Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (12) – Hai vị Trưởng lão (Giáo giới Sadi Rāhula)

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Alahán Chánh Đẵng Giác.

-0-0-0-

 

Chương XVIII. Mùa hạ thứ 2

 

I- Hai vị Trưởng lão.

Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu ngự trú nơi rừng xoài Anupiya trong Mahāvana (Đại lâm) với thời gian thích hợp, rồi Ngài cùng Đại chúng Tỳkhưu đi đến kinh thành Rājagaha (Vương xá) để an cư mùa mưa.

Sadi Rāhula cũng theo Đức Thế Tôn đến thành Rājagaha để an cư mùa mưa, vào mỗi buổi sáng Sadi Rāhula thường đến Hương thất Đức Thế Tôn đảnh lễ  và vấn an Đức Thế Tôn, rồi sau đó đi đến liêu thất của Ngài Sāriputta, đảnh lễ và vấn an thầy Tế Độ.

A- Giáo giới Sadi Rāhula.

Vào ngày trăng tròn tháng 6 âl (tính theo lịch VN), Bồtát Siddhattha (SĩĐạtTa) thấy được điềm tướng thứ tư  là vị Samôn, Bồtát tìm thấy phương án thoát ra ba nỗi ám ảnh trong tâm của Ngài là: Già, bịnh và chết. Bồtát Siddhattha quyết định ra đi xuất gia trong đêm nay, Ngài đang hưởng phỉ lạc bên hồ sen trong vườn Ngự Uyển gần kinh thành Kapilavatthu (hồ sen này do Thiên thần Vissakamma tạo ra để cúng dường đến Bồtát), Bồtát được tin báo: “Hoàng hậu Yasodharā vừa sinh ra một Thái tử”, bất giác Bồtát than rằng: Rāhulajāto, bandhanaṃjātaṃ: “Chướng ngại sinh khởi, dây trói buộc sinh khởi”. Do sự kiện này, Thái tử sơ sinh được đặt tên là Rāhula.

Chữ Rāhula có gốc từ Rāhu; Rāhu là tên một vị chúa Asura (Atula), vị này có thân hình cao lớn nhất trong cõi Dục. Chúa Asura Rāhu thường gây chướng ngại cho mặt trời và mặt trăng. Cũng vậy, sự sinh ra của Thái tử là chướng ngại cho việc xuất gia của Bồtát ([1]).

Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Rāhula được mẹ là Rāhulamātā thương yêu và  nuông chìu, lại sống trong Hoàng cung. Thông thường những đứa bé như vậy sẽ có sự kiêu mạn nảy sinh, có thói quen thích hưởng thụ, đồng thời khi nói thường không quan tâm đến lời nói của mình. Như Lai sẽ giáo giới Sadi Rāhula ngay từ bây giờ”.

1 -Rāhulasutta (kinh Rāhula).

Khi Sadi Rāhula đến đảnh lễ Ngài, Đức Thế Tôn hỏi rằng:

337- Kacci abhiṇhasaṃvāsā; nāvajānāsi paṇḍitaṃ.

Ukkādhāro manussānaṃ; kacci apacito tayā’’ .

“Thế nào, thường chung sống; con có khinh thường bậc hiền trí.

Bậc chói sáng([2]) của loài người; con có cung kỉnh không?”

Rāhula:

338- Nāhaṃ abhiṇhasaṃvāsā; avajānāmi paṇḍitaṃ.

Ukkādhāro manussānaṃ; niccaṃ apacito mayā’’.

“Khi con thường chung sống; con tôn kính bậc hiền trí.

Bậc chói sáng của nhân loại; con luôn luôn cung kỉnh”.

Tiếp theo Đức Thế Tôn dạy Sadi Rāhula:

339- Pañca kāmaguṇe hitvā; piyarūpe manorame.

Saddhāya gharā nikkhamma; dukkhassantakaro bhava.

“Bỏ  năm dục tăng trưởng; đáng hài lòng vui thích.

Xuất gia với niềm tin; làm đau khổ yên lặng”.

340- Mitte bhajassu kalyāṇe; pantañca sayanāsanaṃ.

Vivittaṃ appanigghosaṃ; mattaññū hohi bhojane.

“Thân cận với bạn lành; trú ngụ nơi thanh vắng.

Xa lánh nơi náo động; biết đủ với vật thực”.

341- Cīvare piṇḍapāte ca; paccaye sayanāsane.

Etesu taṇhaṃ mākāsi; mā lokaṃ punarāgami.

“Y phục và vật khất thực; vật dụng và sàng tọa.

Chớ dính mắc chúng; đừng trở lại đời này”.

Khi Ngài Rāhula trí tăng trưởng, tùy thời điểm cùng duyên sự, Đức Thế Tôn dạy:

342- Saṃvuto pātimokkhasmiṃ; indriyesu ca pañcasu.

Sati kāyagatātyatthu; nibbidābahulo bhava.

“Giữ mình trong giới học; và giữ gìn năm quyền.

Hãy thực hành ghi nhận thân; trở nên nhiều nhàm chán”.

343- Nimittaṃ parivajjehi; subhaṃ rāgūpasañhitaṃ.

Asubhāya cittaṃ bhāvehi; ekaggaṃ susamāhitaṃ.

“Hãy từ bỏ tướng xinh đẹp; có dính mắc ái luyến.

Tâm tu tập tướng không tốt; khéo an trú là một”.

344- Animittañca bhāvehi; mānānusayamujjaha.

Tato mānābhisamayā; upasanto carissatī’’ti.

“Làm tăng trưởng vô tướng; diệt trừ kiêu mạn ngủ ngầm.

Nhờ nhiếp phục  kiêu mạn; con sống được an tịnh” ([3]).

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) có giải thích rằng: “Đây là bài kinh Đức Phật dạy Sadi Rāhula, nôi dung như sau:

Với một thiện gia nam tử xuất gia vì niềm tin, để chấm dứt đau khổ cần phải:

– Cung kỉnh bậc Trí.

– Thân cận bạn lành.

–  Sống nơi thanh vắng.

– Không dính mắc với y phục, vật thực, vật dụng và sàng tọa.

– Giữ gìn Học giới, phòng hộ 5 quyền: Mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.

– Tu tập thiền tịnh , chứng đắc thiền.

Đây là những pháp này là pháp trợ đạo tốt đẹp và cao thượng (kalyāṇamittūpanissaya)”.

Và kinh này được Đức Thế Tôn thường xuyên thuyết lên để giáo giới Sadi Rāhula bất kể thời gian nào và bất kỳ nơi đâu([4]).

Bài kinh này còn có tên gọi là Abhiṇha Rāhulovāda sutta (kinh Thường xuyên Giáo giới Rāhula), nhằm mục đích sách tấn, khích lệ và rèn luyện Sadi Rāhula dần dần trở nên hoàn mỹ.

Vâng theo lời dạy của Đức Thế Tôn, Sadi Rāhula đi đến Ambalaṭṭthikā để trú ngụ. Và suốt 12 năm, Sadi Rāhula không nằm trên giường([5]).

2- Ambalaṭṭhikā Rāhulovādasutta (tóm lược).

Kinh này được Đức Thế Tôn thuyết lên cho Rāhula khi ấy Rāhula được 7 tuổi (sđd). Đức Phật thuyết theo cách Nghĩa dụ pháp, là dùng những thí dụ để nêu bày ý nghĩa cho phù hợp với trình độ hiểu biết ở lứa tuổi của Sadi Rāhula để dạy bảo([6]).

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn thuyết kinh này đến Sadi Rāhula?

Đáp. Đức Thế Tôn nghĩ: “Trẻ con có khuynh hướng thích nói dối để trêu cợt người khác, chúng nói thấy khi không thấy hay ngược lại nói không thấy trong khi chúng thấy”. Do vậy, Như Lai sẽ giáo giới Sadi Rāhula hãy nói lên sự thật.

Ngài Buddhaghosa còn giải thích thêm rằng: “Kinh này cần được thuyết giảng cho các vị Tỳkhưu trẻ, vì họ có thể nói lên những điều có khi đúng, có khi sai, vì sao? Vì sự tưởng tượng của họ rất phong phú, họ có thể tưởng tượng ra mọi điều([7]).

Trong bài kinh này này Đức Thế Tôn dùng tất cả là 7 ví dụ theo trình tự: Trước tiên là 4 ví dụ về chậu nước để Sadi Rāhula có thể nhìn thấy bằng mắt, hai ví dụ về con voi trong khi lâm trận và một ví dụ về tấm gương.

*Bốn ví dụ về chậu nước.

Vào buổi chiều, Đức Thế Tôn từ  nơi thiền tịnh đứng dậy đi đến Ambalaṭṭhikā, chỗ ở của Sadi Rāhula.

Sadi Rāhula thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến, liền sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân. Đức Thế Tôn ngồi vào chỗ ngồi được soạn sẵn, rồi rữa chân, Sadi Rāhula đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

a* Đức Thế Tôn để lại một ít nước trong chậu, rồi hỏi Rāula rằng:

– Này Rāhula, con có thấy một ít còn lại trong chậu nước không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này Rāhula, cũng vậy, nhỏ nhoi là Samôn hạnh của những người nào biết mà còn nói dối, không có hổ thẹn (evaṃ parittakaṃ kho, rāhula, tesaṃ sāmaññaṃ yesaṃ natthi sampajānamusāvāde lajjā’’ti).

b*Đức Thế Tôn đổ đi chút ít nước trong chậu nước, rồi hỏi Rāhula rằng:

– Này Rāhula, con có thấy chút ít nước còn lại trong chậu nước bị đổ đi không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này Rāhula, cũng vậy, bị vứt bỏ là Samôn hạnh của những người nào biết mà còn nói dối, không có hổ thẹn (evaṃ chaḍḍitaṃ kho, rāhula, tesaṃ sāmaññaṃ yesaṃ natthi sampajānamusāvāde lajjā’’ti).

c*Đức Thế Tôn lật úp chậu nước, rồi hỏi Rāhula rằng:

– Này Rāhula, con có thấy chậu nước bị lật úp không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này Rāhula, cũng vậy, bị lật úp là Samôn hạnh của những người biết mà còn nói dối, không có hổ thẹn (evaṃ nikkujjitaṃ kho, rāhula, tesaṃ sāmaññaṃ yesaṃ natthi sampajānamusāvāde lajjā’’ti).

d*Đức Thế Tôn lật ngửa chậu nước trở lại, rồi hỏi Rāhula rằng:

– Này Rāhula, con có thấy chậu nước này trống không chăng?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này Rāhula, cũng vậy, trống không là Samôn hạnh của những người biết mà còn nói dối, không có hổ thẹn (evaṃ rittaṃ tucchaṃ kho, rāhula, tesaṃ sāmaññaṃ yesaṃ natthi sampajānamusāvāde lajjāti).

*Hai ví dụ  về con voi khi lâm trận.

*Đức Thế Tôn đưa ra hình ảnh con voi của vua  được khéo huấn luyện. Khi lâm trận, voi chiến dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi nhưng biết bảo vệ cái vòi (là đưa vòi vào trong miệng). Đó là con voi biết bảo vệ mạng sống.

Khi lâm trận, voi chiến dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng cả vòi. Đó là con voi không biết bảo vệ cái vòi, là con voi quăng bỏ mạng sống và con voi ấy không việc gì mà không làm.

Này Rāhula, cũng vậy, đối với ai biết mà vẫn nói dối, không có hổ thẹn, thời Ta nói rằng: “Người ấy không có việc ác gì mà không làm”. Do vậy, này Rāhula, con phải học tập: “Ta quyết không nói dối, dù là nói đùa” (tasmātiha te, rāhula, ‘hassāpi na musā bhaṇissāmī’ti – evañhi te, rāhula, sikkhitabbaṃ).

*Ví dụ cái gương.

Đức Thế Tôn dạy tiếp:

– Này Rāhula, con nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?

– Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.

– Này Rāhula, cũng vậy, khi con muốn làm một việc về thân, hãy suy xét: “Việc làm này như thế nào? Có hại cho mình, có hại cho người, có hại cho cả hai. Vậy việc làm về thân này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”, này Rāhula, con nhất định không làm.

Một việc làm từ thân, sau khi suy xét: “Việc làm này không có hại mình, không có hại người, không có hại cả hai. Việc làm từ thân này là thiện, đưa đến ”. Này Rāhula, việc làm từ thân này con nên làm .

Này Rāhula, khi con đang làm một việc từ thân, sau khi suy xét biết rõ là bất thiện, con hãy từ bỏ việc làm ấy.

Này Rāhula, khi con đang làm một việc từ thân, sau khi suy xét, biết rõ là thiện, con nên tiếp tục làm.

Này Rāhula, khi làm xong một việc từ thân, sau khi suy xét biết rõ là bất thiện. Cần phải từ bỏ, cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi tỏ lộ xong, cần phải phòng hộ trong tương lai.

Này Rāhula, khi làm xong một việc từ thân, sau khi suy xét biết rõ là thiện, phải an trú trong hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.

(Tương tự như vậy với việc làm từ lời nói, với ý nghĩ).

Này Rāhula, cần phải suy xét nhiều lần để trong sạch hóa thân nghiệp, ngữ nghiệp và ý nghiệp([8]).

Bài kinh này là một trong những bài kinh được vua Asoka (ADục) khắc vào bia đá để các Tỳkhưu, Tỳkhưu ni, cận sự nam, cận sự nữ cần phải tụng đọc([9]).

Đây là pháp môn thanh lọc ác, bất thiện pháp ra khỏi ba nghiệp: Thân, ngữ, ý. Tất cả chư Phật, chư Phật Độc giác, chư Thánh Thinh văn trong quá khứ, hiện tại lẫn vị lai đều thực hiện.

Hỏi. Khi nào và ở đâu các hành động về thân, ngữ và ý được thanh lọc?

