá lớn lót bên trên sắp đặt bốn chỗ ngồi cho các Ngài, thỉnh các Ngài ngự lên nơi được soạn sẵn. Bồtát tìm lá sạch làm thành phểu mang nước đến cúng dường các Ngài rữa chân tay, rồi Ngài kính cẩn dâng bốn phần cháo lạt vào trong bát của các vị Phật Độc giác.

Đảnh lễ các Ngài xong rồi, Bồtát ước nguyện rằng:

– Với phước lành này, xin cho con đừng tái sinh vào gia tộc nghèo khổ nữa và xin cho con chứng đạt Vô thượng Chánh giác.

Vị Phật Độc giác trưởng chúc phúc rằng:

Icchitam. paṭṭhitam tuyhaṃ; khippameva samijjhatu …”

Các quả lành ngươi mong mõi; hãy nhanh chóng đến với ngươi …” .

Rồi các Ngài theo đường hư không trở về động Nandamūla.

Mệnh chung, nhờ phước lành này Bồtát tái sinh vào thai bào bà Chánh hậu của vua Brahmadatta, Ngài cũng được đặt tên là Brahmadatta.

Khi vừa biết đi chập chững, do phước lành này, Ngài nhớ lại kiếp trước, nhớ rõ hạnh lành như người soi mặt vào tấm gương sáng bóng, thấy rõ mọi chi tiết của gương mặt.

Khi trưởng thành, Bồtát theo học vị danh sư ở kinh thành Takkasilā, khi tinh thông mọi nghệ thuật của Hoàng tộc, Bồtát trở lại kinh thành Bārāṇasī, được vua Brahmadatta phong làm Phó vương.

Khi vua cha Brahmadatt mệnh chung, Bồtát kế tục vương vị; Đức vua thành hôn với nàng công nương kiều diễm của vương quốc Kosala.

Khi kinh thành Bārāṇasī mở lễ hội 7 ngày cho thần dân quốc độ vui chơi, kinh thành Bārāṇasī được trag hoàng xinh đẹp như thành phố chư thiên. Đức vua sau khi dạo quanh thành Bārāṇasī, Ngài trở về Hoàng cung ngồi vào chiếc ghế bằng vàng được che bên trên là cây lọng trắng 9 tầng, tuyên bố khai mở lễ hội.

Từ trên cao nhìn xuống thấy thần dân vui chơi lễ hội, trong khi ấy các quan Đại thần, các Bàlamôn trưởng giả, các Đại trưởng giả … dâng đến Đức vua vô số lễ vật quý giá.

Đức vua Brahmadatta suy nghĩ rằng:

– Vô số lễ vật quý giá, các đoàn nữ nhân xinh đẹp như thiên nữ cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba), đang biểu diễn ca múa trong lễ hội, các loại nhạc khí được các nhạc sĩ tài hoa điêu luyện đang hòa tấu như những khúc nhạc thiên thần … Mọi vinh quang mà ta đang có được đây, chính từ phước lành cúng dường cháo lạt đến bốn vị Phật Độc giác vậy.

Cảm hứng, Đức vua nói lên hai bài kệ.

142- Na kiratthi anomadassisu; pāricariyā buddhesu appikā.

Sukkhāya aloṇikāya ca; passa phalaṃ kummāsapiṇḍiyā.

“Cúng dường chư Phật, quý cao thay;

Người bảo đừng xem rẻ việc này.

Đem tặng cháo dùng không có muối;

Cho ta phước báo lớn như vầy”.

143- Hatthigavāssā cime bahū; dhanadhaññaṃ pathavī ca kevalā.

Nāriyo cimā accharūpamā; passa phalaṃ kummāsapiṇḍiyā’’ti.

“Ngựa voi cùng với đám trâu bò;

Vàng, bạc, thóc, ngô, cả nước nhà.

Đám mỹ nữ hình dung yểu điệu;

Cúng dường đem quả đến tay ta” (B. Trần Phương Lan d).

Vì Đức vua nói lên hai kệ ngôn trong lúc cảm hứng cao tột, nên hai kệ ngôn được lan truyền rộng rải, được thần dân trong quốc độ Kāsi học thuộc.

Nghe được hai kệ ngôn này, Chánh hậu muốn tìm hiểu ý nghĩa nhưng không dám hỏi Đức vua Brahmadatta.

Có lần, Đức vua Brahmadatta hài lòng về một việc làm của Chánh hậu, Ngài hân hoan nói rằng:

– Này Chánh hậu, ta ban cho nàng một điều ước. nàng hãy nói lên sự mong ước của nàng đi.

– Lành thay, thưa Đại vương. Xin Đại vương cho biết ý nghĩa hai kệ ngôn trên.

– Này Hoàng hậu, nàng hãy yêu cầu điều khác đi.

– Thưa Đại vương, Thần thiếp không mong cầu điều gì khác, ngoài sự hiểu biết ý nghĩa hai kệ ngôn trên mà thôi.

– Được rồi, nhưng ta không muốn nói riêng với nàng, ta muốn công bố cho thần dân cùng biết. Vậy Hoàng hậu hãy kiến tạo một điện thờ bằng ngọc ngay trước cổng Hoàng cung, bên trong đặt chiếc ghế bằng ngọc, ta sẽ ngồi trên ghế ngọc giữa các vị Đại thần cùng các gia chủ Bàlamôn đại trưởng giả, có cả 16 ngàn mỹ nữ xinh đẹp đứng hầu chung quanh. Ta sẽ công bố điều kỳ diệu này đến đại chúng.

Hoàng hậu thực hiện mọi việc đúng theo ý Đức vua. Đức vua Brahmadatta ngồi trên ghế ngọc Ngài công bố ý nghĩa hai kệ ngôn trên.

Nghe xong việc phước của Đại vương Brahmadatta trong kiếp trước, Hoàng hậu vô cùng hân hoan, thưa rằng:

– Thưa Đại vương, phước lành cho quả an lạc không thể nào nghĩ hết được, Vậy từ nay Đại vương hãy trích ra một phần vật thực của mình dùng để cúng dường đến các vị Samôn chân chính đi.

– Lành thay, lành thay. Này Hoàng hậu, đó là việc làm rất tốt đẹp.

– Thưa Đại vương, Thần thiếp cũng tạo được phước lành đặc biệt như Ngài ở quá khứ.

Rồi nàng nói lại tiền tích của mình ở kiếp trước như sau.

Kiếp trước nàng là một nô tỳ của vua Ambaṭṭha. Có lần nàng nô tỳ cúng dường vật thực đến vị Phật Độc giác khi Ngài đi vào kinh thành để khất thực. Nhờ phước lành này, mệnh chung nàng tái sinh làm công nương của quốc độ Kosala hùng mạnh và trở thành Hoàng hậu của Đại vương Brahmadatta.

Đức vua và Hoàng hậu cùng hân hoan với phước lành của nhau. Sau đó, Đức vua cho xây dựng 6 Bố thí đường nơi kinh thành Bārāṇasī để bố thí đến thần dân trong quốc độ. Mệnh chung hai vị đi theo hạnh nghiệp của mình.

Nhận diện Bổn sự.

Hoàng hậu nay là bà Rāhulamātā, Đại vương Brahmadatta nay là Đấng Như Lai([60])

Ngoài ra, tiền thân của bà Rāhulamātā được ghi nhận rất nhiều trong những Bổn sự, chúng tôi xin liệt kê ra để độc gia tham khảo thêm, khi có dịp chúng tôi sẽ trình bày sau. Như là: Công nương Pabhāvatī con của vua xứ Madda trong Bổn sự Kusa([61]), Chánh hậu của vua xứ Bārāṇasī trong Bổn sự Abbhantara([62]), quạ Suphassā chánh hậu của quạ chúa Supatta trong Bổn sự Supatta([63]), chánh hậu của vua Udaya trong Bổn sự Gaṅgamāla([64]), thiên nga mái trong Bổn sự Cakkavāka([65]), nàng Sujātā trong Bổn sự Maṇicora([66]), sư tử cái mẹ của sư tử Manoja trong Bổn sự Manoja([67]), vơ của Trưởng giả Visayha trong Bổn sự Visayha([68]), Chánh hậu của vua Susīma trong Bổn sự Susīma([69]), và vợ người thợ rèn trong Bổn sự Sūci([70]).