Đáp. Bất cứ lúc nào và nơi đâu, khi phát hiện hành động về thân, ngữ hay ý rơi vào ác, bất thiện thì vị ấy lập tức thanh lọc ngay lập tức.

Nếu như chúng khởi lên vào buổi sáng vị ấy do lơ đểnh không nhận thức ra, sau bữa ăn trưa vị ấy ngồi nơi thanh vắng, hồi tưởng lại những việc làm từ thân, ngữ hay ý vào ban sáng và sẽ thanh lọc chúng ngay tại chỗ ngồi ấy. Nghĩa là vị Tỳkhưu cần phải xem xét lại hành động về thân hay ngữ, xem chúng có vi phạm vào một lỗi lầm chăng? Nếu có, vị ấy đi đến một vị Tỳkhưu không vi phạm vào lỗi ấy, xin sám hối với vị ấy, sẽ được vị ấy chứng nhận, thế là vị Tỳkhưu phạm lỗi được trong sạch.

Về thanh lọc ý, vị  Tỳkhưu khi đi khất thực, cố gắng kiểm soát tâm đối với 5 trần cảnh: Sắc, thinh, hương, vị, xúc; khi phát sinh tham hay sân đối với 5 trần cảnh, vị ấy dừng lại, thanh lọc hết tham, sân đang khởi lên, rồi sau đó mới tiếp tục lên đường.

*Ambalaṭṭhikā.

Theo Ngài Buddhaghosa: “Ambalatthikā không phải là một vườn hoa, mà là một Giảng đường (pasāda) hay là một thiền đường (padhānaghara saṅkhepa) nằm trong khu rừng xoài nơi rừng Trúc (Veḷuvana), một bức tường bọc chung quanh khu rừng xoài, nên thiền đường này được gọi là Ambalaṭṭhikā.

Nơi đây rất yên tịnh, dành cho những vị Tỳkhưu tu tập thiền tịnh đến trú ngụ. Được biết Ngài Sadi Rāhula sống nơi đây rất lâu([10]).

3-Kumārapañhāsutta (kinh Hỏi Nam tử).

Là bài kinh thứ tư trong tập Khuddakapātha (Tiểu tụng) của Khuddaka nikāya (Tiểu bộ kinh)([11]), bài kinh gồm có 10 câu hỏi.

Theo Bản Sớ giải, kinh này được Đức Thế Tôn hỏi Ngài Sadi Sopāka (khi ấy Ngài Sopāka được 7 tuổi, nhưng đã chứng đắc Thánh quả Alahán).

 Sau khi Ngài Sopāka trả lời trọn vẹn 10 câu hỏi, Đức Thế Tôn ban cho Ngài Sopāka là vị Trưởng lão (Thera)([12]). Bài kinh này được xem là nghi thức thọ giới Tỳkhưu của Ngài Sopāka.

Các câu hỏi này được giảng giải bởi Tỳkhưu ni Kajaṅgalā([13]).

Theo Bản Sớ giải kinh Ambalaṭṭhikā Rāhulovāda, Ngài Buddhaghosa có giải thích: “Sau khi thuyết giảng xong kinh Ambalaṭṭhikā Rāhulovāda đến Sadi Rāhula, vào những ngày sau Đức Thế Tôn dạy Sadi Rāhula 10 câu hỏi để làm tăng trưởng trí của Rāhula, nên bài kinh này còn có tên gọi là Samaṇerapañhā (Hỏi Sadi)” ([14]).

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn thuyết kinh này đến Sadi Rāhula?

Đáp. Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Trẻ con có khuynh hướng nói lên tất cả mọi thứ hoặc thích hợp hoặc không thích hợp”.

Đức Thế Tôn cho gọi Sadi Rāhula đến dạy rằng:

– Này Rāhula con, một Sadi không nên thích thú nói về súc sinh (tiracchāna kathā), nói về những tướng lãnh, những anh hùng, nhà vua … Vì những điều này không đưa đến chứng đắc Đạo quả giải thoát.

Này Rāhula con, con hãy nói về Pháp.

Và Đức Thế Tôn dạy Sadi Rāhula 10 câu hỏi và 55 câu trả lời.

Mười câu hỏi về Pháp này không bao giờ bị các vị Phật Chánh giác bỏ ra khỏi lời dạy của các Ngài.

Nội dung kinh.

1- Ekaṃ nāma kiṃ? Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā.

Thế nào là một? Tất cả chúng sinh tồn tại nhờ vật thực”.

Giải.

Ngài Đại Luận sư Dhammapāla có giải thích như sau:

Một (ekam): Là một pháp nào khiến chúng sinh tồn tại (ṭhiti) ở đời? Từ đó khiến chúng sinh ấy đau khổ? Và nếu ly tham pháp ấy, nhàm chán pháp ấy sẽ không tồn tại ở đời, sẽ chấm dứt đau khổ.

Ngài Sopāka trả lời: “Đó chính là vật thực (āhāra)”.

Có bốn loại vật thực (hay dưỡng tố – ojā) để nuôi dưỡng chúng sinh là: Đoàn thực thô (là cơm, nước …), xúc thực, tư niệm thực và thức thực([15]).

Hỏi. Nếu vậy vị Phạm thiên Vô tưởng không có 4 loại vật thực này, các vị ấy không dùng cơm, nước thô (đoàn thực), không có xúc, không có thọ, cũng không có tâm. Vì sao các vị ấy vẫn tồn tại cả 500 kiếp trái đất.

Đáp. Trước tiên cần phải hiểu: Danh từ chúng sinh (satta) là chỉ cho uẩn có Mạng quyền (jīvitindriya), được gọi là chúng sinh là do có uẩn hiện khởi, hay tập hợp của các uẩn. Ví như gọi “ngôi làng” là chỉ cho tập hợp các ngôi nhà hay ám chỉ “có nhà”, tuy trong nhóm những ngôi nhà ấy có vài ngôi nhà bị cháy, người ta nói là “làng bị cháy”. Cũng vậy, vị Phạm thiên Vô tưởng có sắc uẩn có sắc mạng quyền nên được gọi là chúng sinh

Lại nữa, mỗi uẩn có loại vật thực riêng của chúng, tuy vị Phạm thiên Vô tưởng không dùng đoàn thực để nuôi dưỡng sắc uẩn, nhưng vị Phạm thiên Vô tưởng tục sinh bởi đoàn Mạng quyền, đoàn Mạng quyền này do nghiệp thiền tạo ra, tự chúng sinh khởi loại vật thực riêng để nuôi dưỡng sắc pháp. Như vị Phạm thiên Sắc giới hữu tưởng, vị ấy cũng không dùng đoàn thực, sắc uẩn của vị ấy tự tạo ra loại vật thực riêng để sắc pháp tồn tại. Đó là do năng lực của thiện nghiệp thiền ở  kiếp trước.

Để ly tham, nhàm chán vật thực, vị Tỳkhưu cần quán tưởng về pháp vô thường theo ý nghĩa tuyệt đối qua kệ ngôn:

277- Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti; yadā paññāya passati.

Atha nibbindati dukkhe; esa maggo visuddhiyā.

“Các hành là vô thường; nhờ trí quán xét vậy.

Sẽ nhàm chán thống khổ; chính là đạo thanh tịnh” (HT. TMC d)([16]).

2- Dve nāma kiṃ? Nāmañca rūpañca.

Thế nào là hai? Danh và sắc.

Giải.

Sắc (rūpa). Chỉ cho 4 nguyên tố chính là: Đất (paṭhavī), nước (āpo), gió (vāyo) và lửa (tejo). Bốn nguyên tố này là sắc pháp cơ bản cho loại sắc pháp có Mạng quyền luôn cả sắc pháp không có Mạng quyền như sông, núi …

Danh (nāma). Chỉ cho danh thực tính pháp, không phải là danh chế định (paññattināma). Lại nữa, danh ở đây chỉ cho những pháp phi sắc có liên hệ đến ô nhiễm (āsava), không phải chỉ cho pháp Siêu thế (lokuttaradhammā).

Khi nói đến chúng sinh, là nói đến hai pháp căn bản là danh và sắc. Do vậy, Đức Thế Tôn hỏi: “Thế nào là hai”? Và Ngài Sopāka đáp: “Danh và sắc”.

Khi nói đến chúng sinh là chỉ cho danh (như chúng sinh cõi Vô sắc), hoặc chỉ cho sắc (chỉ cho vị Phạm thiên Vô  tưởng) hoặc chỉ cho danh lẫn sắc (như Phạm thiên Sắc giới hữu tưởng hay chúng sinh cõi Dục).

Vị Tỳkhưu ly tham, nhàm chán 2 pháp này, vị ấy có thể chấm dứt đau khổ, không còn trở lại đời này.

Để ly tham, nhàm chán hai pháp này, vị Tỳkhưu cần phải quán tưởng pháp vô ngã theo ý nghĩa tột cùng qua kệ ngôn:

279- Sabbe dhammā anattā’’ti; yadā paññāya passati.

Atha nibbindati dukkhe; esa maggo visuddhiyā.

Các pháp là vô ngã; nhờ trí quán xét vậy.

Sẽ nhàm chán thống khổ; chính là đạo thanh tịnh” (HT. TMC d)([17]).

3- Tīṇi nāma kiṃ? Tisso vedanā.

“Thế nào là ba? Ba thọ”.

Giải.

Khi phân tích theo khía cạnh cảm nhận thì khối tập hợp được gọi là chúng sinh, chỉ là ba cảm thọ (vedanā) mà thôi.

Ba cảm thọ này là đơn vị căn bản, nên Đức Thế Tôn hỏi: “Thế nào là ba”?. Ngài Sopāka đáp: “Ba thọ”.

Vị Tỳkhưu ly tham, nhàm chán 3 pháp này, vị ấy có thể chấm dứt đau khổ, không còn trở lại đời này.

Để ly tham, nhàm chán ba pháp này, vị Tỳkhưu cần phải quán tưởng cảm thọ với ý nghĩa tuyệt đối qua kệ ngôn:

Yo sukhaṃ dukkhato adda; dukkhamaddakkhi sallato.

Adukkhamasukhaṃ santaṃ; addakkhi naṃ aniccato.

“Người thấy lạclà  khổ; thấy khổ là mũi tên.

An tịnh với không khổ không lạc; thấy rõ là vô thường.”

Sa ve sammaddaso bhikkhu, parijānāti vedanā.

So vedanā pariññāya; diṭṭhe dhamme anāsavo.

Kāyassa bhedā dhammaṭṭho; saṅkhyaṃ nopeti vedagū’’ti.

“Nếu vị Tỳkhưu thấy đúng; hiểu trọn vẹn các thọ.

Vị ấy thông suốt thọ; không ô nhiễm pháp hiện tại.

Mệnh chung an trú pháp; bậc Đại trí vô lượng”([18]).

Hoặc Vị Tỳkhưu quán xét các pháp hữu vi theo lý khổ não ý nghĩa tột cùng, như kệ ngôn:

Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti; yadā paññāya passati.

Atha nibbindati dukkhe; esa maggo visuddhiyā.

“Các hành là khổ não; nhờ trí quán xét vậy.

Sẽ nhàm chán thống khổ; chính là đạo thanh tịnh” (HT. TMC d)([19]).

4- Cattāri nāma kiṃ? Cattāri ariyasaccāni.

“Thế nào là bốn? Bốn sự thật bậc thánh”.

Giải.

 Bốn. Là bốn pháp nào mà vị Tỳkhưuly tham, nhàm chán sẽ dẫn đến chấm dứt đau khổ? Không còn trở lại đời này nữa?

Có ba bài kinh nêu ra bốn pháp  này.

Trong tập Tăng chi kinh bài kinh Pathamamahāpañhā (Những câu hỏi lớn 1), Đức Thế Tôn nêu ra là bốn vật thực.

Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ …

“Bốn câu hỏi, bốn tóm lược, bốn thông đạt, được nói đến ở đây …”.

 Katamesu catūsu? Catūsu āhāresu.

“Thế nào là bốn? Bốn vật thực”([20]).

Bà Tỳkhưu ni Kajaṅgalā giải thích là: Bốn Niệm xứ([21]).

Ở đây Ngài Sopāka đáp là : Bốn sự thật bậc Thánh.

Câu giải thích của Bà Tỳkhưu ni Kajaṅgalā và của Ngài Sopāka đều được Đức Thế Tôn chấp nhận.

5- Pañca nāma kiṃ? Pañcupādānakkhandhā’’.

Thế nào là năm? Năm thủ uẩn”

Giải.

Năm uẩn là năm nhóm được phân tích từ danh sắc. Chúng sinh là chỉ cho 5 nhóm theo tổng quát

Năm nhóm này được hình thành do nắm giữ (upādāna) trước đó, rồi cũng chính năm nhóm này hấp dẫn tâm chúng sinh và chúng sinh nắm giữ chúng.

Vị Tỳkhưu ly tham, nhàm chán 5 pháp này, vị ấy có thể chấm dứt đau khổ, không còn trở lại đời này.

Để ly tham, nhàm chán năm pháp này, vị Tỳkhưu cần phải quán tưởng năm thủ uẩn với ý nghĩa tuyệt đối qua kệ ngôn:

374- Yato yato sammasati; khandhānaṃ udayabbayaṃ.

Labhatī pītipāmojjaṃ; amataṃ taṃ vijānataṃ.

Người luôn ghi nhận đúng; các nhóm sinh rồi diệt.

Được hân hoan, hoan hỷ; vị ấy biết bất tử”([22]).

6- Cha nāma kiṃ? Cha ajjhattikāni āyatanāni.

“Thế nào là sáu? Sáu nội xứ”.

Giải.

Gọi là nội (ajjhatta) vì:

– Liên quan đến bên trong (ajjhatte niyittāni).

– Hoạt động độc lập, riêng biệt (ajjhattika)

Gọi là āyatana (xứ) vì có những ý nghĩa sau:

– Là nền tảng (āyatanāni).