3- Tế độ Thái tử Nanda.

Vào hôm sau (ngày thứ tư khi Đức Thế Tôn trở lại thăm Hoàng tộc sau 7 năm xa vắng và là ngày thứ ba Ngài đi vào kinh thành Kapilavattu, vì Tự viện Nigrodha nằm ngoài thành Kapilavatthu), Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng ngự đến Hoàng cung để thọ thực. Bấy giờ Hoàng cung đang nhộn nhịp tổ chức hôn lễ cho Thái tử Nanda cùng với nàng Janapadakakylyāṇī Nandā (nàng Nandā Hoa khôi quốc độ). Cả hai là em cùng cha khác mẹ với Đức Thế Tôn, con của Di mẫu Mahāpajāpati Gotamī([71]).

Khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, trao chiếc bát đến Thái tử Nanda. Thái tử Nanda trước đây rất kính trọng anh, nhận lấy chiếc bát theo sau hầu Đức Thế Tôn, nhưng trong tâm rất bối rối vì hôn lễ sắp đến giờ cử hành, nhiều lúc muốn lên tiếng yêu cầu Đức Thế Tôn nhận lại chiếc bát nhưng Thái tử không dám mở miệng nói lên điều mình muốn.

Thái tử nhủ thầm trong tâm rằng: “Chắc khi xuống đến chân cầu thang Đức Thế Tôn sẽ nhận lại chiếc bát”, nhưng đến cầu thang Đức Thế Tôn vẫn bình thản từ từ tiến về hướng Tự viện Nigrodha, Thái tử Nanda lại nhủ thầm: “Chắc Ngài sẽ nhận lại chiếc Bát khi ra khỏi Hoàng cung”.

Khi ra khỏi Hoàng cung Đức Thế Tôn vẫn bình thản từ từ bước đi không hề quay lại. Tâm trạng của Thái tử Nanda bồn chồn như cuộn tơ xổ ra rồi bị vò rối tung lên, chân tuy bước theo sau Đức Thế Tôn nhưng tâm trí cứ nghĩ đến nàng Janapadakalyānī Nandā xinh đẹp đang chờ đợi nơi Hoàng cung. Thái tử Nanda lại tự an ủi mình lần nữa rằng: “Khi về đến Tự viện chắc chắn Ngài nhận lại chiếc bát thôi, vẫn còn kịp thời gian ta trở về cử hành hôn lễ”.

Khi Thái tử ôm Bát theo sau hầu Đức Thế Tôn, các phi tần trông thấy liền thông báo cho nàng Kalyānī Nandā rằng:

– Thưa Công nương, hiện Thái tử Nanda đang ôm bát theo hầu Đức Thế Tôn về Tự viện Nigrodha. Có lẽ Đức Thế Tôn sẽ mang Thái tử đi theo Ngài.

Nghe các cung tần báo như vậy, công nương Nandā bỗng kinh sợ, đang trang điểm mái tóc xinh đẹp của mình, nàng vội cầm lấy mái tóc vừa được chải một nửa, chạy ra nơi cửa sổ cung điện nhìn xuống, thấy Thái tử Nanda đang ôm bát đi theo sau Đức Thế Tôn nên kêu lớn rằng:

– Thái tử ơi! Sắp đến giờ cử hành hôn lễ, khi đưa Đức Thế Tôn về Tự viện, Thái tử hãy nhanh chóng trở về để cử hành hôn lễ. Em đang mong chờ Thái tử nhanh chóng trở về.

Nghe lời kêu gọi của nàng Kiều nữ Nandā, tâm Thái tử Nanda vô cùng xốn xang tựa như núi chúa Sineru đang đè nặng lên quả tim của mình, muốn thỉnh Đức Thế Tôn nhận lại chiếc bát, khốn nỗi miệng chẳng dám hở môi.

Những gì đang diễn ra trong tâm của Thái tử Nanda, Đức Thế Tôn nhận biết tất cả, nhưng Ngài vẫn thản nhiên đi về Tự viện Nigrodha. Khi về đến Tự viện, Đức Thế Tôn đi vào Giảng pháp đường ngồi vào nơi được soạn sẵn, nói với Nanda đang mang bát theo vào Giảng pháp đường rằng:

– Này Nanda, ngươi hãy xuất gia đi.

Tuy tâm không hề muốn nhưng do uy lực của Đức Thế Tôn, mặt khác do thói quen trước đây của Nanda là: “Rất kính trọng vị Hoàng huynh này, không hề dám cải lời dù chỉ là việc nhỏ nhặt, luôn làm theo ý của anh”. Nên nói rằng:

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Và Thái tử Nanda được Đức Thế Tôn cho xuất gia trước sự chứng minh của Tăng chúng.

Tin Thái tử Nanda xuất gia từ Đức Thế Tôn nhanh chóng lan đến Hoàng cung, khiến Hoàng tộc bàng hoàng, vì Thái tử Nanda sau hôn lễ sẽ tiến hành lễ Đăng quang thay cho Đức vua Suddhodana cai trị quốc độ Sākya (ThíchCa), còn nàng Kalyānī than khóc cho duyên phận của mình.

*Trưởng lão Nanda (Hỷ lạc).

Thái tử Nanda sinh ra sau Bồtát Siddhattha (SĩĐạtTa) khoảng vài ngày. Khi bà Hoàng Mahā Māyā mệnh chung, Di mẫu Mahāpajāpati Gotamī giao Thái tử cho các nhũ mẫu chăm sóc, tự thân Di mẫu chăm sóc Thái tử Siddhattha, dùng dòng sữa ngọt nơi thân để nuôi dưỡng Thái tử Siddhattha.

Thái tử có tên gọi Nanda “vì vừa sinh ra đã mang hỷ lạc đến cha me (nandayanto), luôn cả mọi người chung quanh”. Sở dĩ mọi người tràn đầy hỷ lạc vì hài tử có những tướng quý của vị vua Chuyển Luân.

Tỳkhưu Nanda từ khi xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn, tâm tư Ngài luôn tưởng nhớ đến nàng Janapadakalyānī Nandā.

Khi theo Đức Thế Tôn đến thành Sāvatthi tiếp nhận ngôi Đại tự Jetavanavihāra do Trưởng giả Anāthapiṇḍika kiến tạo để cúng dường đến Tăng chúng có Đức Phật là vị Thượng thủ.

Ngài Nanda tâm tư không được an tịnh, thường than thở với các vị Tỳkhưu rằng:

– Thưa các Hiền giả, tôi không có hứng thú với đời sống Phạm hạnh trong Giáo pháp này, có lẽ tôi sẽ từ bỏ Học giới để trở về với đời sống tại gia.

Các vị Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn sự việc này, Đức Thế Tôn cho gọi Tỳkhưu Nanda đến hỏi rằng:

– Này Nanda, được nghe rằng: “Ngươi không hoan hỷ với đời sống Phạm hạnh trong giáo pháp này”, điều này có thật như thế chăng?

– Bạch Thế Tôn! Thật sự là như vậy.

– Này Nanda, vì nguyên nhân gì?

– Bạch Thế Tôn, vì tâm con luôn tưởng nhớ đến nàng Kalyānī Nandā, khi con ôm bát theo hầu Ngài đến Tự viện Nigrodha, nàng có kêu gọi con rằng: “Thưa Thái tử, Thái tử hãy trở về gấp để kịp giờ hôn lễ”.

– Này Nanda, ngươi có muốn theo Như Lai đến viếng thiên cung Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba) gặp gỡ các thiên nữ trên cõi ấy chăng?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Đức Thế Tôn cầm tay Ngài Nanda, dùng thần thông đưa Nanda theo Ngài đến cõi Trời Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba). Trên đường đi.Đức Thế Tôn hóa ra một con khỉ sứt mũi, cụt đuôi, bị lửa cháy nám đang ngồi trên khúc cây bị lửa đốt cháy đã tắt.