 – Là tính kích hoạt (āyatanato) của chúng.

– Có đặc tính dẫn đến khởi động (āyatassa …).

Sáu nội xứ là chỉ cho: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Vị Tỳkhưu nhàm chán, ly tham sáu pháp này vì nhận ra tính rỗng không (suññata) như “ngôi làng trống vắng”.

Suñño gāmoti kho, bhikkhave, channetaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ adhivacanaṃ.

“Này các Tỳkhưu, ngôi làng trống rỗng đồng nghĩa  với sáu nội xứ”([23]).

Vị ấy thấy nó là trống không (rittakaññeva khāyati), là rỗng không (tucchakaññeva khāyati), là tuyệt không (suññakaññeva khāyati) (sđd).

Như Đức Phật dạy:

170 – Yathā pubbuḷakaṃ passe; yathā passe marīcikaṃ.

Evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ; maccurājā na passati.

“Như ta nhìn bọt nước; như ta nhìn ảo ảnh.

Thấy thế gian như vậy; thần chết không thấy được”([24]).

7- Satta nāma kiṃ? Satta bojjhaṅgā.

“Thế nào là bảy? Bảy giác chi”.

Giải.

Trong tập Tăng chi kinh, Đức Thế Tôn nêu là: “Satta viññāṇaṭṭhitīsu: Bảy thức trú”([25]).

Bà Tỳkhưu ni Kajaṅgalā và Ngài Sopāka đáp là : “Satta bojjhaṅgā: Bảy giác chi”, và Đức Thế Tôn chấp nhận lời giải của hai vị.

Bảy thức trú. Là 7 nơi thức cư ngụ. 7 nơi đó là gì? Chính là Bavaṅgacitta (tâm hữu phần), vì dòng bhavaṅgacitta  thuộc về ý môn (manodvāra). Tâm Hữu phần chính là tâm Tái tục (paṭisandhiviññāṇa – Thức nối liền).

Để tìm ý môn phải y cứ vào tâm tái tục, liên quan đến tâm Tái tục là cảnh giới tái sinh. Và 7 nơi thức trú ngụ đó là:

1’- Nānattakāyānānattasaññino: Thân  khác nhau, tưởng khác nhau.

Có những chúng sinh có thân khác nhau, đồng thời tâm tái tục cũng khác nhau , tuy những chúng sinh này sống trong cùng cảnh giới. Như người, chư thiên cõi Dục, một số chúng sinh là ma đói (peta).

2’-Nānattakāyayekattasaññino. Thân khác nhau, tưởng giống nhau.

Có những chúng sinh tuy có tâm Tái tục giống nhau, nhưng thân thể khác nhau. Như chư Phạm thiên cõi Sơ thiền.

3’- Ekattakāyanattasaññino. Thân giống nhau, tưởng khác nhau.

Có những chúng sinh tuy có thân thể giống nhau, nhưng tâm tái tục khác nhau. Như những Phạm thiên cõi Nhị thiền (Ābhassara –  Quang âm).

Tái sinh về cõi Nhị thiền là do tâm quả Nhị thiền và tâm quả Tam thiền.

4’- Ekattakāyekattasaññino. Thân giống nhau, tưởng giống nhau.

Có những chúng sinh có thân giống nhau, có tâm tái tục giống nhau. Như chư Phạm thiên cõi Tam thiền (Subhakiṇna – Biến tịnh).

5’- Ākāsānañcāyatāna. (Chúng sinh) Không vô biên xứ.

6’- Viññāṇañcāyatana. (Chúng sinh) Thức vô biên xứ[26].

7’- Ākiñcaññāyatana. (Chúng sinh) Vô sở hữu xứ.

8- Aṭṭha nāma kiṃ? Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’’.

“Thế nào là tám? Thánh đạo tám chi”.

Giải.

Ngài Sopāka trả lời như vậy, vì Ngài đã nương vào con đường duy nhất này thành đạt được Thánh quả Alahán, chấm dứt trọn vẹn mọi khổ luân hồi.

Tương tự như thế, Bà Tỳkhưu ni Kajaṅgala cũng giải thích là “Bát chi Thánh đạo).

Trong Tăng chi kinh, Đức Thế Tôn dạy là: Tám pháp thế gian (aṭṭhalokadhammā)([27]).

Tám pháp thế gian là: Được lợi (lābha), mất lợi (alābha), được danh (yassa), mất danh (ayassa), chê bai (nindā), khen ngợi (pasaṃsā), an lạc (sukha) và đau khổ (dukkha)([28]).

Tám pháp này khiến chúng sinh nhất là phàm nhân bị quay cuồng tựa như chiếc lá trong cơn gió lốc tố. Đối với vị Thánh đệ tử khi gặp thuận cảnh như được lợi, được danh, được khen ngợi, hạnh phúc, nhờ khéo tác ý (ayoni so manasikāra), các Ngài quán xét vô thường, khổ hay vô ngã nên tâm không quá vui thích với chúng. Khi gặp nghịch cảnh như: Mất lợi, mất danh, bị khiển trách hay đau khổ, các Ngài cũng nhờ khéo tác ý, áp chế được phiền não không cho tâm rơi vào phẫn uất …

Riêng bậc Thánh Alahán thì an nhiên bất động trước 8 pháp thế gian này.

9- Nava nāma kiṃ? Nava sattāvāsā.

“Thế nào là chín? Chín nơi cư ngụ của chúng sinh”.

Giải.

Là 9 nơi có chúng sinh cư trú. Bảy nơi như 7 thức trú ở trước, thêm hai chỗ cư ngụ nữa là:

– Cõi Vô tưởng (Asaññī).

– Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasaññānāsaññāyatana).

10- Dasa nāma kiṃ? Dasahaṅgehi samannāgato ‘arahā’ti vuccatī’’ti.

Thế nào là mười”? Mười chi của bậc được gọi là Alahán”.

Giải.

Đức Thế Tôn giải thích cho các vị Tỳkhưu là: “Mười bất thiện đạo” (dasasu akusalesu kammapathesu).

Bà Tỳkhưu ni Kajaṅgalā giải thích là: “Mười thiện đạo” (dasasu kusalesu kammapathesu).

Ngài Sopāka đáp là: “Mười pháp của bậc Thánh Alahán”.

Mười pháp của bậc Vô học đó là: Chánh kiến (sammādiṭṭhi), chánh tư duy (sammāsaṅkappa), chánh ngữ (sammāvācā), chánh nghiệp (sammākammanta), chánh mạng (sammā-ājīva), chánh niệm (sammāsati), chánh tinh tấn (sammāvāyāma), chánh định (sammāsamādhi), chánh trí (sammāñāṇa) và chánh giải thoát (samaavimutti).

Chánh trí ở đây là chỉ cho trí trong tâm quả Siêu thế và trí trong 19 tâm phản khán (paccavekkhaṇañaṇa).

Bài kinh này đã trợ giúp Sadi Rāhula suy gẫm về pháp, khiến trí tuệ tăng trưởng sung mãn.

 Hai bài kinh này: Kinh Ambalaṭṭhikārāhulovāda và kinh Samaṇerapañhā được Đức Thế Tôn thuyết lên khi Sadi Rāhula được 7 tuổi.

*Tỳkhưu ni Kajaṅgalā.

Bà là người sống ở thị trấn Kajaṅgala, rất được cư dân trong thị trấn tôn sùng, được xem là một nữ Trưởng thượng đa văn của Phật giáo nơi thị trấn. Không biết rõ tên thật của bà, do sống ở thị trấn Kajaṅgala nên bà được gọi là Kajaṅgalā.

*Thị trấn Kajaṅgala.

Là một thị trấn ranh giới ở phía Đông của Majjhimadesa (Vùng Giữa) với làng Mahāsāla([29]). Vào thời Đức Phật đó là một thị trấn trù phú, cung cấp mọi thứ thực phẩm (dabbasambhārasulabhā)([30]).

Có thời Đức Thế Tôn ngụ nơi Tự viện Veḷuna của thị trấn, nhiều cư sĩ đến nghe Pháp từ Đức Thế Tôn, sau đó các cư sĩ này đi đến bà Tỳkhưu ni Kajaṅgalā nhờ bà giải thích rộng lời dạy của Đức Thế Tôn([31]).

Lần khác Đức Thế Tôn ngụ trong rừng Mukhelu (Mukhelvana), bản Sớ giải giải thích: “Vì rừng trồng cây Mukhelu nên được gọi là Mukheluvana”([32]), đệ tử của Pārāsariya là Uttara đến yết kiến Đức Thế Tôn và đàm luận pháp, nhân đó Đức Thế Tôn thuyết lên bài kinh Indriyabhāvānā (Quyền tu tập)([33]).

Trong Milindapañhā (Milinda hỏi),Kajaṅgala được mô tả như một làng Bàlamôn, là sinh quán của Trưởng lão Nāgasena([34]). Trong Bổn sự Kapota có nói đến Kajaṅgala như là một kinh thành trù phú như kinh thành Bārāṇasī (Balanại)([35]). Trong Bổn sự Bhisa vị thần cây cho biết kiếp trước vị ấy là trụ trì một Tự viện cổ ở Kajaṅgala trong thời Đức Phật Kassapa, vị Trụ trì đã bỏ nhiều công sức để tu bổ lại Tự viện([36]).

Kajaṅgala được Ngài Huyền Trang xác định là Kie-chou-hoh-khi-lo, Ngài Huyền Trang mô tả: “Đó là vùng đất có chu vi là 200o dotuần”([37]).

            Kajaṅgala còn có thể là thành phố Puṇḍavardhana nói trong Divyāvadāna([38]).

4- Những bài kinh trong phẩm Tương ưng Rāhula.

Ngoài ba bài kinh trên, Đức Thế Tôn còn thuyết giảng nhiều bài kinh khác để hướng dẫn Sadi Rāhula([39]).

Trong tập Tương ưng kinh, có một phẩm gọi là Rāhulasaṃyutta (Tương ưng Rāhula), là những bài kinh được Đức Thế Tôn dạy cho Rāhula.

Ngài Buddhaghosa nói rằng([40]): “Những bài kinh này được Đức Thế Tôn thuyết lên trong nhiều dịp khác nhau, từ khi Rāhula xuất gia cho đến khi Ngài thành đạt Thánh quả Alahán, nhiều kinh đề cập đến “các pháp làm chín mùi sự giải thoát” (vimuttiparipācanīyadhammā)([41]).

*Kinh Mắt (Cakkhusutta).

Đức Thế Tôn khi trú nơi Đại tự Kỳviên, Tôn giả Rāhula đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, Tôn giả Rāhula ngồi xuống một bên bạch hỏi rằng:

– Lành thay, bạch Đức Thế Tôn, hãy thuyết pháp cho con. Sau khi nghe con có thể sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này Rāhula, ngươi nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, là vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay là lạc?

– Bạch Thế Tôn, là khổ.

– Cái gì là vô thường, khổ, chịu sự bi hoại, có hợp lý chăng? Nếu xem cáiấy “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”.

– Thưa không, bạch Thế Tôn (HT, TMC d).

Tương tự như thế với tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Rồi Đức Thế Tôn dạy: “Vị Thánh đệ tử nhàm chán mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát”([42]).

 *Kinh sắc (Rūpasutta).

Đức Thế Tôn giảng cho Tôn giả Rāhula quán xét: Sắc, thinh, mùi, vị, xúc và pháp, là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại.

“Vị Thánh đệ tử nhàm chán sắc, thinh, mùi, vị, xúc và pháp. Do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát”([43]).

Tương tự như thế với các pháp như : Thức (viññāṇa), xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), (sañcetana), ái (taṅhā), giới (dhātu), uẩn (khandha) …

*Kinh Rāhula (Rāhulasutta) (1).

Đức Phật dạy Tôn giả Rāhula rằng:

– Này Rāhula, phàm có đất nào ở bên trong hay đất ở bên ngoài, đều là đất. Cần phải thấy rõ như thật rằng: “Cái này không pải là của ta, cái này không phải là ta, không phải là tự ngã của ta”.

Do thấy như thật đất này với chánh trí, vị ấy nhàm chám đất. Với trí tuệ vị ấy tẩy sạch tâm.

Tương tự với: Nước, lửa và gió ([44]).

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) giải thích: “Đức Thế Tôn nêu lên tính rỗng không của tứ đại (catukoṭikasuññatā)([45]).

   *Kinh Rāhula (Rāhulasutta) (2).

Đức Thế Tôn khi trú ngụ nơi Đại tự Kỳviên, rồi Tôn giả Rāhula đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi, Tôn giả Rāhula ngồi xuống một bên bạch hỏi rằng:

– Bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng “là ta, là của ta, là tự ngã của ta?”.

– Này Rāhula, phàm sắc gì là quá khư, vị lai, hiện tại, bên trong hoặc bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao sang, xa hay gần. Tất cả sắc ấy cần phải thấy với chánh trí rằng: “Cái này không phải của ta, không phải là ta, kông phải là tự ngã của ta”.

Phàm thọ gì …. tưởng … hành …. thức ….

Này Rāhula, biết như vậy, thấy như vậy đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) “là ta, là của ta, là tự ngã của ta”([46]).

Kinh này được gọi là Anusayasutta (kinh Ngủ ngầm)([47]).

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) mô tả hai bài kinh này ( A.ii. 164 và S.iii. 136) như là “dạy Rāhula quán xét” (Rāhulovāda vipassanā)([48]).

*Kinh Rāhula (Rāhulasutta) (3).

Tương tự như kinh Rāhula (2), nhưng Tôn giả Rāhula có bạch thêm “ … không có ngã mạn ngủ ngầm, vượt ra ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát”([49]).

Kinh này còn được gọi là kinh Xa lánh (Apagatasutta) (S.ii. 253).

*Kinh Rāhula (Rāhulasutta) (3).

Kinh này đưa đến chứng đắc Thánh quả Alahán cho Tôn giả Rāhula, được trích ra từ kinh Cūlarāhulovādasutta([50]).

Những bài kinh này được Đức Thế Tôn thuyết lên hướng dẫn Ngài Rāhula thực hành thiền Vipassanā (quán xét).

5- Hạnh của Ngài Rāhula.

a- Hạnh hiếu học.

Sadi Rāhula rất siêng năng luôn thức dậy sớm, mỗi buổi sáng Sadi Rāhula hốt một nắm cát tung lên hư không, nguyện rằng: “Mong rằng hôm nay ta học tập được nhiều như những hạt cát trên tay”.

Các vị Tỳkhưu thường tán thán sự thiết tha học tập cùng với sự tinh cần nghiêm trì Giới luật của Sadi Rāhula, đồng thời gọi Ngài là Rāhulabhadda (Rāhula may mắn) vì là con của Đức Phật([51]) và được chứng đắc Thánh quả Alahán. Tôn giả cũng tự nhận mình như vậy([52]).

b- Tôn kính học giới và hòa nhã.

Có thời Đức Thế Tôn ngự tại thành Āḷavī, nơi tháp thờ Aggāḷava. Ban đầu các nữ cư sĩ và Tỳkhưu ni thường đến nghe Pháp, nên buổi Giảng pháp thường diễn ra vào ban ngày, về sau các nữ cư sĩ và Tỳkhưu ni không đến nghe pháp nữa, nên buổi giảng pháp thường diễn ra vào ban đêm cho các nam cư sĩ. Khi Pháp đã được thuyết giảng xong, các Tỳkhưu trưởng lão đi về trú xá của mình, các vị Tỳkhưu mới tu cùng với các cư sĩ nằm ngủ ngay tại nơi ấy ở phòng phục vụ; các vị bị thất niệm, không tỉnh giác, lõa thể, mớ ngủ, ngáy ngủ.

Các cư sĩ phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Tại sao các Ngài Đại đức lại nằm ngủ bị thất niệm, không tỉnh giác, lõa thể, mớ ngủ, ngáy ngủ?

Việc này được trình lên Đức Thế Tôn, nhân đó Đức Thế Tôn sau khi khiển trách những vị Tỳkhưu mới tu, Ngài chế định Học giới cho các vị Tỳkhưu như vầy: “Vị Tỳ khưu nào nằm chung chỗ ngụ với người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)”.

Sau khi ngự nơi thành Ālavī như ý thích, Đức Thế Tôn lên đường du hành đến kinh thành Kosambī và trú ngụ nơi Tự viện Badarika cách kinh thành Kosambī khoảng ba dotuần (Trưởng lão Khemaka thường trú ngụ nơi Tự viện này).

Các vị Tỳkhưu đã nói với Ngài Rāhula rằng:

– Này Rāhula, điều học đã được đức Thế Tôn quy định là: “Không được nằm chung chỗ ngụ với người chưa tu lên bậc trên.” Này Rāhula, hãy tìm chỗ ngủ.

Các liêu thất đã có các vị Tỳkhưu trú ngụ, Tôn giả Rāhula không tìm được nơi ngủ đêm, nên đến nhà vệ sinh của Đức Thế Tôn để ngủ.

Vào canh cuối của đêm, Đức Thế Tôn sau khi thức dậy đã đi đến nhà vệ sinh, sau khi đi đến đã tằng hắng,Tôn giả Rāhula cũng đã tằng hắng lại.

– Ai đó vậy?

– Bạch Thế Tôn, con là Rāhula.

– Này Rāhula, sau con lại nằm ở đây?

Khi ấy, Tôn giả Rāhula đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn, sau đó, Đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhưu, ta cho phép nằm chung chỗ ngụ với người chưa tu lên bậc trên hai hoặc ba đêm. Và này các Tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị Tỳ khưu nào nằm chung chỗ ngụ với người chưa tu lên bậc trên quá hai ba đêm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)([53]).

Bản Luật Tạng ghi nhận ngắn gọn như thế, Bản Sớ giải kinh Bổn sự ghi nhận chi tiết hơn, như sau:

Các vị Tỳkhưu luôn có tâm kính trọng Đức Thế Tôn, lại thấy Tôn giả Rāhula có tâm hiếu học và hòa nhã, nên Tôn giả Rāhula được các vị Tỳkhưu thương mến. Khi Tôn giả Rāhula đến liêu thất, các vị Tỳkhưu đã soạn một nơi sạch sẽ, đặt nơi ấy một chiếc y làm gối (vì biết Tôn giả Rāhula không nằm trên giường).

Khi điều học: “Không được ngủ chung với người chưa thọ giới bậc trên” được Đức Thế Tôn chế định cho các vị Tỳkhưu, nên các vị Tỳkhưu không dám cho Tôn giả Rāhula cùng ngụ qua đêm chung một liêu thất.

Khi nghe các vị Tỳkhưu bảo: “Này hiền đệ Rāhula, Đức Thế Tôn có chế định Học giới: Không cho ngụ qua đêm với người chưa thọ giới bậc trên. Vậy hiền đệ hãy đi tìm nơi khác ngụ qua đêm đi”.

Tôn giả Rāhula vui vẻ ra đi chẳng chút buồn phiền, khó chịu; tính hòa nhã còn được thể hiện như sau:

Thỉnh thoảng các vị Tỳkhưu thấy Tôn giả Rāhula từ xa đi đến, vì muốn thử tính tình của Tôn giả Rāhula, nên quăng ra bên ngoài những cán chổi hoặc một ít rác, khi Tôn giả Rāhula đi đến, hỏi rằng:

– Này Hiền giả Rāhula, ai đã quăng bỏ cán chổi (hay rác) như thế này? Được nghe rằng: “Hiền giả Rāhula thường qua lại con đường này”.

Tôn giả Rāhula không nói: “Thưa Ngài, tôi không biết”; trái lại, Tôn giả dọn dẹp rác ấy, xong rồi khiêm tốn xin lỗi, khi được tha lỗi rồi mới ra đi.

Tôn giả Rāhula không đi đến thầy Tế độ là Ngài Sāriputta, không đi đến thầy Giáo thọ là NgàiMoggallāna, vì nghĩ rằng: “Khi ta đến nơi ấy tìm chỗ ngụ, thầy Tế độ của ta sẽ nhường liêu thất cho ta, Ngài sẽ ngụ bên ngoài, như vậy là ta đã làm điều không phải đối với thầy Tế độ. Tương tự như vậy với thầy Giáo thọ”.

Tôn giả Rāhula cũng không đi đến liêu thất của Ngài Ānanda là chú họ của mình, cũng không đến Hương thất của Đức Thế Tôn. Tôn giả Rāhula nghĩ đến nhà vệ sinh của Đức Thế Tôn.

Nhà vệ sinh của Đức Thế Tôn rất sạch sẽ, cửa khéo đóng nhưng được khép hờ, bên trong có những hương liệu để tẩy những mùi hôi thối, có đèn thắp sáng thắp suốt đêm.

Khi thấy Rāhula ngủ đêm nơi nhà vệ sinh, Đức Thế Tôn xúc động mạnh, suy nghĩ rằng: “Ngay cả Rāhula, các vị Tỳkhưu còn vất bỏ như vậy, thì còn nói gì đến những Sadi khác”.

Sáng hôm sau, Đức Thế Tôn cho triệu tập các vị Tỳkhưu nơi Giảng pháp đường, Đức Thế Tôn hỏi Ngài Sāriputta rằng:

– Này Sāriputta, ngươi có biết đêm qua Rāhula ngủ nơi phòng vệ sinh chăng?

– Bạch Thế Tôn, con không biết.

– Này Sāriputta, đêm qua Rāhula ngủ nơi nhà vệ sinh của Như Lai. Này Sāriputta, ngay cả Rāhula, các ngươi còn vất bỏ như thế, thì còn nói gì đến những Sadi trẻ khác chứ. Nếu sự kiện là như vậy, những thiện gia tử vì niềm tin xuất gia trong Giáo pháp này sẽ không còn có tâm thích thú ở lại.

Tiếp theo Đức Thế Tôn phụ chế định Học giới nói trên.

Vào buổi chiều, các vị Tỳkhưu ngồi đàm luận cùng nhau nơi Giảng pháp đường rằng:

– Này chư hiền, hãy xem Rāhula có tâm hòa nhã ham thích học hỏi như thế nào? Khi bị từ chối ngụ chung liêu thất, Rāhula không nói: “Ta là con của Đức Thế Tôn”, không chối đối với vị Tỳkhưu nào cả, và đi đến phòng vệ sinh đề ngủ đêm, tránh phiền hà đến các vị Tỳkhưu.

Với thiên nhĩ siêu nhân, Đức Thế Tôn nghe được cuộc bàn luận của các Tỳkhưu, Ngài ngự đến Giảng pháp đường, ngồi lên chỗ ngồi được soạn sẵn, rồi hỏi các vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhưu, các ngươi đang đàm luận về vấn đề gì? Vấn đề gì được khởi lên nơi này?.

Các Tỳkhưu  trình bạch lên Đức Thế Tôn vấn đề được đàm luận. Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, không phải chỉ trong hiện tại Rāhula thiết tha học tập, thuở quá khứ khi còn là súc sinh, tiền thân Rāhula cũng từng như vậy rồi.

Theo lời thỉnh cầu của các vị Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Tipallatthamiga.

*Bổn sự Tipallatthamiga (Con nai có ba cử chỉ).

Thuở xưa, nơi qốc độ Magadha, Bồtát sinh làm nai chúa với đàn nai vây quanh sống trong rừng rậm.

Nai chị mang nai con của mình đến nói với nai chúa:

– Này em, em hãy dạy cho cháu em sự khôn ngoan của loài nai chúng ta.

– Rất tốt, này chị.

Nai chúa dạy cháu rằng:

– Này cháu thân, hãy đi và hãy đến vào giờ này để học tập.

Nai cháu không quên giờ nai chúa dạy, luôn đến đúng giờ để học tập sự khôn ngoan của loài nai.

Một ngày nọ, nai cháu đi qua lại trong rừng, chẳng may sập vào bẩy nai của người thợ săn nai, nó thốt lên tiếng kêu của con thú mắc bẩy, đàn nai bỏ chạy, về báo cho nai mẹ biết. Nai mẹ đi đến nai chúa hỏi rằng:

– Này em, nai cháu của em đã học được sự khôn ngoan của loài nai chưa?

– Này chị, nó đã khéo học được sự khôn ngoan của loài nai rồi, điềm dữ sẽ không đến với nó. chị hãy yên lòng đi.

Rồi nai chúa nói lên kệ ngôn:

16- Migaṃ tipallattha manekamāyaṃ; aṭṭhakkhuraṃ aḍḍharattāpapāyiṃ.

Ekena sotena chamāssasanto; chahi kalāhitibhoti bhāgineyyoti.

“Nai khôn ngoan với ba cử chỉ; có chân tám móng,

uống nước lúc nửa đêm.

Một tai thở theo nhịp đất; với sáu khôn ngoan,

cháu ta thắng kẻ thù”.

Nai con bị nằm trong bẩy rập, không chao động bàng hoàng vùng vẫy, nằm duỗi chân thoải mái một bên hông, móng chân cào đất tại chỗ gần chân, tiểu và đại tiện gần đó, đầu gục xuống, le lưỡi làm thân ướt đẩm mồ hôi, nó nín thở khiến bụng trương lên, mắt trợn lớn. Nai con chỉ thở bằng mũi bên dưới, mũi trên nín thở, khiến toàn thân cứng đờ như đã chết.

Những loài ruồi xanh đánh hơi mùi phân và nước tiểu, bay đến bu quanh thân nai.

Người thợ săn nai đi đến thấy nai nằm trong bẩy với hiện trạng như mô tả, người thợ săn nai suy nghĩ:

– Con nai này đã chết, thân nó đang chương sình lên , ta nhanh chóng xẻ thịt để mang về, kẻo thịt bị hôi thối.

Người thợ săn kéo xác nai ra khỏi bẩy, đặt trên đất đi tìm củi để đốt lửa nấu nước xẻ thịt nai. Lập tức, nai vươn mình dứng dậy, phóng nhanh như cơn gió lốc. Nai chạy nhanh về với đàn.

Nhận diện bổn sự.

Nai chị nay là bà Thánh nữ Upalavaṇṇā, nai con nay là Rāhula, nai chúa nay là Đức Thế Tôn([54]).

Một  lần khác, cũng nơi Tự viện Badarika, các Tỳkhưu ngồi cùng nhau đàm luận về tinh thần nhẫn nại để học tập của Tôn giả Rāhula.

Nhân đó, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

*Bổn sự Tittira (Chim đa đa).

 Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại) của Vương quốc Kāsi.

Khi ấy, Bồtát tái sinh vào một gia tộc Bàlamôn, trưởng thành Ngài theo học nghiệp nghệ gia tộc nơi kinh thành Takkasilā. Sau khi mẹ cha qua đời, Bồtát bố thí hết tài sản, xuất gia thành vị ẩn sĩ, tu tập nơi vùng Hymãlạpsơn, Ngài chứng đạt các thiền chứng cùng 5 pháp thần thông phàm.

Có lần Ngài đến cư trú nơi làng vùng biên địa để tìm muối và dấm, nhiều người trong thôn theo Ngài học tập, họ dựng cho Ngài một túp lều tranh ở ven rừng, hộ độ Ngài mọi vật dụng cần thiết cho đời sống Samôn.

Có người thợ bẩy chim trong làng, bắt được con chim Đa đa, huấn luyện chim trở thành chim mồi. Người thợ săn chim bỏ chim Đa đa vào lồng , mang vào rừng đế trú xứ có nhiều chim Đa đa, khi chim Đa đa gáy lên, các con chim Đa đa khác bay đến và người thợ săn chim đã bắt những con chim Đa đa ấy. Chim Đa đa suy nghĩ: “Vì ta mà đồng loại của ta lâm vào cái chết, riêng ta hành động này là hành động ác độc”.