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn hóa ra con khỉ sứt mũi, cụt đuôi, bị cháy nám ngồi trên khúc cây bị lửa cháy đã tắt như vậy?

Đáp. Luận sư Dhammapāla có giải thích điều này trong tập Sớ giải kinh Udāna ( Cảnm hứng ngữ ) như sau([72]):

Vì Ngài Nanda đang nhiễm đắm nhan sắc nàng Kalyānī Nandā quá nặng, Đấng Như Lai phải cảnh tỉnh tâm Ngài Nanda, cho Ngài Nanda nhìn thấy tướng bất mỹ.

Do vậy, Ngài hóa hiện con khỉ sứt mũi, cụt đuôi xấu xí bị lửa cháy nám, sau đó cho Ngài Nanda thấy 500 thiên nữ sắc đẹp tuyệt trần nơi thiên giới để Ngài Nanda làm cuộc so sánh.

Khi đến cõi Trời Ba mươi Ba, có 500 thiên nữ xinh đẹp có bàn chân đỏ hồng như chân chim Bồ câu (kakutapādinī)([73]), đang đi đến thiên cung của vua Trời Sakka để phục vụ vua Trời Sakka. Nhìn thấy Đức Thế Tôn, 500 nàng thiên nữ đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Hỏi. Do thiện nghiệp nào các nàng thiên nữ này có bàn chân hồng như chân chim Bồ câu?

Đáp. Luận sư Dhammapāla giải thích: “Là thiện nghiệp bố thí dầu thoa chân đến các vị Tỳkhưu trong thời Đức Phật Kassapa” (sđd).

Đức Thế Tôn để cho Ngài Nanda nhìn ngắm 500 thiên nữ thỏa thích, các thiên nữ này càng nhìn càng thấy xinh đẹp, cho dù nhìn ngắm suốt ngày cũng không biết chán, rồi Đức Thế Tôn hỏi Ngài Nanda:

– Này Nanda, ngươi thấy 500 thiên nữ này so với nàng Janapadakalyānī Nandā như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, nàng Janapadakalyānī Nandā so với 500 thiên nữ xinh đẹp kiều diễm này, chẳng khác gì con khỉ sứt mũi, cụt đuôi bị lửa cháy nám so với nàng Kalyānī Nandā.

– Này Nanda, nếu ngươi vui thích thực hành Phạm hạnh trong Giáo pháp của Đấng Như Lai, ngươi sẽ là chủ nhân của 500 cô thiên nữ này.

Vô cùng hoan hỷ, Ngài Nanda thưa rằng:

– Bạch Thế Tôn, nếu đúng như lời Ngài, con sẽ thích thú thực hành Phạm hạnh trong Giáo pháp của Ngài.

– Này Nanda, ta hứa chắc chắn với ngươi như thế (ahaṃ te pāṭibhogo).

Rồi Đức Thế Tôn cầm tay Ngài Nanda, biến mất nơi cõi ĐạoLợi, xuất hiện nơi Đại tự KỳViên.

Để khích động tâm của Nanda, Đức Thế Tôn nói với các vị Tỳkhưu trưởng lão như Ngài Sāriputta (XáLợiPhất), Ngài Moggallāna (MụcKiềnLiên), Ngài Mahā Kassapa, Ngài Ānada … rằng:

– Này các Tỳkhưu, Tỳkhưu Nanda thực hành phạm hạnh để có được 500 cô thiên nữ xinh đẹp với chân đỏ hồng như chân chim Bồ câu. Như Lai đã hứa ban thưởng cho Tỳkhưu Nanda như vậy.

Khi các vị Tỳkhưu biết được việc này, hỏi Ngài Nanda rằng:

– Này hiền giả Nanda, được nghe Hiền giả thực hành Phạm hạnh để được 500 thiên nữ có bàn chân đỏ hồng như chân chim Bồ câu phải chăng?

– Thưa Hiền giả, đúng như vậy.

Các vị Tỳkhưu đã chế nhạo, khiển trách Ngài Nanda rằng: “Tôn giả Nanda là người được thuê để thực hành Phạm hạnh ”, “Tôn giả Nanda là buôn bán”.

Hỏi. Ngài Nanda đang bị đắm nhiễm trong tham ái, vì sao Đức Thế Tôn lại cho Ngài Nanda thấy 500 thiên nữ xinh đẹp. Như vậy có phải Đức Thế Tôn làm tăng trưởng thêm tham ái đang có trong tâm Ngài Nanda chăng?

Đáp. Không phải vậy, ví như vị lương y đại tài thấy người bệnh đang bị trúng chất độc nặng. Vị lương y dùng loại thuốc độc khác có mùi thơm vị ngọt cho người bịnh uống để đào thải chất độc trong người bịnh nhân ra, rồi cho thuốc khác để loại trừ chất độc mới còn sót lại trong thân người bịnh.

Cũng vậy, tâm Ngài Nanda đang ái luyến nặng nàng Kalyānī Nandā, Đức Thế Tôn dùng hình ảnh 500 cô thiên nữ diễm kiều để trục xuất hình bóng của nàng Kalyānī Nandā ra khỏi tâm của Ngài Nanda; rồi Đức Thế Tôn thông báo điều này đến những vị Tỳkhưu Trưởng lão, nhờ những lời khiển trách của những vị Trưởng lão khích động tâm của Ngài Nanda. Đó là pháp “lấy dục diệt dục” vậy.

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn lại hứa ban cho Ngài Nanda 500 thiên nữ, một việc làm trái ngược với đời sống Phạm hạnh?

Đáp. Chính đó là cách giúp Ngài Nanda diệt tắt tham ái có trong tâm. Khi đã thay đổi đối tượng trong tâm của Ngài Nanda, giúp cho Ngài Nanda không còn tưởng nhớ đến nàng Kalyānī, tinh tấn thực hành giới– định – tuệ.

Có thực hành trọn vẹn Giới – định – tuệ mới chấm dứt được tham ái.

Hỏi. Vì sao các vị Tỳkhưu gọi Ngài Nanda là “người được thuê hành Phạm hạnh”?

Đáp. Vì vị Trưởng lão này thực hành Pạm hạnh không phải với ý mong cầu sự chấm dứt luân hồi, Ngài thực hành Phạm hạnh để được 500 nàng thiên nữ xinh đẹp có đôi chân hồng như chân chim Bồ câu. Giống như người làm thuê cho chủ, làm theo ý chủ trong một thời gian để có được món hàng mình mình mong muốn. Món hàng ấy như là thù lao cho công của người được thuê.

Hỏi. Vì sao các vị Trưởng lão gọi Ngài Nanda “là người buôn bán”.

Đáp. Lẽ thường sự buôn bán là sự trao đổi hàng hóa theo nhu cầu của người bán lẫn người mua, người buôn bán khi thấy có lợi nhuận cao sẽ trao đổi hàng hóa ngay. Cũng vậy, Ngài Nanda bằng lòng buông bỏ nàng Kalyānī Nandā để đổi lấy 500 cô tiên nữ xinh đẹp, điều này chẳng khác gì “người buôn bán”.

Khi nghe các vị đồng Phạm hạnh lập đi, lập lại lời chế nhạo khắc nghiệt “là kẻ được thuê hành Phạm hạnh” “là người buôn bán”, Ngài Nanda cảm thấy khó chịu và hổ thẹn, suy gẫm rằng: “Vì sao ta bị chế nhạo khắc nghiệt như vậy? Vì ta bị đắm nhiễm vào nhan sắc của nàng Janapadakalyānī Nandā, rồi đắm nhiễm vào sắc đẹp của các thiên nữ kiều diễm? Vì sao ta bị đắm nhiễm như thế? Vì ta không thu thúc con mắt”.

Khi tìm ra nguyên nhân khiến tâm bị ô nhiễm, Ngài Nanda quyết định tìm nơi thanh vắng để ẩn tu, nỗ lực thực hành pháp, thu thúc con mắt. Ngài Nanda giữ hạnh thu thúc nhãn quyền, Ngài không ngó lên, không ngó xuống, không ngó bên phải, không ngó bên trái, Ngài chỉ ngó thẳng về phía trước với tầm xa khoảng bốn hattha (# 2m).