Do nghĩ vậy, nên chim Đa đa không gáy lên nữa, người thợ săn chim liền lấy một thanh tre đập vào đầu nó, đau quá, nó kêu lên và những con chim đa đa khác tìm đến. Người thợsăn chim sống bằng cách như vậy.

Chim Đa đa suy nghĩ: “Ta không cố ý kêu lên để nhữ những con chim Đa đa khác đến để người thợ săn bắt chúng, chúng tự đến và chúng bị thảm họa. Nhưng hành động của ta có gây ra ác nghiệp hay không?”.

Con chim Đa đa cứ mãi phân vân về vấn đề này, suy nghĩ rằng: “Ai là người có thể giải trừ nghi hoặc này cho ta”. Và nó lập tâm cố tìm bậc trí để giải nghi vấn đề này.

Một hôm, người thợ săn chim bắt được một số chim Đa đa, bỏ vào lồng mang về, khi đi đến căn lều của Bồtát, anh đi vào xin nước uống. Rồi vì mệt nhọc, người thợ săn chim tìm một chỗ ngủ.

Con chim Đa đa suy nghĩ: “Ta sẽ hỏi vị ẩn sĩ này về mối hoài nghi của ta”.

Chim Đa đa mang sự hoài nghi của mình hỏi ẩn sĩ, vị Ẩn sĩ nói rằng:

– Tâm không có ý ác, hành động ấy do bị ép buộc, những con chim khác đi đến là do nghiệp của chúng dẫn lối. Ngươi không có phạm vào ác nghiệp chi cả.

Rồi ẩn sĩ an ủi con chim Đa đa, từ đó chim Đa đa không còn ray rứt nữa.

Nhận diện Bổn sự.

Chim Đa đa nay là Rāhula, còn vị ẩn sĩ nay là Đấng Như Lai([55]).

Trong thời gian còn là Sadi, Tôn giả Rāhula có lần theo thầy Tế độ là Ngài Sāriputta cùng Tăng chúng đến nhà bà Sārī (mẹ của Ngài Sāriputta) nhận vật thực, chứng kiến bà Sārī nhiếc mắng Ngài Sāriputta và Ngài Sārīputta im lặng ra đi([56]). Và Ngài Rāhula học tập thực hành hạnh nhẫn nại từ vị Thầy Tế độ của mình,

c- Hiếu thuận.

Khi bà Yasodharā (DaDuĐàLa) xuất gia trong Ni đoàn, Sadi Rāhula thường đến Ni viện viếng thăm mẹ, có lần bà Yasodharā  bị chứng bịnh “đầy hơi”, cần có nước xoài pha với mật đường mới khỏi chứng bịnh.

Sadi Rāhula tìm đến thầy Tế độ là Trưởng lão Sāriputta với gương mặt ưu tư, khi biết được nhân khiến vị đệ tử đầu tiên của mình ưu tư, Ngài Sāriputta đến Hoàng cung tìm vua Pasenadi (PaTưNặc), tìm nước xoài tẩm mật đường cho đệ tử của mình. Và được vua Pasenadi cúng dường nước xoài tẩm mật đường đến bà Yasodharā, cũng từ đó Đức vua Pasenadi thường xuyên cúng dường nước xoài tẩm mật đường đến bà Yasodharā.

Nhân sự kiện này Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Abbhantara (cây xoài chính trung)([57]).

d- Chứng đạt thần thông.

Tuy là Sadi nhưng Ngài Rāhula tinh cần tu tập thiền tịnh và chứng đạt thần thông, trong lần Trưởng lão Moggallāna (MụcKiềnLiên) thu phục Rắn chúa Nandopananda, trước đó các vị Trưởng lão có thần lực kể cả Ngài Raṭṭhapāla, Ngài Bhaddiya và Ngài Rāhula xin Đức Thế Tôn đi thu phục Rắn chúa Nandopananda, nhưng không được Đức Thế Tôn chấp thuận([58]).

*Đại kinh Giáo giới Rāhula (Mahārāhulovādasutta).

Vào hạ thứ 12 của Đức Thế Tôn, khi ấy Sadi Rāhula được 18 tuổi. Có lần Sadi Rāhula cùng Đức Thế Tôn đi vào thành Sāvatthi (Xávệ) khất thực, Ngài Rāhula ôm bát đi sau lưng Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn có phật tướng trang nghiêm xinh đẹp với 32 đại nhân tướng, Ngài Rāhula khi ấy cũng có thân tướng trang nghiêm xinh đẹp cùng với 32 đại nhân tướng như Đức Thế Tôn.

* Đức Thế Tôn như voi chúa xinh đẹp uy mãnh ra khỏi rừng, đi đến khu rừng Sāla đang trổ đầy hoa, đến khu đất yên tịnh để nghỉ, Ngài Rāhula như voi chúa con cũng xinh đẹp uy mãnh, đang theo sau lưng voi chúa cha.

* Đức Thế Tôn như Sư tử vương xinh đẹp ra khỏi động ngọc đi tìm vật thực, Ngài Rāhula như sư tử con theo sau lưng cha cũng xinh đẹp như thế.

* Đức Thế Tôn như chim chúa Garuda (Kimxíđiểu) bay giữa không trung, Ngài Rāhula như chim chúa Garuda con đang vỗ cánh theo sau chim chúa cha.

* Đức Thế Tôn như thiên nga (haṃsa) chúa với màu lông vàng ánh xinh đẹp, đang từ đỉnh Cittakūta đi vào giữa hư không, Ngài Rāhula như chim thiên nga chúa con cũng vỗ cánh bay theo sau lưng thiên nga chúa cha.

* Đức Thế Tôn như chiếc thuyền vàng lớn xinh đẹp đang dạo chơi trong hồ Chaddanta, Ngài Rāhula như chiếc thuyền vàng con xinh đẹp cũng theo sau chiếc thuyền vàng lớn.

*Đức Thế Tôn như vua Chuyển Luân với 32 đại nhân tướng đang du hành giữa hư không bằng xe báu, Ngài Rāhula như Thái tử con vua Chuyển Luân cũng có 32 đại nhân tướng, đang theo sau lưng vua cha.

* Đức Thế Tôn như mặt trăng chúa các vì sao, rực sáng trong bầu trời, Ngài Rāhula như ngôi sao buổi sáng đang kề cận mặt trăng.

*Đức Thế Tôn thuộc dòng dõi Okkāka, hậu duệ của vua Mahāsammanta, Ngài Rāhula cũng vậy.

*Thân tướng Đức Thế Tôn tinh anh như dòng sữa tinh khiết được rót vào bình vàng tinh anh trong sạch, thân tướng Ngài Rāhula cũng như thế ấy,

Khi theo sau lưng Đức Thế Tôn, Ngài Rāhula ngắm nhìn thân của Đức Thế Tôn, suy nghĩ rằng:

“Đức Thế Tôn với Phật tướng trang nghiêm, được trang điểm bởi 32 đại nhân tướng, được bao phủ bằng nước da trong sáng như vàng ròng tinh luyện. Ngài như nngọn núi vàng với những vệt sáng vây quanh, như trụ cỗng thành chư thiên xinh đẹp với những hoa văn tuyệt hảo, trang điểm bằng 7 loại ngọc báu xinh đẹp nhất. Thân tướng Ngài thật hoàn hảo, là kết quả kỳ diệu của 30 pháp Balamật”.

Rồi Sadi Rāhula nhìm ngắm lại cơ thể của mình, kiêu mạn về thân tướng của mình lại khởi lên:

“Ta là con của Đức Thế Tôn, thân tướng của ta cũng có 32 đại nhân tướng, cũng xinh đẹp như thân tướng của Đức Thế Tôn. Nếu Đức Thế Tôn là vua Chuyển Luân làm chủ cả bốn châu thiên hạ, Ngài sẽ chỉ định ta thay thế Ngài kế vị ngôi vua Chuyển Luân, một vị trí dành cho người con trai trưởng. Khi ấy toàn thể cõi Diêmphù (Jambu) này sẽ rực sáng”.

Đức Thế Tôn đang đi phía trước, ý nghĩ sau đây khởi lên cho Đức Thế Tôn: “Hiện nay cơ thể của Rāhula đang thời tăng trưởng, đã đến lúc tâm Rāhula đi lang thang không ngơi nghỉ qua các cảnh như sắc, thinh, hương … khả ái hấp dẫn. Như Lai đã xem xét những ý nghĩ nào đang ngự trị tâm của Rāhula trong thời gian qua”.

Với tâm mình, Đức Thế Tôn biết rõ những gì đang diễn ra trong tâm của Sadi Rāhula khi đang đồng hành với Ngài. Ngài thấy rõ khuynh hướng tham ái nghiêng về đời sống gia chủ (gehassita taṅhālobha). Đức Thế Tôn thấu rõ những gì đang diễn tiến trong tâm của Ngài Rāhula, tựa như người nhìn thấy con cá đang bơi lội trong làn nước trong vắt, hay như người nhìn thấy chính mình trong tấm gương trong sáng.

Khi biết rõ những gì đang diễn tiến trong tâm Sadi Rāhula, Đức Thế Tôn quyết định như sau:

“Trong khi đang đi sau lưng ta, Sadi Rāhula đã phát triển tham ái liên hệ với đời sống tại gia, khi ngắm nhìn thân thể của mình, nghĩ rằng: “Thân tướng Ta xinh đẹp uy nghi với 32 tướng Đại nhân”. Sadi Rāhula không đứng lại vị trí nên đứng, lại lao mình vào con đường sai lệch, Sadi Rāhula đang dẫn tâm đến những cảnh dục lạc không có giá trị. Sadi Rāhula như người lữ hành lạc đường, đang đi đến nơi không nên đến,

Nếu để tham ái này tăng trưởng và tồn tại trong tâm Rāhula, nó sẽ không cho Rāhula cơ hội nhận thức được lợi ích của chính mình, nó sẽ dẫn dắt Rāhula rơi vào bốn khổ cảnh trong tương lai, phải chịu tù túng trong thai bào của người mẹ và Rāhula lại phải rơi trở lại vòng luân hồi không có điểm khởi đầu (anamatagga) này.

Tham này sẽ gây ra vô số điều bất lợi, nó phá hủy những thiện pháp được tích lũy. Nó là mối nguy hiểm cao nhất khi xuất hiện trong dòng tâm, nhưng người thiếu trí không hề biết được điều này.

 Người có tham ngự trị thì không thể thấu đáo nhân quả, khi bị tham ngự trị, chúng sinh ấy hoàn toàn rơi vào tăm tối.

Một con thuyền lớn chuyên chở đầy châu báu thì không được phép lơ là dù chỉ trong khoảnh khắc, những tấm ván thuyền không được phép có kẻ hở dù chỉ là kẻ nứt nhỏ, nước có thể đi vào con thuyền chở đầy châu báu, rồi sẽ nhận chìm con thuyền ấy vào lòng đại dương, kẻ hở ấy cần phải nhanh chóng được trám kín. Cũng vậy, trước khi những ô nhiễm nảy sinh từ tâm tham ái của Rāhula, Như Lai sẽ đánh bại tư tưởng tham ái ấy”.

Đức Thế Tôn dừng lại, xoay toàn thân về phía sau như con voi chúa xoay toàn thân người về phía sau (nāgavilokana – cái nhìn của con voi), như pho tượng vàng được chuyển động toàn thân về phía sau. Đức Thế Tôn dạy Ngài Rāhula rằng:

– “Này Rāhula, bất cứ sắc nào: Quá khứ, vị lai, hiện tại (atītānāgatapaccuppannaṃ), bên trong hay bên ngoài (ajjhattaṃ vā bahiddhā vā), thô thiển hay vi tế (oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā), thấp kém hay tốt đẹp (hīnaṃ vā paṇītaṃ vā), xa hay gần (yaṃ dūre santike vā). Tất cả sắc ấy phải được quán như thật với chánh tuệ là: “cái này không phải của ta (netaṃ mama), không phải là ta (nesohamasmi), không phải là tự ngã của ta (na meso attā’ti)”.

– Bạch Thế Tôn, có phải chỉ sắc mà thôi? Bạch Thiện Thệ, có phải chỉ sắc mà thôi?

 – Này Rāhula, cả sắc, cả thọ, cả tưởng, cả hành và cả thức.

Hỏi. Vì sao Ngài Rāhula hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có phải chỉ sắc mà thôi”?

Đáp. Là do trí thiện xảo của Ngài (nayakusala ñāṇa), Ngài Rāhula suy nghĩ: “Đức Thế Tôn dạy quán sắc theo 11 chi phần là không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta”, đây chỉ là sắc uẩn. Thế Thì, thọ, tưởng, hành, thức thì như thế nào? Có phải là của ta , là ta, là tự ngã của ta?, hay là không phải?

Thật vậy, Ngài Rāhula có trí rất nhạy bén, khi được dạy: “Điều này không được làm”, Ngài suy gẫm đến những điều khác như sau: “Điều này cũng không được làm, điều này cũng không được làm …” và Ngài tìm thấy rất nhiều điều không nên làm từ một điều không nên làm.

Cũng vậy, khi được dạy: “Điều này nên làm”, Ngài Rāhula suy gẫm và tìm thấy rất nhiều điều nên làm.

Ngài có thể suy gẫm sắc bén theo hằng trăm hằng ngàn cách từ một điều hiểu biết.

Lại nữa, Ngài Rāhula là người có tâm hiếu học và tôn kính Tam học, nên thường tự đặt ra những câu hỏi rồi đi đến hỏi Đức Thế Tôn hoặc hỏi thầy Tế độ là Ngài Sāriputta để được hiểu biết rõ ràng Phật pháp.

Do vậy, Ngài Rāhula hỏi Đức Thế Tôn câu hỏi trên để xác định: “Cả 4 danh uẩn còn lại cũng được quán xét theo 11 cách như trên”.