Ngài Nanda chỉ thấp hơn Đức Thế Tôn khoảng 4 ngón tay (khoảng 8 – 10 cm), có lần Ngài may chiếc y giống như chiếc y của Đức Thế Tôn, nên các vị Tỳkhưu và cư sĩ thường nhầm tưởng Ngài Nanda là Đức Thế Tôn, nên than phiền rằng:

– Vì sao SamônThích tử Nanda lại mặc chiếc y giống chiếc y của Đức Thế Tôn. Điều này không thích hợp với Samôn Thích tử là đệ tử của Đức Thế Tôn.

Sự việc được trình lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn cho gọi Ngài Nanda đến khiển trách tính kiêu mạn của Ngài Nanda, rồi Ngài cấm các vị Tỳkhưu không được may y theo kích cở chiếc y của Đức Thế Tôn([74]).

Lần khác, Ngài Nanda mặc chiếc y kéo ủi hai mắt, bôi vẽ mắt, cầm chiếc bát bóng sáng đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

ĐứcThế Tôn khiển trách Ngài Nanda rằng:

– Này Nanda, thật không xứng đáng cho ngươi, là con của một lương gia, vì niềm tin lìa bỏ gia đình sống đời sống không gia đình, lại đấp những chiếc y khéo ủi hai mặt, bôi vẽ mắt và mang bát chói sáng.

Thật xứng đáng cho ngươi, này Nanda là con nhà lương gia, vì niềm tin lìa bỏ gia đình sống đời sống không gia đình là: Sống trong rừng, mặc y cũ rách, nuôi mang sống bằng cách đi khất thực và sống không mong đợi các dục vọng.

Rồi Đức Thế Tôn nói lên kệ ngôn.

Kadāhaṃ nandaṃ passeyyaṃ; āraññaṃ paṃsukūlikaṃ.

Aññātuñchena yāpentaṃ; kāmesu anapekkhina’’nti.

Ta mong được nhìn thấy; Nanda sống trong rừng

Đấp y phục cũ rách; sống với những đồ ăn.

Biết là đã vứt bỏ; không mong chờ dục vọng” (HT. TMC d).

Sau một thời gian Ngài Nanda là vị Tỳkhưu sống ở rừng, ăn đồ ăn khất thực, mặc y cũ rách, sống không mong cầu dục vọng([75]).

Ngài Bddhaghosa (Phật Âm) có giải thích rằng: Ngài Nanda khi bị các vị Tỳkhưu gọi là “người được thuê để hành Phạm hạnh” hay “người buôn bán”, Ngài hổ thẹn muốn đi vào rừng ẩn tu, nhưng e ngại các vị Tỳkhưu nhạo báng là” do hổ thẹn nên lìa bỏ hội chúng”, nên cố ý tạo ra vẽ thích hưởng dục để Đức Thế Tôn khiển trách. Nhân cớ ấy Ngài sẽ đi vào rừng trú ngụ thực hành pháp “thu thúc con mắt”([76]).

Nhờ tinh cần hành pháp, không bao lâu Ngài chấm dứt trọn vẹn mọi ô nhiễm, thành tựu Thánh quả Alahán([77]).

Trong đêm Ngài Nanda chứng Thánh quả Alahán, một thiên nhân khi đêm sắp tàn, với dung sắc thù thắng, hào quang chiếc sáng khắp Đại tự KỳViên, đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi, đứng một bên chấp tay bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nanda con trai của bà Gotamī đã tự mình chấm dứt mọi ô nhiễm, chứng đạt Thánh quả Alahán.

Rồi Trưởng lão Nanda sau khi đêm đã tàn, vào rạng sáng Ngài đi đến Hương thất của Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, Ngài có hứa ban cho con 500 cô thiên nữ có bàn chân hồng như chân chim Bồ câu. Con xin Đức Thế Tôn hãy hủy bỏ lời hứa ấy.

– Này Nanda, với tâm Ta, Ta biết được tâm ngươi đã diệt trừ hết mọi ô nhiễm ngay trong hiện tại, thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ). Lại nữa, một thiên nhân đã đến báo cho ta biết: “Tôn giả Nanda con trai của bà Gotamī đã tự mình chấm dứt mọi ô nhiễm, chứng đạt Thánh quả Alahán”.

Với tâm hân hoan Đức Thế Tôn nói lên Cảm hứng ngữ (udāna) rằng:

Yassa nittiṇṇo paṅko; Maddito kāmakaṇṭako.

Mohakkhayaṃ anuppatto; sukhadukkhesu na vedhatī sa bhikkhū.

“Ai vượt khỏi bùn này; đè bẹp([78]) gai của dục.

Đạt được si đoạn diệt; vị Tỳkhưu như vậy.

Không cảm nhận khổ lạc”(HT. TMC d)([79]).

Về sau, khi gặp Trưởng lão Nanda các vị Tỳkhưu hỏi:

– Này hiền giả Nanda, trước đây hiền giả thường than thở là chán nãn đời sống Phạm hạnh trong Giáo pháp này, có ý từ bỏ Học giới này để trở về đời sống tại gia. Nay Hiền giả còn có tâm chán nãn ấy nữa không?

– Này chư hiền, tôi không còn có tâm muốn từ bỏ Học giới này để trở về đời sống tại gia nữa.

Các vị Tỳkhưu phàm cho rằng Ngài Nanda nói sai sự thật, nên trình bạch lên Đức Thế Tôn việc này. Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Thật vậy, này các Tỳkhưu, trong quá khứ tâm của Nanda ví như mái nhà vụng lợp, nay tâm của Nanda ví như mái nhà khéo lợp.

Này các Tỳkhưu, từ hi thấy 500 thiên nữ xinh đẹp, Nanda nỗ lực thực hành Phạm hạnh pháp và đã chứng đạt nhữg gì cần chứng đạt, thoát ra khỏi mọi ô nhiễm.

Rồi Đức Thế Tôn nói lên hai kệ ngôn.

13- Yathā agāraṃ ducchannaṃ; vuṭṭhī samativijjhati.

Evaṃ abhāvitaṃ cittaṃ; rāgo samativijjhati.

“Như mái nhà lợp thưa; dễ bị dột nước mưa.

Tâm không tu luyện kỹ; tham dục vào có thừa”.

14- Yathā agāraṃ suchannaṃ; vuṭṭhī na samativijjhati.

Evaṃ subhāvitaṃ cittaṃ; rāgo na samativijjhati.

“Như nhà lợp kín tốt; nước mưa không thể dột.

Tâm tu luyện kỹ càng; tham dục vào chẳng lọt” (HT. TMC d)([80]).

Khi dứt kệ ngôn thính chúng nhiều vị chứng đạt Thánh quả Dự lưu.

Có lần nơi Giảng pháp đường trong Đại tự KỳViên, các vị Tỳkhưu ngồi đàm luận về câu chuyện của Trưởng lão Nanda đã tán thán Phật lực rằng:

– Này chư hiền, Phật lực thật phi tường, như Tôn giả Nanda đã chán nãn đời sống Phạm hạnh vì si tình công nương Kalyānī Nandā. Đức Thế Tôn khéo dùng miếng mồi là 500 thiên nữ xinh đẹp để giáo hóa và tế độ hiền giả Nanda, khiến vị ấy trở nên thánh thiện dễ dạy.

Với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, Đức Thế Tôn nghe được sự bàn luận của các vị Tỳkhưu.

Đức Thế Tôn đến Giảng pháp đường nơi Đại tự KỳViên, ngồi vào nơi được soạn sẵn, hỏi các vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhưu, các ngươi đang đàm luận về việc gì? Vấn đề gì đang được khởi lên?

Các vị Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn về vấn đề đang đàm luận, Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, đây không phải là lần đầu tiên Như Lai tế độ Nanda bằng miếng mồi nữ nhân, trong quá khứ đã từng có việc như thế rồi.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuật lại Bổn Sự Saṅgāmāvacara.

*Bổn sự Saṅgāmāvacara (Con voi thiện chiến).