Khi nhận được câu trả lời của Đức Thế Tôn, Ngài Rāhula tự suy nghĩ:

“Sinh có tham là cội rễ, Đức Thế Tôn không gián tiếp khiển trách ta rằng: “Vị Tỳkhưu không nên có tư tưởng như vậy”, Ngài cũng không cho vị Tỳkhưu nào khác với lời dạy rằng: “Này Tỳkhưu, hãy đến nhắc nhở Sadi Rāhula rằng: “Này Sadi, Đức Thế Tôn chỉ dạy, ngươi không nên có tư tưởng như thế”. Đức Thế Tôn trực diện dạy ta, như thể Ngài tóm lấy tên trộm cùng với tang vật khi tên trộm vừa trộm đồ. Rất khó nhận được lời dạy của bậc Chánh giác thậm chí với thời gian dài là cả một Atăngkỳ (asaṅkheyya)

“Ai có thể hôm nay được Đức Thế Tôn diện tiền giảng dạy với bài Giáo giới, lại có thể đi khất thực (nếu như người đó là người có trí)?”.

Tôn giả Rāhula trở lại, đến một côi cây, ngồi xuống với tư thế tréo chân (pallaṅkaṃ), lưng thẳng, an trú niệm trước mặt.

Tuy thấy Tôn giả Rāhula quay trở lại, không tiếp tục đi khất thực, Đức Thế Tôn không ngăn cản, Ngài không dạy rằng: “Này Rāhula, đừng quay trở lại, đây là thời đang đi khất thực”, Ngài suy nghĩ: “Hãy để cho Rāhula tìm vật thực là sự bất tử qua pháp niệm thân (kāyagatā sati) cho hôm nay”.

Đức Thế Tôn xoay toàn thân người trở lại hướng về thành Sāvatthi

Rồi Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) trên đường đi vào thành Sāvatthi khất thực, nhìn thấy Tôn giả Rāhula đang thiền tịnh nơi cội cây, Ngài Sāriputta đi đến Tôn giả Rāhula dạy rằng:

– Này Rāhula, hãy tu tiến (bhāvanaṃ bhāvehi) “niệm hơi thở vào, hơi thở ra”. Này Rāhula, tu tập “niệm hơi thở vào, hơi thở ra” cho sung mãn, được quả báo lớn, được lợi ích lớn.

* Các phận sự của Trưởng lão Sāriputta.

Trưởng lão Sāriputta tự định ra cho mình hai phận sự:

– Phận sự khi ngụ riêng.

– Phận sự khi trú ngụ chung với Đức Thế Tôn.

*Phận sự khi trú riêng.

Khi hai vị Thượng thủ ngụ một mình nơi thanh vắng, vào buổi sáng sau khi quét dọn sạch sẽ nơi cư ngụ, làm vệ sinh cá nhân. Các Ngài an trú tâm vào thiền tịnh, rồi sau đó vận y phục chỉnh tề, cầm lấy y bát đi khất thực theo ý muốn.

*Phận sự khi trú ngụ chung với Đức Thế Tôn.

Khi trú ngụ với Đức Thế Tôn, Ngài Sāriputta không như thế. Khi Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu đi khất thực, Ngài Sāriputta là người đi khất thực sau cùng. Ngài Sāriputta ra khỏi liêu thất đi kiểm tra mọi nơi trong khuôn viên, quét dọn những nơi chưa được quét dọn, múc nước đổ vào những lu chưa có nước, thu dọn những chiếc y của các vị Tỳkhưu còn phơi bên nbgoài đưa vào trong liêu thất. Rồi Ngài đi đến viếng thăm các vị Tỳkhưu bị bịnh, thậm chí những Tỳkhưu chưa có hạ nào, hỏi rằng:

– Này hiền giả, hiền giả cần dược phẩm nào? Cần có những loại vật thực gì để thích hợp cơ thể?

Hoặc giảng lên pháp thoại ngắn gọn để sách tấn, khích lệ vị ấy thực hành Giáo pháp cho tốt đẹp.

Sau khi làm xong những việc ấy. Ngài Sāriputta vận mặc y phục tề chỉnh, tay cầm lấy y bát đi khất thực. Do vậy, Ngài Sāriputta là người đi khất thực sau cùng, nên Ngài thấy Sadi Rāhula đang thiền tịnh nơi cội cây.

Hỏi. Vì sao Ngài Sāriputta dạy Sadi Rāhula “niệm hơi thở ra, hơi thở vào (ānāpānasati)”.

Đáp. vì Ngài không biết rằng: “Đức Thế Tôn vừa dạy Tôn giả Rāhula đề mục quán tưởng sắc uẩn.

 Lại nữa, Ngài thấy Sadi Rāhula ngồi yên lặng tọa thiền, Ngài nghĩ đề mục “niệm hơi thở vào – hơi thở ra” thích hợp với Sadi Rāhula khi ấy.

Vị Tỳkhưu thực hành “niệm hơi thở vào – hơi thở ra” có thể chứng Thánh quả Alahán ngay tại chỗ ngồi ấy, có thể ngay trong hiện kiếp này vị ấy là bậc “Alahán tột mạng” (Samasīsī Arahatta) khi sắp mệnh chung. Nếu trong hiện kiếp ấy không chứng Thánh quả, vị ấy tái sinh về cõi chư thiên, có thể chứng quả Alahán khi nghe được Pháp từ vị thiên nhân khác.

Hoặc vị ấy có thể trở thành vị Phật Độc giác trong thời không có Giáo pháp bậc Chánh giác, hoặc vị ấy có khả năng trở thành vị Thánh Alahán khippabhiññāṇa (có trí tuệ nhanh) như Trưởng lão Bāhiya Dāruciya trong thời Đức Chánh giác kế tiếp.

 Do vậy, “niệm hơi hở vào – hơi thở ra” được nói là “có lợi ích lớn, có quả báo lớn”.

Do thấu rõ lợi ích to lớn này, nên Ngài Sāriputta dạy Sadi Rāhula thực hành niệm “hơi thở vào- hơi thở ra”.

Tuy biết Sadi Rāhula không đi khất thực, nhưng Đức Thế Tôn không gửi vật thực đến Sadi Rāhula thông qua Ngài Ānanda, hay dạy vị Tỳkhưu hay cận sự nam như Trưởng giả Anāthapiṇḍika (CấpCôĐộc) hoặc cận sự nữ  như bà Visākhā … mang vật thực đến cho Sadi Rāhula.

Tương tự như Đức Thế Tôn, tuy Trưởng lão Sāriputta biết Sadi Rāhula không đi khất thực, nhưng Ngài cũng không nói gì cả.

Trong ngày hôm ấy. Sadi Rāhula không nhận được chút ít vật thực nào vào người cả, tuy nhiên vị ấy không quan tâm đến vấn đề này. Trọn ngày hôm ấy, Sadi Rāhula đưa tâm quán xét về sắc uẩn không ngừng và thấy rằng:

“Thật sự sắc này luôn vô thường do từ nhân này hay nhân khác, Thật sự sắc này là khổ  do từ nhân này hay nhân khác. Thật sự sắc này trở nên trống rỗng do từ nhân này hay nhân khác”.

Ngài Rāhula quán tưởng sắc pháp không ngừng giống như người hối hả nhóm lửa vào ban đêm.

Rồi Ngài Rāhula suy nghĩ: “Thầy Tế độ dạy ta hãy niệm “hơi thở vào-hơi thở ra”. Ta hãy theo lời thầy Tế độ thực hành pháp môn này. Người không thực hành theo lời thầy là người khó dạy (dubbaca). Không có sự chỉ trích nào cay nghiệt hơn là bị các bậc đồnbg Phạm hạnh chỉ trích rằng: “Rāhula là người khó dạy, đã không thực hành theo lời dạy của thầy”.

Để hiểu rành rẽ pháp môn này, vào buổi chiều, Tôn giả Rāhula đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn hỏi về pháp môn tu tập niệm “hơi thở vào- hơi thở ra”.

Trước khi dạy pháp môn niệm hơi thở, Đức Phật dạy: “Hãy tu tập quán tứ đại (đất, nước, lửa, gió) và hư không, không để lạc khổ khởi lên xâm chiếm và an trú, Ví như đất luôn thản nhiên trước mọi vật đổ lên trên nó, không vui thích khi đó là những vật thơm, cũng không bất bình khó chịu khi đó là vật hôi thối; tương tự như vậy với lửa, gió, nước và hư không.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn dạy Tôn giả Rāhula tu tập tâm Từ để đối trị sân, tu tập tâm Bi để đối trị hại, tu tập tâm Hỷ để đối trị ganh tỵ, tu tập tâm Xả để đối trị hiềm hận, rồi quán bất tịnh để đối trị tham ái, quán vô thường để đối trị kiêu mạn. Sau đó, Đức Thế Tôn dạy pháp môn “niệm hơi thở vào, hơi thở ra” với bốn tiết mục: Thân, thọ, tâm, pháp và Ngài dạy rằng: Nếu tu tập niệm hơi thở đến chỗ thuần thục thì sẽ tỉnh giác khi thở đến hơi thở cuối cùng”([59]).

Một phần kinh này được trích dẫn trong tập Milindapañhā([60]).

6- Chứng Thánh quả Alahán.

Khi tròn đủ 20 tuổi (vào hạ thứ 14 của Đức Thế Tôn), Đức Thế Tôn dạy Ngài Sāriputta cho Rāhula thọ giới Tỳkhưu, Tế độ sư là Ngài Sāriputta, Tuyên ngôn sư  (Kammavācāriya) là Ngài Moggallāna([61]).

Khi thấy Ngài Rāhula đã thuần thục 15 pháp dẫn đến giải thoát, duyên Thánh quả Alahán đã chín mùi (khi ấy Ngài Rāhula chưa có hạ nào cả), Đức Thế Tôn suy nghĩ:

– Đã thuần thục là những pháp đưa đến giải thoát cho Rāhula. Vậy Ta hãy  huấn luyện Rāhula hơn nữa trong sự  đoạn tận các ô nhiễm”.

Mười lăm pháp mà Ngài Rāhula thuần thục là:

1’- Không thân cận với người vô tín.

2’- Thân cận với người có niềm tin.

3’- Thường quán xét ba pháp làm sinh khở niềm tin (ba pháp đó là: Quán xét về nhân, quán xét về quả và quán xét về nghiệp báo).

4’- Không thân cận với người biếng nhác.

5’- Thân cận với người tinh cần.

6’- Thường suy gẫm những pháp làm sinh khởi tinh tấn([62]).

7’- Không thân cận với người không có niệm.

8’- Thân cận với người có niệm.

9’- Thường quán xét những pháp làm sinh khởi niệm([63]).

10’- Không thân cận với người không có định.

11’- Thân cận với người có định.

12’- Thường quán xét những pháp sinh khởi định và giải thoát (vimokkha).

13’- Không thân cận với người ngu.

14’- Thân cận với người trí.

15’- Thường quán xét những pháp thâm sâu tế nhị.

Ngoài 15 pháp trên, Ngài Rāhula còn hội đủ các pháp như năm quyền: Tín (saddhā), tấn (viriya), niệm (sati), định (samādhi) và tuệ (paññā); năm pháp tưởng: Tưởng vô thường (aniccasaññā), tưởng khổ (dūkhasaññā), tưởng vô ngã (ananttasaññā), tưởng từ bỏ (pahānasaññā) và tưởng vô nhiễm  (virāgasaññā); năm pháp trợ duyên: Có bạn lành, giới trong sạch, đa văn, tinh cần và trí sung mãn (năm pháp này được Đức Thế Tôn thuyết cho Tôn giả Meghiya, trong kinh Meghiya).

Vào buổi sáng Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu đi vào thành Sāvatthi (Xávệ) khất thực, sau khi thọ thực xong, trên đường trở về Tự viện, Đức Thế Tôn cho gọi Rāhula cùng đi với Ngài đến khu rừng Andha.

Bấy giờ có hàng ngàn vị chư thiên biết rằng: “Hôm nay Đức Thế Tôn sẽ huấn luyện Tôn giả Rāhula hơn nữa trong việc đoạn tận mọi ô nhiễm”, nên theo sau Đức Thế Tôn đi vào rừng Andha.

Nơi rừng Andha, Đức Thế Tôn thuyết lên bài kinh Cūḷarāhulovāda (Tiểu kinh Giáo giới Rāhula)([64]). Nghe xong bài kinh, Ngài Rāhula chứng đắc Thánh quả Alahán, cùng với hằng triệu vị chư thiên chứng đắc Thánh quả.

Theo Bản Sớ giải kinh Tương Ưng, tiền thân của những thiên nhân này cũng là những thiên nhân từng nghe tiền thân Ngài Rāhula phát nguyện: “Là con trai của Đức Chánh giác trong tương lai. Khi Rắn chúa Paṭhavindhara phát nguyện được là con trai của Đức Chánh giác tương lai, khi ấy chư thiên nhiều cõi trời khác nhau đến chứng kiến ước nguyện này, trong số đó có  rất nhiều thiên nhân khởi ý nguyện: Ta sẽ theo vị này để được nghe pháp giải thoát và ta ước nguyện được giải thoát như vị ấy”.

Trải qua 100 ngàn kiếp trái đất, hậu thân của những thiên nhân ấy, trong thời Đức Phật cũng tái sinh làm thiên nhân, khi Thái tử Rāhula xuất gia, các thiên nhân ấy vô cùng hân hoan thường hỏi nhau rằngg “Bao giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp thoại tế độ Ngài Rāhula chứnhg Thánh quả Alahán” và những thiên nhân ấy thường theo sau Ngài Rāhula  để chờ đợi nghe Pháp ([65]).

Có một phù điêu trong Tháp Xálợi Mahāthūpa mô tả cảnh này, nơi đây cũng có phù điêu mô tả lễ thọ giới Tỳkhưu của Ngài Rāhula([66]))

Bài kinh này được xem là Thắng hội lần III của Đức Thế Tôn, như có Kinh văn sau:

Idhevāhaṃ etarahi; ovadiṃ mama atrajaṃ.

Gaṇanāya na vattabbo; tatiyābhisamayo ahū’’ti.

Ở đây, vào thời điểm; giáo giới con trai ta.

Tụ hội không thể tính được, là Thắng hội lần III”([67]).

Trong số những bài kinh đặc biệt thuyết đến Rāhula, đây là bài kinh đặc biệt nhấn mạnh đến pháp Vipassanā (quán xét)([68]).

Tình tiết bài kinh này được minh họa trong Bảo tháp Mahāthūpa([69]).

Bài kinh này đã minh chứng tính Đại bi của Đức Thế Tôn([70]).

Khi chứng đạt Thánh quả Alahán, suy tư đến chiến thắng phiền não của mình, Ngài Rāhula hân hoan nói lên các kệ ngôn sau đây:

295- Ubhayeneva sampanno; rāhulabhaddoti maṃ vidū.

Yañcamhi putto buddhassa; yañca dhammesu cakkhumā.

“Nhờ có đầy đủ hai điều; ta được gọi Rāhula may mắn.

Là con của Đức Phật; được chứng đạt pháp nhãn”.

296- Yañca me āsavā khīṇā; yañca natthi punabbhavo.

Arahā dakkhiṇeyyomhi; tevijjo amataddaso.

“Ta diệt tận mọi ô nhiễm; không còn tái sinh nữa.

Bậc ALaHán đáng cúng dường; đạt ba Minh, thấy Bất tử”.

297- Kāmandhā jālapacchannā; taṇhāchādanachāditā.

Pamattabandhunā baddhā; macchāva kumināmukhe.

“Bị lưới dục che kín; màn khát ái bao trùm.

Không thận trọng vây trói; như cá dính mắt lưới”.

298- Taṃ kāmaṃ ahamujjhitvā; chetvā mārassa bandhanaṃ.

Samūlaṃ taṇhamabbuyha; sītibhūtosmi nibbuto’’ti.

“Ta vượt ra dục ấy; cắt đứt ma trói buộc.

Nhổ lên gốc khát ái; ta mát lạnh tịch tịnh”([71]).

* Chiến thắng Ma vương.

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Đại tự Kỳviên, các Tỳkhưu phương xa đến yết kiến Đức Thế Tôn rất nhiều. Ngài Rāhula phải nhường nơi ngụ của mình cho các vị Tỳkhưu cao hạ, vì khi ấy Ngài Rāhula tuy chứng đạt Thánh quả Alahán nhưng chưa có hạ nào cả.

Khi không còn nơi nào nghỉ được nữa, Ngài Rāhula đi đến trước Hương thất của Đức Thế Tôn để nghỉ đêm.

Ma vương Vasavatti thấy Ngài Rāhula nằm ngủ trước Hương thất của Đức Thế Tôn, suy nghĩ: “Mầm non của Samôn Gotama đang nằm ngủ trước Hương thất, còn Samôn Gotama thì nằm bên trong. Nếu ta làm cho mầm non của Samôn Gotama kinh sợ có nghĩa là ta đã làm cho Samôn Gotama kinh hoàng vậy”.

Ma vương liền hóa thân thành một con voi to lớn dữ tợn đi đến Hương thất dùng vòi quấn vào đầu Tôn giả Rāhula rồi rống lên những tiếng rống the thé như tiếng kêu của chim Hồng hạc.

Đức Thế Tôn ở bên trong Hương thất, biết được: “Đây là Ma vương hóa thân”, Ngài dạy rằng:

– Này Ma vương kẻ ác xấu kia, cho dù có trăm, có ngàn, có trăm ngàn người như ngươi cũng không làm cho con Như Lai kinh sợ được. Vì con Như Lai đã cắt đứt mọi sợi dây ái dục rồi.

Rồi Đức Thế Tôn nói lên hai kệ ngôn:

351- Niṭṭhaṅgato asantāsī; vītataṇho anaṅgaṇo.

Acchindi bhavasallāni; antimoyaṃ samussayo.

“Ai đến đích không sợ; lìa ái không nhiễm ô.

Nhỗ mũi tên sinh tử; thân này thân cuối cùng”.

352- Vītataṇho anādāno; niruttipadakovido.

Akkharānaṃ sannipātaṃ; jaññā pubbāparāni ca;

Sa ve ‘‘antimasārīro; mahāpañño mahāpuriso’’ti vuccati.

“Ái lìa không chấp thủ; cú pháp khéo biện tài.

Thấu suốt từ vô ngại; hiểu thứ lớp trước sau.

Thân này thân cuối cùng; vị như vậy được gọi.

Bậc đại trí, đại nhân” (HT. TMC d).

Ma vương suy nghĩ: “Samôn Gotama đã biết ta” nên biến mất tại chỗ.

Hôm sau, các Tỳkhưu ngồi bàn luận cùng nhau về những tiếng rống kinh khiếp trong đêm, Đức Thế Tôn ngự đến Giảng pháp đường giải nghi cho Tăng chúng([72]).

Hỏi. Khi ấy Ngài Rāhula chưa tròn 20 tuổi (tính cả tuổi trong bụng mẹ), vì sao được xuất gia Tỳkhưu?

Đáp. Có khả năng vào Sơ giác thời (15 mùa an cư đầu của Đức Thế Tôn), điều Luật này chưa được Đức Thế Tôn chế định cho các vị Tỳkhưu.

Khi thiếu niên Upāli là trưởng nhóm 17 thiếu niên trong thành Rājagaha (Vương xá) tất cả chưa tròn đủ 20 tuổi, xuất gia thọ giới Tỳkhưu.

Nhóm thiếu niên có Upāli là trưởng vào buổi sáng đã kêu khóc đòi ăn, Đức Thế Tôn nghe tiếng chúng khóc đòi ăn, đã khiển trách các vị Tỳkhưu cho nhóm 17 thiếu niên có Upāli là trưởng. Rồi Đức Thế Tôn chế định học giới: “Vị được xuất gia thọ giới Tỳkhưu phải tròn đủ 20 tuổi (tính cả tuổi trong bụng mẹ)([73]).

7- Được ban địa vị Tối thắng.

Sau khi an cư mùa mưa đầu tiên của Ngài Rāhula, giữa hàng tứ chúng, Đức Thế Tôn ban cho Ngài Rāhula địa vị: “Tối thắng về ưa thích học tập”.

Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ sikkhākāmānaṃ yadidaṃ Rāhulo:

“Này các Tỳkhưu, trong các Tỳkhưu đệ tử của ta, tối thắng về hạnh ưa thích học tập là Rāhula”([74]).

Sau lần an cư mùa mưa này, Ngài Rāhula viên tịch nơi cõi trời Tāvatiṃsa (Ba mươi ba)([75]).

Kinh sách Bắc truyền có ghi nhận : “Tuy Ngài Rāhula là con của Đức Thế Tôn, nhưng Đức Thế Tôn vẫn xem Devadatta, Aṅgulamāla hay Dhanapāla như là Rāhula”([76]).

* Tiền sự.

a- Thời Đức Phật Padumuttara.

Cách đây 100 ngàn kiếp trái đất kể từ kiếp trái đất này trở về trước, trước khi Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa) xuất hiện trên thế gian, tiền thân Ngài Rāhula và tiền thân Ngài Raṭṭhapāla cùng sinh ra trong kinh thành Haṃsavatī, là con của một gia tộc Đại trưởng giả (tên họ hai vị vào thời ấy không thấy ghi trong những Bản sớ giải cổ), cả hai là bạn thân của nhau.

Khi cha mẹ mệnh chung, cả hai trở thành những đại trưởng giả và là trưởng một hội chúng. Khi người quản lý tài sản trình lên vị chủ mới tài sản của ông cha để lại, hai vị suy nghĩ: “Ông và cha ta tích lũy tài sản lớn, nhưng không thể mang theo cho kiếp sau, phải bỏ lại nơi này. Riêng ta, ta sẽ mang theo chúng đến những kiếp vị lai ”.

Mỗi người kiến tạo bốn Bố thí đường ở bốn cổng thành Haṃsavatī, bố thí những nhu cầu cần thiết đến người nghèo khổ, người lỡ đường …

Tiền thân Ngài Rāhula bố thí theo nhu cầu người đến xin nên có danh xưng là Āgatapaka (Người bố thí phân biệt), tiền thân Ngài Raṭṭhapāla cho theo tùy thích, nghĩa là người nhận có thể lấy đi những gì mà họ muốn nên có danh xưng là Anaggapaka ( Người bố thí không phân biệt),

Có hai vị ẩn sĩ tu tập nơi vùng núi Tuyết, chứng đắc thần thông, theo đường hư không đến kinh thành Haṃsavatī để khất thực. Vào buổi sáng hôm ấy cả hai vị Đại trưởng giả cùng nhau đi tắm sông, nhìn thấy hai vị ẩn sĩ đang ôm bát đi vào kinh thành khất thực với phong cách nghiêm trang thanh tịnh, hai vị Đại Trưởng giả phát sinh niềm tin nơi hai ẩn sĩ, liền đi đến đảnh lễ hai Ngài với cách năm chi chậm đất, hai vị ẩn sĩ hỏi rằng:

– Này các người đại phước, các người đến đây khi nào?

– Bạch các Ngài, chúng con vừa đến.

Rồi mỗi gia chủ thỉnh một vị ẩn sĩ về tư gia của mình để cúng dường vật thực, rồi thỉnh vị ẩn sĩ thường xuyên đến tư gia của mình để nhận vật thực cúng dường.

Một vị ẩn sĩ thường xuống cõi Rắn chúa (Nāgarāja) Paṭhavindhara ở dưới đại dương để nghỉ trưa, vị ấy rẻ nước sang hai bên lộ ra con đường khô ráo rồi đi đến đáy biển nghỉ trưa, vị ẩn sĩ chứng kiến cảnh huy hoàng lộng lẫy của Rắn chúa Paṭhavindhara, khi trở về nhân giới đến thọ thực nơi nhà vị Đại trưởng giả hộ độ, thường mô tả cảnh huy hoàng sang trọng nơi cõi Rắn chúa Paṭhavidhara, khi nói đến phước bố thí có thể làm thành tựu ước muốn của mình. Vị gia chủ hộ độ hỏi rằng:

– Bạch Ngài, vì sao Ngài mô tả cõi rắn chúa Paṭhavindhara như vậy?

– À, ta muốn gia chủ hưởng được cảnh huy hoàng an lạc nơi cảnh giới tốt đẹp  ấy.

Vị Gia chủ suy nghĩ: “Thầy ta là bậc có thần thông, khi Ngài có ý muốn ấy là muốn tế độ ta được tốt đẹp trong kiếp sau”. Nên vị ấy có ấn tượng về cõi Rắn chúa Paṭhavindhara và có ý muốn được tái sinh về cõi Rắn chúa Paṭhavindhara, nên phát nguyện rằng:

– Với phước bố thí này, xin cho tôi được tái sinh về cõi Paṭhavindhara.

Vị ẩn sĩ thứ hai lại thường đến cõi chư thiên để nghỉ trưa, vị ấy theo đường hư không đi đến thiên cung Serisaka nơi cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba), chứng kiến được cảnh cao sang huy hoàng của Thiên chúa Saka (Đế Thích).

Khi trở về nhân giới, đến thọ thực nơi nhà vị gia chủ hộ độ, vị ẩn sĩ thường mô tả cảnh huy hoàng của Thiên chúa Sakka đến người hộ độ của mình. Và vị gia chủ hộ độ có phát nguyện được cộng trú với chư thiên trong kiếp sau.

Mệnh chung, hai gia chủ tái sinh về  cõi mình ước nguyện, tiền thân Ngài Rāhula tái sinh về cõi Paṭhavindhara, là Rắn chúa Paṭhavindhara, còn tiền thân Ngài Raṭṭhapāla tái sinh về cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba), là vị Thiên vương Sakka.

Ngay khi tái sinh thành Rắn chúa Paṭhavindhara hậu thân vị gia chủ ấy cảm thấy phiền muộn khi nhìn lại thân của mình, thấy mình thuộc loài bò sát. Thấy phước báu của mình đã tạo cho kết quả nhỏ nhoi. Rắn chúa Paṭhavindhara suy nghĩ:

– Thì ra vị thầy của ta có tầm nhìn hạn hẹp, không suy xét xa hơn. Chỉ nhìn thấy vẽ lộng lẫy huy hoàng bên ngoài này mà không lưu ý đến hiện trạng loài bò sát. Vị ấy muốn ta thụ hưởng cảnh huy hoàng này nhưng không thấy được tai hại là “trở thành loài bò sát”.

Và rắn chúa Paṭhavindhara thường hóa thân thành vị chư thiên trẻ khi các nữ rắn vũ công hay nhạc công rắn đến phục vụ.

(Chuện tiền sự này được trích dẫn từ AA.i, 141. Một phần được trích dẫn từ MA.ii. 722 khi giải về tiền sự đến Ngài Raṭṭhapāla, trong MA.ii. 722 có khác chút ít chi tiết là: Rắn chúa có tên là Pālita, cõi rắn chúa là Bhumindhara.

Trong bản Sớ giải Kinh tập (Suttanipāta), Ngài Dhammapāla nói Rắn chúa có tên gọi là Saṅkha([77])).

Mỗi nửa tháng theo thông lệ tất cả rắn chúa phải theo Thiên vương Virūpakkha đến cung Trời Tāvatiṃsa để dự hội do Thiên vương Sakka chủ trì. Lần đầu tiên Rắn chúa Paṭhavindhara đến dự Đại hội chư thiên, nhìn thấy Rắn chúa Paṭhavindhara hóa thân là thiên nhân từ xa đi đến, Thiên vương Sakka vui mừng reo lên: “Ồ bạn ta đã đến rồi”. Thiên vương Sakka tiếp rắn chúa Paṭhavindhara rất niềm nở, hỏi rằng:

– Này bạn, nay bạn tái sinh về cõi nào?