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Kinh thành Bārāṇasī của vương quốc Kāsi. Bồtát sinh vào gia đình người huấn luyện voi cho Đức vua nghịch của vua Brahmadatta, khi trưởng thành Ngài thiện xảo trong nghệ thuật huấn luyện voi và kế tục việc làm của cha.

Khi chiến tranh hai nước khởi lên, vua nước nghịch mang quân bao vây kinh thành Bārāṇasī (Balanại), vua nước nghịch gửi chiến thư đến vua Brahmadatta rằng:

– Giao thành hay chiến tranh?

Vua Brahmadatta quyết định giao chiến, kéo đại quân hùng hậu canh giữ các cửa thành.

Vua nước nghịch mặc giáp trụ cưỡi trên lưng con voi quý có Bồtát là người quản tượng ngồi phía sau, thúc quân công phá thành Bārāṇasī.

Quân trong thành chống cự mãnh liệt, đổ bùn sôi, bắn những viên đá lớn từ máy bắn đá, lăn những khúc gỗ lớn xuống … Con voi dũng mãnh của Đức vua nghịch đang cưỡi bổng sợ chết nên tháo lui muốn bỏ chạy, thấy thế Bồtát vỗ về rằng:

– Này con thân yêu, con là voi thiện chiến từng xông pha ngang dọc nơi trận địa. Giờ đây, giữa chiến trận con lùi bước thì không còn xứng đáng là voi thiện chiến nữa.

Bồtát nói lên hai kệ ngôn.

63- Saṅgāmāvacaro sūro; balavā iti vissuto.

Kiṃ nu toraṇamāsajja; paṭikkamasi kuñjara.

“Anh hùng nơi trận địa; lừng danh là dũng mãnh.

Vì sao lại lui bước; khi tấn công thành trì”.

64- Omadda khippaṃ palighaṃ; esikāni ca abbaha.

Toraṇāni ca madditvā; khippaṃ pavisa kuñjarā’’ti.

“Mau phá tan cổng thành; nhổ lên các cột trụ.

Đạp nát các cửa thành, hỡi voi hãy tiến lên”.

Nghe Bồtát cổ vũ, voi thiện chiến lấy lại sự can đảm dũng mãnh tiến lên dùng sức mạnh nhổ tung các trụ cột các trụ cột, phá vỡ các cổng thành và giúp Đức vua thu phục được thành Bārāṇasī.

Nhận diện Bổn sự.

Đức vua nay là Trưởng lão Ānanda, voi nay là Trưởng lão Nanda còn Bồtát nay là Đấng Như Lai([81]).

Bản Sớ giải kinh Pháp cú dẫn câu chuyện quá khứ khác là Kappaṭa:

*Bổn sự Kappaṭa

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại). Có người thương buôn tên là Kappaṭa.

Thương nhân Kappaṭa có nuôi một con lừa để kéo xe chở hàng hóa, lừa rất ngoan ngoãn và khỏe mạnh, mỗi ngày nó đi được 7 dotuần.

Có lần ông Kappaṭa chất đầy hàng hóa lên cổ xe đi đến kinh thành Takkasilā để buôn bán.

Đến nơi, ông tháo lừa ra cho nó đi kiếm ăn tự do và ông buôn bán hàng hóa mang theo.

Trong lúc lừa đi kiếm ăn cỏ non dọc theo bờ mương bên đường, thấy con lừa cái nó đi lần đến để làm quen.

Lừa cái thân mật chào hỏi rằng:

– Này anh, anh ở đâu đến đây?

– Ta ở nơi kinh thành Bārāṇasī.

– Anh đến đây để làm gì?

– Ta theo chủ đến đây để buôn bán hàng hóa rồi mang hàng hóa từ nơi này trở về kinh thành Bārāṇasī.

– Kéo xe hàng nặng, mỗi ngày anh đi được bao nhiêu?

– Mỗi ngày ta đi được 7 dotuần.

– Khi đến nơi nghĩ, có ai thoa bóp chân cho anh không? Có ai săn sóc cho anh không?

– Không, chẳng có ai cả vì ta vẫn sống đơn độc.

– Ồ ! Như thế thật tội nghiệp cho anh, anh phải có người săn sóc sau cuộc hành trình dài đầy khổ nhọc chứ.

Lừa đực bị những lời của lừa cái ám ảnh, nó đâm ra chán nãn với phận sự của mình.

Khi người thương buôn bán xong hàng hóa của mình, thu mua hàng mới để mang về kinh thành Bārāṇasī bán. Khi hàng hóa chất đầy cổ xe, người thương buôn nói với con lừa.

– Này lừa, chúng ta hãy lên đường trở về kinh thành Bārāṇasī.

Con lừa trở chứng, cứng đầu nói rằng:

– Ông cứ đi đi, tôi ở lại nơi đây.

Dùng lời ngọt dịu vỗ về con lừa nhiều lần, nhưng thấy con lừa vẫn ngang bướng, người thương buôn suy nghĩ:

– Con lừa này bổng dưng trở nên bướng bỉnh, ta phải làm cho nó đi.

Người thương buôn nói lên kệ ngôn rằng:

a- Patodaṃ te karissāmi; sāḷasaṅgulikaṇṭakaṃ.

Sañchindissāmi te kāyaṃ; evaṃ jānāhi gadrabhā’’ti.

“Ta sẽ làm đốt nhọn; mũi dài 16 phân.

Đâm lủng nát thân lừa; biết thân thì lựa chọn”.

Nghe vậy. con lừa đáp rằng:

– Ông cứ làm theo lời ông đi, tôi sẽ có cách đối phó với ông.

Rồi nó nói lên kệ ngôn.

b- Patodaṃ me karissasi; soḷasaṅgulikaṇṭakaṃ.

Purato patiṭṭhahitvāna; uddharitvāna pacchato.

Dantaṃ te pātayissāmi; evaṃ jānāhi kappaṭā’’ti.

“Ông cứ làm đốt nhọn; mũi dài 16 phân.

Cẳng trước tôi đứng yên; giò sau tôi bún gọn.

Liệu hồn chớ xâm xỏn”(ĐTL Pháp Minh d).

Ông Kappaṭa suy nghĩ:

– Do nhân nào con lừa trở nên ngang bướng như vậy?

Đưa mắt nình chung quanh ông nhìn thấy con lừa cái tơ đang nhởn nhơ ăn cỏ, ông chợt hiểu rằng:

– Ta hiểu rồi, vì con lừa cái tơ này nên nó trở nên ngang bướng với ta. Ta phải dùng mồi nữ sắc để sai khiến nó lên đường mới được.

Thương buôn Kappaṭa nói lên kệ ngôn.

c- Catuppadiṃ saṅkhamukhiṃ; nāriṃ sabbaṅgasobhiniṃ.

Bhariyaṃ te ānayissāmi; evaṃ jānāhi gadrabhā’’ti.

“Một cô nàng bốn chân; mặt đẹp dáng thật xinh.

Ta sẽ cưới cho lừa; ngươi có thích thú không?”

Nghe chủ hứa như vậy, con lừa hân hoan đáp lại với kệ ngôn.

d- Catuppadiṃ saṅkhamukhiṃ; nāriṃ sabbaṅgasobhiniṃ.

Bhariyaṃ me ānayissasi; evaṃ jānāhi kappaṭa.

Kappaṭa bhiyyo gamissāmi; yojanāni catuddasā’’ti.

“Một cô nàng bố chân; mặt đẹp dáng thật xinh.

Nếu chủ cưới cho tôi; tôi sẽ kéo xe về”.

Kéo xe vượt đường xa;mỗi ngày 14 dotuần”.

Thấy ổn thỏa, ông Kappaṭa nói:

– Thôi con hãy đến kéo xe đi.

Lừa ngoan ngoản kéo cổ xe đầy hàng hóa về đến kinh thành Bārāṇasī. Khi về đến nhà vài hôm, con lừa nhắc chủ rằng:

– Thưa chủ, chủ có nhớ lời hứa với tôi chăng? Chủ hứa cưới vợ cho tôi đấy.

– Ta nhớ chứ, ta sẽ đi kiếm vợ cho con, nhưng ta nói trước, ta chỉ cho lương thực đến ngươi mà thôi. Khi ngươi có vợ, ngươi phải tự lo liệu lương thực nuôi vợ ngươi đấy, khi vợ chồng ngươi có con, các ngươi phải tự lo lương thực để nuôi các đứa con của ngươi, vì đó là việc riêng của các ngươi.

Nghe ông Kappaṭa nói như thế, con lừa đâm ra chán nãn không còn ước muốn có vợ.

Đức Thế Tôn kết thúc câu chuyện rằng:

– Lừa đực nay là Tỳkhưu Nanda, lừa cái nay là nàng Kalyānī Nandā, còn thương buôn Kappaṭa nay là Đấng Như Lai([82]).

Trong tập Tăng chi kinh (Aṅguttara nikāya) có ghi nhận bài kinh, Đức Thế Tôn tán thán Ngài Nanda là người biết tự chế ngự trong mọi việc.

“Này các Tỳkhưu, nếu nói một cách chân chánh về Nanda, có thể nói như sau: Nanda là Thiện nam tử.

“Này các Tỳkhưu, nếu nói một cách chân chánh về Nanda, có thể nói như sau:Nanda là vị có sức mạnh.

“Này các Tỳkhưu, nếu nói một cách chân chánh về Nanda, có thể nói như sau: Nanda là vị có tịnh tín.

“Này các Tỳkhưu, nếu nói một cách chân chánh về Nanda, có thể nói như sau: Nanda là vị có ái dục sắc bén.

Ai khác ngoài Nanda (kiṃ aññatara), này các Tỳkhưu:, thành tựu chế ngự các quyền, biết tiết độ trong ăn ống, chú tâm cảnh giác (jāgariyaṃ anuyutto), niệm tỉnh giác (sati sampajaññā). Nhờ vậy Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh …([83])

Vào thời điểm thích hợp, giữa hàng tứ chúng Đức Thế Tôn ban cho Trưởng lão Nanda là “đệ nhất về gìn giữ môn quyền”.

Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ indriyevisu guttadvārānaṃ yadidaṃ Nando:

“Này các Tỳkhưu, trong các Tỳkhưu đệ tử Như Lai, gìn giữ các quyền tối thắng là Nanda”([84]).

Có lần khi hưởng lạc giải thoát, hân hoan Ngài Nanda thốt lên: “Ôi! tuyệt diệu thay Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng; nhờ vậy ta thoát ra được đầm lầy tái sinh và đứng trên bãi cát Nípbàn”.

Phấn khởi Ngài Nanda nói lên hai kệ ngôn.

157- Ayoniso manasikārā; maṇḍanaṃ anuyuñjisaṃ.

Uddhato capalo cāsiṃ; kāmarāgena aṭṭito.

“Không có khéo tác ý; trang điểm ở bên ngoài.

Ta thô tháo giao động; đắm nhiễm trong dục lạc”.

158- Upāyakusalenāhaṃ; buddhenādiccabandhunā.

Yoniso paṭipajjitvā; bhave cittaṃ udabbahi’’nti.

“Ta nhờ cách thiện xảo; Đức Phật thân quyến mặt trời.

Hướng ta về chánh ý; tâm thoát ra sinh hữu”([85]).

Tiền sự.

Từ hiền kiếp (bhaddakappa) này trở về trước 100 ngàn kiếp trái đất, vào thời Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa), tiền thân Ngài Nanda là một gia chủ Trưởng giả trong thành Haṃsavatī.

Có lần vị gia chủ đi nghe pháp từ Đức Thế Tôn, chứng kiến vị Trưởng lão được Đức Thế Tôn ban cho địa vị “tối thắng về hạnh gìn giữ các quyền”.

Vị gia chủ khởi lên ước vọng: “Ta hãy thành tựu địa vị tối thắng ấy trong thời Đức Chánh giác tương lai”.

Gia chủ Trưởng giả thỉnh Đức Thế Tôn cùng 68 ngàn vị Tỳkhưu đến nhà thọ thực vào ngày mai,

Vị Gia chủ cúng dường vật thực thượng vị loại cứng loại mềm đến Đức Phật và các vị Tỳkhưu, suy nghĩ rằng: “Địa vị mà mong ước không phải là nhỏ, vậy ta hãy tạo phước đại thí mới mong đạt được địa vị ấy trong tương lai”. Vị gia chỉ cúng dường đến Đức Thế Tôn Padumuttara trọn 7 ngày, vào ngày thứ 7 vị gia chủ cúng dường đến Đức Thế Tôn bộ tam y đắt giá, mỗi vị Tỳkhưu một bộ tam y, do phước lành này Ngài Nanda có da màu vàng sáng chói như màu da của Đức Thế Tôn([86]).

Vị gia chủ đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, bạch rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, với đại thí mà con đã thực hành, xin cho con thành tựu được địa vị “tối thắng về hạnh gìn giữ các quyền” trong thời Đức Chánh giác tương lai”.

Đức Phật Padumuttara đưa Vị lai trí quán xét rằng: “Ước nguyện của thiện gia tử này có thành tựu không?”. Sau khi thấy rõ rằng ước nguyện này sẽ thành tựu chắc thật, Đức Phật Padumuttara tiên tri rằng:

“Kể từ kiếp trái đất này, sau 100 ngàn kiếp trái đất, ước nguyện của thiện gia tử này sẽ thành tựu trong thời Đức Chánh giác Gotama”.

Lăn trôi trong vòng sinh tử luân hồi, vào thời Đức Phật Atthadassī, hậu thân của gia chủ tái sinh làm con rùa lớn sống trong sông Vinatā.

Có lần Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu muốn sang sông Vinatā, con rùa từ đáy sông nỗi lên, thỉnh Đức Thế Tôn Atthadassī ngự lên lưng và rùa đưa Đức Thế Tôn sang sông Vinatā an lành([87]).

Vào 100 ngàn kiếp trước, tiền thân Ngài Nanda có bốn lần làm vị Đại đế với vương hiệu Cela.

Vào 60 ngàn kiếp trước, tiền thân Ngài Nanda lại có bốn lần là vị Đại đế với vương hiệu Upacela.

Vào 5.000 kiếp trước, tiền thân Ngài Nanda là vị vua Chuyển Luân với vương hiệu Cela.

Trong Bổn sự Kurudhamma, tiền thân Ngài Nanda là vị Phó vương.

Trưởng lão Nanda được xác định là Trưởng lão Taraṇiya được đề cập trong tập Ký sự (Apadāna)([88]).

4- Tế độ Thái tử Rāhula.

Vào ngày thứ 7, Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng đến Hoàng cung thọ thực; bà Rāhulamātā trang điểm cho Thái tử Rāhula thật xinh đẹp, đưa con đến Hoàng cung, đi vào nơi Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng đang thọ thực, nói nhỏ với con rằng:

– Này Rāhula con, vị Samôn Trưởng có gương mặt xinh đẹp và từ bi chẳng khác gì vị Phạm thiên có hai mươi ngàn Phạm thiên tùy tùng, vị ấy chính là Phụ hoàng của con. Phụ hoàng có vô số vàng ngọc châu báu, Ngài có bốn hầm châu báu không hề vơi cạn, khi Phụ hoàng con ra đi xuất gia, bốn hầm châu ngọc bổng biến mất.

Con hãy đến xin tài sản của cha con đi, con hãy thưa như vầy: “Thưa cha, con là con của Ngài, Ngài có vô số tài sản quý, có địa vị là vua Chuyển Luân. Xin cha hãy cho tài sản của cha đến con, con sẽ kế vị ngôi vua Chuyển luân của Ngài”.

Thái tử Rāhula nghe theo lời mẹ, đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên, tâm Thái tử Rāhula chợt nảy sinh niềm thương kính Đức Thế Tôn vô cùng, rất vui thích khi được gần Đức Thế Tôn.

Đứng trước Đức Thế Tôn, Thái tử Rāhula bạch rằng:

– Thưa Ngài Đại Samôn, bóng che của Ngài thật an lạc, mát mẻ.

Khi Đức Thế Tôn thọ thực xong rồi, Ngài nói lời tùy hỷ phước đến đại chùng rồi từ chổ ngồi đứng dậy, Ngài cùng 20 ngàn vị Tỳkhưu trở về Tự viện Nigrodha. Thái tử Rāhula theo phía sau Ngài để xin tài sản của cha theo lời dạy của mẹ, tuy Hoàng tộc thấy Thái tử Rāhula theo sau Đức Thế Tôn nhưng không một ai cản ngăn,vì Thái tử là con của Đức Thế Tôn, là cháu nội duy nhất của Đức vua Suddhodana, đồng thời có bà Hoàng Rāhulamātā tại nơi đó; bà Hoàng Rāhulamātā không lên tiếng gọi Thái tử Rāhula quay lại.

Do vậy, toàn thể Đại chúng đều im lặng để Thái tử Rāhula theo sau Đức Thế Tôn. Thái tử Rāhula theo sau Đức Thế Tôn không phải vì mong có được tài sản của cha mà vì tâm đang quyến luyến, không muốn rời xa Đức Thế Tôn.

Về đến Tự viện Nigrodha, Thái tử Rāhula bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Thưa Ngài Đại Samôn, xin Ngài hãy ban tài sản của Ngài cho con đi, vì con là con của Ngài.

Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Rāhula muốn được thừa hưởng tài sản của cha nó, nhưng tài sản thế gian luôn bị chi phối bởi định luật vô thường. Vậy Như Lai hãy cho Rāhula 7 loại tài sản của bậc Thánh mà Như Lai đã tìm thấy nơi cội cây Đại Giác Assatha.

Bảy Thánh sản đó là.

Saddhādhanaṃ sīladhanaṃ.

Hiri ottappappiyaṃ dhanaṃ

Sutadhanañca cāgo ca.

Paññā ve sattanaṃ dhanaṃ.

“Tín là tài sản, giới là tài sản.

Yêu mến Tàm – Quý là tài sản.

Nghe nhiều cùng với dứt bỏ.

Và trí tuệ, đó là 7 tài sản”.

Đức Thế Tôn dạy Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) rằng:

– Này Sāriputta hãy tế độ Rāhula, hãy cho Rāhula xuất gia Sadi.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Theo lời dạy của Đức Thế Tôn, Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) là Tế độ sư (upajjhāya), Ngài Moggallāna (MụcKiềnLiên) là Giáo thọ sư (pabbajjhāriya và Ngài Mahā Kassapa là Giáo giới sư (ovādācariya) của Thái tử Rāhula.

Và Rāhula được xuất gia Sadi ngay ngày hôm ấy.

Nghe tin Thái tử Rāhula xuất gia, cả Hoàng cung náo động hẳn lên, việc Thái tử Nanda xuất gia chưa lắng yên, tiếp theo sóng gió lại nỗi lên cho Hoàng tộc ThíchCa, người thừa kế vương vị cuối cùng của Đức vua Suddhodan là Thái tử Rāhula, Đức Thế Tôn cũng mang đi cho xuất gia.

Đức vua Suddhodana được tin Thái tử Rāhula xuất gia, Ngài vô cùng đau khổ, liền đi đến Tự viện Nigrodha trong ngày hôm ấy.

Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi ngồi vào nơi hợp lẽ, Đức vua Suddhodana bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, tôi xin Đức Thế Tôn một điều ước mốn.

– Này vị Gotama, các Đấng Như Lai đã ra khỏi mọi ướcmuốn.

– Bạcch Thế Tôn, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị chê trách.

– Này vị Gotama, hãy nói điều ấy đi.

– Bạch Thế Tôn, khi Ngài ra đi xuất gia đau khổ đã khởi lên cho tôi không phải là ít. Tương tự như vậy trong việc Nanda, (nhưng là sự đau khổ) vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula

Bạch Ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da, sau khi để nó cắt vào da, nó cắt vào lớp da trong, sau khi để nó cắt vào lớp da trong, nó cắt vào thịt, nó cắt vào gân, sau khi nó cắt vào gân nó cắt vào xương rồi trú (ở đó). Bạch Ngài, tốt đẹp thay, các Ngài Đại Đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ([89]).

Và Đức Thế Tôn với pháp thoại đã sách tấn làm hoan hỷ đến Đức vua Suddhodana.

Sau đó, Đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết pháp thoại, rồi dạy các vị Tỳkhưu rằng:

Na, bhikkhave, ananuññāto mātāpitūhi putto pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā’’ti.

“Này các Tỳkhưu, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia. Vị nào cho xuất gia, phạm dukkata (tác ác)” (sđd).

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn khước từ điều ước muốn của Đức vua Suddhodana, rồi sau đó lại nhận lời?

Đáp. Bậc xuất gia sống nương vào sự bố thí của người khác, nên việc ban thưởng hay ban đặc ân đến người tại gia là việc làm không thích hợp với các Ngài. Khi có người tại gia đến xin đặc ân hay xin ban thưởng, các Ngài nhận lời ngay là điều bất xứng, nhất là không đúng theo pháp hành của chư Phật; trước khi nhận lời chư Phật đều có sự quán xét chu đáo.

Hỏi. Vì sao Đức vua Suddhodana lại thỉnh cầu: “Phải được sự đồng ý của cha mẹ, người con mới được phép xuất gia?”.

Đáp. Khi niềm kỳ vọng lớn nhất của Đức vua Suddhodana là được nhìn thấy Thái tử Siddhattha (SĩĐạtTa) trở thành vị vua Chuyển Luân, mang vinh quang đến cho dòng ThíchCa cùng với quốc độ, Đức vua đã hao phí biết bao công sức để gìn giữ Thái tử Siddhattha ở lại Hòang cung, nhưng rồi niềm kỳ vọng ấy trở thành mây khói khi Thái tử Siddhattha lìa bỏ kinh thành ra đi xuất gia.

Tuy đau khổ, nhưng Đức vua cố gắng chịu đựng vì còn Thái tử Nanda, Đức vua hy vọng Thái tử Nanda sẽ trở thành vua Chuyển luân theo như lời tiên đoán của các Bàlamôn thông thái, Đức vua hy vọng nhìn thấy quốc độ cùng dòng tộc ThíchCa bước đến đỉnh vinh quang qua Thái tử Nanda. Nhưng rồi Thái tử Nanda lại xuất gia, Đức vua lại sinh sầu não lần thứ hai.

Đau khổ nối tiếp đau khổ, nhưng Đức vua còn đủ sức chịu đựng, vì còn cháu nội Rāhula.

Từ khi Thái tử Siddhattha ra đi xuất gia, Đức vua Suddhodana trút hết nguồn thương yêu vào Thái tử Rāhula, bốn ngày sau, nguồn thương yêu lớn nhất bổng từ giả ra đi, niềm kỳ vọng Thái tử Rāhula sau này sẽ trở thành vua Chuyển luân đột ngột biến mất.

Đức vua không thể chịu đựng nỗi đau khổ , suy nghĩ rằng:

– Thế là dòng dõi Hoàng gia của ta đã sụp đổ hoàn toàn, không còn người nối dõi nữa thật rồi. Sự uy nghi cùng niềm vinh quang của vị vua Chuyển luân mà ta mong được nhìn thấy, được ta nuôi dưỡng gần cả đời người, nay phút chốc trở thành rỗng không.

Đức vua buồn khổ và tuyệt vọng hơn bao giờ hết, rồi Đức vua suy gẫm đến nỗi khổ của cha mẹ khi bất ngờ thấy con mình ra đi xuất gia, nên Đức vua có lời thỉnh cầu này.

Đức vua đã nói lên tâm trạng của mình khi hay tin Thái tử Rāhula xuất gia: “(niềm đau khổ) sau khi nó cắt vào gân nó cắt vào xương rồi trú (ở đó)”. Nên Đức vua Suddhodana có lời thỉnh cầu này.

Sau khi chứng Thánh quả Anahàm, Đức vua Suddhodana cho triệu tập Hội đồng bộ tộc ThíchCa đến hội nghị, nói rằng:

– Này các vị, trước đây chúng ta có giao ước: “Nếu Thái tử Siddhatta (SĩĐạtTa) ở tại gia, mỗi gia đình trong bộ tộc ThíchCa sẽ cho một người theo hầu Thái tử. Nếu Thái tử Siddhattha xuất gia, mỗi gia đình sẽ cho một người xuất gia để hầu Ngài”.

Giờ đây, Ngài đã xuất gia, chúng ta hãy thực hiện điều giao ước ấy, mỗi gia đình hãy cho một người xuất gia để theo hầu Đức Thế Tôn.

Bên tộc nội của Đức Thế Tôn có 40 ngàn gia đình, bên tộc ngoại cũng có 40 ngàn gia tộc. Khi ấy có 80.000 người nam thuộc dòng ThíchCa được Đức vua Suddhodana tổ chức lễ xuất gia thọ giới Tỳkhưu.

([1])– BuA. P. 4; JA.i. 77 – 94.

([2])– Dhp. Câu số 168.

([3])– Dhp. Câu số 169.

([4])– Thag. 157.

([5])– Kinnara: Là loại chim thần theo truyền thuyết Ấn Độ. Chim có mặt và thân hình như nhân loại, nhưng hay cánh tay là đôi cánh chim. Kinnara có khi được dịch là nhân điểu .

([6])– JA. Chuyện số 485; JA. chuyện số 281..

([7])– Theo SnA. ii.357 và Biên niên sử Tích Lan (Mhv. ii. 20) thì Dhotodana là anh của Suddhodana.

([8])– Mhv. ii. 15 f.; Dpv. iii. 45; JA. i. 15.

([9])– Chỉ cho giữ giới Bát quan trong ngày Bốtát (uposatha).

([10])– JA. Chuyện số 447.

([11])– ThigA. 141.

([12])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 9).

([13])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 5).

([14])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 6).

([15])– Xem ở những tập sau.

([16])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 6).

([17])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 9).

([18])– DhpA. C6u số 345 – 346; JA. Chuyện số 201,

([19])– S.i. 76. Bandhansutta (kinh Trói buộc).

([20])– JA. Chuyện số 201.

([21])– DhpA. iii. 44

([22])– BuA. p. 245; Dvy. 253.

([23])– JA. ii. 392; DA. ii. 422.

([24])– BuA. p. 245; Dvy. 253.

([25])– Vin. i. 82.

([26])– Bu. xxvi. 15; Mhv. ii. 24 gọi bà là Bhaddakaccānā; nhưng xem Thomas, op. cit. 49; bà còn được gọi là Subhaddakā (có thể là một cách viết khác của Bhaddakaccānā).

([27])– AA. i. 204.

([28])– Thomas, op. cit. 49.

([29])– JA. i. 54; BuA. 106, 228.

([30])– Chuyện được dẫn từ JA. i. 58.

([31])– Chuyện được kể trong Vin. i. 82; đây có thể là đoạn văn duy nhứt trong kinh điển mà Ngài Rāhula được gọi bằng tên.

([32])– AA. i. 198.

([33])– ĐĐ Indacado (d). Thánh nhân ký sự III (Apadāna III). Yasodharāpadānaṃ (Ký sự Yasodarā), số 1021.

([34])– AA. i. 204.

([35])– Mhv. ii. 21.

([36])– A.i. 25.

([37])– AA. i. 205.

([38])– Không thếy Sử liệu ghi rõ là núi nào? Có khả năng đó là núi Gijjhakūṭa (Kên kên) – Ns.

([39])– Ap. v. vs.1.

([40])– D.ii. Mahāsudassnasuttaṃ (Kinh Đại Thiện Kiến).

([41])– Vị này kiếp trước là nữ nhân, chứng thiền mệnh chung tái sinh về cõi Phạm thiên.

([42])– JA. Chuyện số 328.

([43])– Phần duyên khởi này, dẫn đến những Bổn sự khác như: Bổn sự Sucira; Bổn sự Dasa Brāhmaṇa; Bổn sự Sovīra và Bổn sự Sivi.

([44])– JA. Chuyện số 424.

([45])– Surundhalà tên xa xưa của kinh thành Bārāṇasī, về sau kinh thành Surundha được đổi tên là Bārāṇasī.

([46])– JA. Chuyện số 458.

([47])– Kumbhakārī nghĩa là “nữ thợ gốm”, cũng là tên gọi chỉ “vợngười thợ gốm”, không phải tên thật của nàng – Ns.

([48])– JA. Chuyện số 408.

([49])– JA. Chuyện số 459.

([50])– JA. Chuỵện số 276. Xem Đức Phật và 45 nămHoằng pháp độ sinh (tập 9).

([51])– JA. Chuyện số 506. Xem Đức Phật và 45 nămHoằng pháp độ sinh (tập 9).

([52])– JA. Chuyện số 11. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 6).

([53])– JA. Chuyện số 443. Xem Đức Phật và 45 nămHoằng pháp độ sinh (tập 9).

([54])– JA. Chuyện số 539. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 7).

([55])– JA. Chyện số 461. Xem Đức Phật và 45 nămHoằng pháp độ sinh (tập 6).

([56])– JA. Chuyên số 525. Xem Đức Phật và 45 nămHoằng pháp độ sinh (tập 7).

([57])– JA. Chuyện số 542. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp đoộ sinh (tập 7).

([58])– Nàng là một trong 7 người quả phước trổ ngay trong hiện tại, như đã đề cập trước đây- Ns.

([59])– Chiến tranh giữa vua Pasenadi với vua Ajātasattu xảy ra khi Đức Thế Tôn được 72 tuổi và khi ấy vua Pasenadi cũng được 72 tuổi. Như vây nàng Mallikā làm Hoàng hậu của Pasenadi không lâu lắm, khoảng 7 – 8 năm. Vì nàng mệnh chung trước vua Pasenadi.

([60])– JA. Chuyện số 415.

([61])– JA. Chuyện số 531.

(([62])– JA. Chuyện số 281,

([63])– JA. Chuện số 292.

([64])– JA. Chuyên số 421.

([65]).Chuyện số 424.

([66])– JA. Chuyện số 194.

([67])– JA. Chuyện số 397.

([68])– JA. Chuyện số 340.

([69])– JA. Chuyện số 163.

([70])– JA. Chuyện số 387.

([71])– AA. i. 186.

([72])– UdA. Chương III. Nanda. Kinh Nanda (Nandasuttaṃ)

([73])– Năm trăm Thiên nữ này có lần xuống nhân giới cúng dường vật thực đến Trưởng lão Mahā Kassapa, khi Ngài vừa xuất khỏi Định diệt thọ tưởng. Nhưng bị Ngài Mahā Kassapa từ chối và đuổi đi.

([74])– Vin. iv. 173.

([75])– S.ii. 281.

([76])– SA. ii. 174.

([77])– Có khả năng vào hạ thứ 3 hay hạ thứ 4 của Đức Thế Tôn. Vì theo Bản kinh Udāna (Cảm Hứng ngữ), Bản Sớ giải kinh Dhammapāda (Pháp cú), luôn cả Bản Sớ giải kinh Udāna (Cảm hứng ngữ), khi ấy Đức Thế Tôn ngự trú nơi Jetavanavihāra.

([78])– Maddito.

([79])– Ud.21. Nandasuttaṃ (kinh Nanda).

([80])– Dhp. Câu số 13 – 14.

([81])– JA. Chuyện số 182.

([82])– DhpA. Kệ ngôn số 13 – 14. Những kệ ngôn Pāli (a, b, c, và d) bản tiếng Việt do Ngài Đại trưởng lão Pháp Minh dịch.

([83])– A,iv. 166.

([84])– A.i. 25.

([85]) Thag. 157 – 158.

([86])– Ap. i. 57.

([87])– .AA. i. 174 ; ThagA. i. 276. Tiền thân của Trưởng lão Vanavaccha cũng từng sinh làm con rùa lớn, sống nơi đáy sông Vinatā nay (ThagA.i. 58)..

([88])– Ap. ii. 428.

([89])- Đoạn văn viết nghiêng, chúng tôi ghi theo bản dịch của ĐĐ Indacanda (d). Mahāvagga I (Đại phẩm I). Chương I. Trọng yếu (Mahākhandhakam.), số 118.

trang trướctrang sau

Advertisements