Rắn chúa Paṭhavidhara buồn rầu đáp rằng:

– Tôi thật bất hạnh khi có vị thầy không có tầm nhìn xa, tôi tái sinh vào cõi Rắn, trở thành loài bò sát. Bạn thật may mắn, có được vị thầy tốt, có tầm hiểu biết cao rộng nên bạn được tái sinh trở thành vị Thiên vương có nhiều uy lực.

– Này bạn, đừng thất vọng nữa. Hiện Đức Chánh giác Padumuttara đang xuất hiện trên thế gian, bạn hãy đến đảnh lễ rồi tạo phước đặc biệt đến Ngài, bạn hãy ước nguyện thoát khỏi kiếp rắn, trở thành vị Thiên vương. Chúng ta sẽ cùng nhau sống nơi Thiên giới này.

– Lành thay, lành thay. Tôi sẽ làm theo lời khuyên của bạn.

Sau Đại hội chư thiên, Rắn chúa Paṭhavindhara cùng với tùy tùng của mình đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn Padumuttara, thỉnh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng ngự xuống cõi rắn của mình. Đức Thế Tôn Padumuttara im lặng nhận lời.

Vào sáng hôm sau khi bình minh vừa ló dạng, Đức Phật Padumuttara dạy Trưởng lão thị giả là Ngài Sumana rằng:

– Này Sumana, Như Lai sẽ ngự đến cõi rắn chúa Paṭhavindhara để nhận vật thực. Hãy thông báo đến các Tỳkhưu, Sadi Alahán Tuệ phân tích và Lục thông, Tam Minh, các vị có năng lực thần thông cùng đi với Như Lai, các vị Tỳkhưu phàm không nên đi theo.

Trưởng lão Sumana thông báo Phật lịnh đến các vị Tỳkhưu,

Đức Thế Tôn cùng chư Tỳkhưu Alahán từ Lục thông đến Tuệ phân tích theo đường hư không đi đến bờ biển ranh giới cõi rắn Paṭhavindhara. Rắn chúa Paṭhavindhara cùng đại chúng rắn tùy tùng đang chờ đợi cung đón Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng nơi bờ biển, nhìn thấy Đức Thế Tôn cùng đại chúng Samôn hạ thân và đứng trên những lượn sóng xanh màu lục bảo của Đại dương, tâm Rắn chúa Paṭhavindhara vô cùng hân hoan, trong số Đại chúng Tăng có Đức Phật Padumuttara là vị Thương thủ, có vị Sadi trẻ là Uparevata (con của Đức Phật Padumuttara), Rắn chúa Paṭhavindhara đặc biệt chú ý đến vị Sadi trẻ có đại thần lực này, tâm Rắn chúa xúc cảm mạnh khi nghĩ rằng: “Ồ! Vị Sadi trẻ này có năng lực thần thông như vầy, thật đáng thán phục uy lực của Đức Đạo sư Padumuttara”.

Ngự đến cõi rắn Paṭhavindhara, Đức Thế Tôn ngồi vào nơi được soạn sẵn, các vị Tỳkhưu ngồi vào nơi được soạn sẵn theo thứ bậc, riêng Sadi Uparevata được Đức Thế Tôn dạy rắn chúa xếp một chỗ ngồi cạnh Đức Thế Tôn, do vì vị ấy sẽ phục vụ Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng.

Sau khi cúng dường vật thực thượng vị ở cõi rắn đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng, Rắn chúa Paṭhavindhara lần lượt ngắm nhìn Đức Thế Tôn rồi ngắm nhìn Sadi Uparevata không mỏi mệt.

Hỏi. Vì sao Rắn chúa Paṭhavindhara ngắm nhìn như vậy?

Đáp. Vì thân của Ngài Sadi Uparevata có nhiều đại nhân tướng như Đại nhân tướng của Đức Thế Tôn, khi Rắn chúa Paṭhavindhara nhìn thấy một Đại nhân tướng của Đức Thế Tôn, rồi nhìn sang Ngài Sadi Uparevata thấy Ngài cũng có đại nhân tướng này, nên so sánh hai Đại nhân tướng ấy.

Rắn chúa Paṭhavindhara suy nghĩ: “Vì sao vị Samôn trẻ này giống Đức Thế Tôn nhiều như thế? Hai vị có mối quan hệ như thế nào?”.

Rắn chúa hỏi một trong những vị Trưởng lão:

– Bạch Ngài, vị Sadi trẻ này có mối quan hệ với Đức Thế Tôn như thế nào?

– Này Rắn chúa, vị Sadi ấy là con trai của Đức Thế Tôn.

Rắn chúa Paṭhavindhara có ấn tượng đặc biệt với Ngài Sadi Uparevata, suy nghĩ rằng:

– Vị Samôn trẻ này có thần lực cao quý, là con trai của Đức Thế Tôn, Vậy ta hãy nguyện trở thành con trai của Đức Chánh giác trong tương lai như vị Sadi có đại thần lực này”.

Rắn chúa Paṭhavindhara thỉnh Đức Thế Tôn cùng Đại chúng Tăng ngự đến cõi của mình trọn 7 ngày để cúng dường vật thực thượng vị đến các Ngài.

Vào ngày thứ 7 , Rắn chúa Paṭhavindhara sau khi cúng dường vật thực cùng các vật dụng Samôn đến Đức Thế Tôn và đại chúng Tỳkhưu xong rồi, Rắn chúa đi đến đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn Padumuttara bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, với phước sự con đã tạo được trong 7 ngày qua, xin cho con được trở thành con trai của vị Chánh giác tương lai như Ngài Uparevata.

Đưa Vị lai trí quán xét, Đức Thế Tôn Padumuttara tiên tri rằng: “Ước nguyện của Rắn chúa này sẽ trở thành hiện thực sau 100 ngàn kiếp trái đất. Vị ấy sẽ là con trai của Đức Chánh giác có danh hiệu là Gotama, thuộc tộc họ Sākya (Thích Ca), và vị ấy có tên gọi là Rāhula”.

Rồi Đức Thế Tôn Padumuttara cùng Tăng chúng từ giã cõi Rắn trở về nhân giới.

b- Ước nguyện của tiền thân Ngài Raṭṭhapāla.

Là thành viên tùy tùng quan trọng của Thiên vương Virūpakkha, Rắn chúa Paṭhavindhara đến tham dự Đại hội Chư thiên lần sau đó. Gặp lại người bạn thân Paṭhavindhara nhưng thấy diện mạo của bạn thanh thản đầy sự hân hoan. Thiên vương Sakka hân hoan hỏi rằng:

– Này bạn, có phải bạn đã tạo phước lành nơi Đức Phật Padumuttara rồi ước nguyện sinh về thiên giới Tāvatiṃsa ?

– Thưa chủ, tôi có tạo thiện nghiệp nơi Đức Thế Tôn Padumuttara, nhưng không có ước nguyện sinh về thiên giới này.

– Vì sao thế? Nơi này không tốt sao? Nơi này có gì là bất lợi?

– Thưa chủ, không phải tôi thấy nơi này không tốt, có những điều bất lợi. Thật ra tôi rất thán phục uy lực của Ngài Sadi Uparevata, là con trai của Đức Thế Tôn Padumuttara, nên tôi đã ước nguyện trở thành con trai của Đức Chánh giác tương lai và Đức Thế Tôn Padumuttara đã tiên tri tôi thành tựu địa vị này sau 100 ngàn kiếp trái đất rồi.

Thưa chủ, tôi muốn chủ hãy tạo thiện nghiệp nơi Đức Thế Tôn, rồi ước nguyện thành đạt một địa vị nào đó trong Giáo pháp của Đức Chánh giác tương lai. Như vậy chúng ta sẽ sống cùng nhau trong các kiếp tương lai trong vòng luân hồi.

– Lành thay, lành thay, này bạn.

Có lần vua Trời Sakka được chứng kiến vị Trưởng lão có tên là Raṭṭhapāla được Đức Thế Tôn Padumuttara ban cho địa vị “đệ nhất xuất gia về niềm tin”. Vị Trưởng lão này xuất thân từ một gia tộc có uy lực, khi Ngài vừa sinh ra thì đất nước đang bị chia cắt được thống nhất, nên vị Trưởng lão có tên gọi là Raṭṭhapāla (Hộ quốc). Vị ấy nhịn đói 7 ngày để được cha mẹ đồng ý cho xuất gia.

Vua Trời Sakka suy nghĩ: “Ta hãy thành tựu được địa vị như vị Tỳkhưu ấy trong thời Đức Chánh giác tương lai”.

Vua Trời Sakka hóa thân thành nhânloại, cúng dường đại thí đến Đức Phật Padumuttara cùng chư Tỳkhưu trọn 7 ngày, rồi ước nguyện đạt được địa vị “đệ nhất xuất gia về niềm tin” trong thời Đức Chánh giác tương lai.

Và Đức Thế Tôn Padumuttara đã tiên tri ước nguyện của Thiên vương Sakka sẽ thành tựu trong thời Đức Chánh giác có tộc họ là Gotama thuộc dòng Sākya (ThíchCa).

c- Tiền thân Ngài Rāhula trong thời Đức Phật Kassapa.

Sau khi mệnh chung Rắn chúa Paṭhavindhara chỉ luân chuyển suốt 100 ngàn kiếp trái đất trong vòng luân hồi với hai sinh thú: Người và chư thiên.

Vào thời Đức Phật Kassapa, tiền thân Ngài Rāhula là con trai trưởng duy nhất của vua Kikī trị vì Vương quốc Kāsi, có tên là Paṭavindhaka, khi trưởng thành Thái tử Paṭhavindhara được phong là Phó vương.

Thái tử Paṭavindhaka có 8 cô công nương, một nàng có tên là Uracchadā chứng Thánh quả Alahán khi được 16 tuổi và viên tịch ngay trong ngày. Bảy cô công chúa còn lại là:

1’- Nàng Samaṇī (tiền thân bà Thánh nữ Khemā).

2’- Nàng Samaṇagutta (tiền thân bà Thánh nữ Upalavaṇṇā).

3’- Nàng Bhikkhunī (tiền thân bàPaṭācārā).

4’- NàngBhikkhudāyikā (tiền thân bà Kuṇḍalakesī).

5’- Nàng Dhammā (tiền thân bà Kisāgotamī).

6’- Nàng Sudhammā (tiền thân bà Dhammadinnā).

7’- NàngSaṅghadāsī (tiền thân bà Visākhā).

Khi bảy cô công nương kiến tạo 7 tự viện cúng dường đến Đức Thế Tôn Kassapa và chư Tăng, Phó vương Paṭavindhaka xin được hùn phước với 7 nàng, nhưng 7 cô công chúa đã từ chối rằng:

– Hiện anh là Phó vương, khi anh kế vị Ngai vàng thì có rất nhiều cơ hội tạo phước đến Đức Thế Tôn. Chúng em chỉ có chút ít tài sản mong tạo phước sự cho mình. Nay anh xin hùn phước nữa, chúng em có còn gì đâu.

Và Thái tử đã kiến tạo 500 Tự viện vừa theo địa vị của mình, cúng dường đến Đức Thế Tôn Kassapa và Tăng chúng. Ngoài ra, khi Đức Thế Tôn Kassapa viên tịch, đại chúng kiến tạo Bảo tháp bằng vàng tôn thờ Xálợi Đức Phật, vị Phó vương đã đảm nhận một cổng Bảo tháp.

Trong tập Apadāna (Thánh nhân Ký sự) còn ghi nhận:

Vào thời Đức Phật Padumuttara, Rắn chúa Paṭhavindhara có cúng dường đến Đức Phật Padumuttara một tấm thảm (santhara), vào 21 kiếp trái đất trước tiền thân Ngài Rāhula là vị Đại đế có vương hiệu là Vimala ở kinh thành Reṇuvatī, sống trong cung điện Sudassana do thiên thần kiến trúc Vissakamma kiến tạo cho Đức vua([78]).

8- Chuyện tiền thân.

Tiền thân Ngài Rāhula từng là con Bồtát trong các Bổn sư:

*Bổn sự Uraga (chuyện con rắn).

Duyên khởi.

Trong thành Sāvatthi (Xávệ) có một cận sự nam tín thành, ông có một người con trai chẳng may người con trai mệnh chung. Cận sự nam vô cùng đau khổ, hằng ngày đi đến bãi tha ma nơi thiêu xác con mà than khóc.

Vào một buổi sáng, Đức Thế Tôn đưa Phật nhãn quán xét thế gian, thấy được duyên lành Đạo quả Dự lưu của cận sự nam này.

Đức Thế Tôn vào buổi sáng tay cầm y bát cùng đại chúng Tùy khưu đi vào thành Sāvatthi khất thực. Sau khi thọ thực xong, trên đường trở về Đại tự Kỳviên, Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu tùy tùng đến nhà người cận sự nam.

Cận sự nam ra trước cửa đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi thỉnh Ngài cùng các Tỳkhưu vào Khách đường. Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu ngồi vào nơi được soạn sẵn, cận sự nam ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn hỏi rằng:

– Này cận sự nam, vì sao ngươi buồn như vậy?

– Bạch Thế Tôn, vì đứa con trai độc nhất của con vừa mệnh chung.

– Này cận sự nam, ngươi chớ nên sầu muộn vì sự chết xảy đến cho con trai ngươi. Điều gọi là sự chết đó, dành chung cho tất cả chúng sinh, ở khắp mọi nơi, chẳng phải có riêng cho người nào hay ở riêng nơi nào. Không có pháp hữu vi nào luôn tồn tại cả, nên bậc trí ngày xưa không sầu muộn khi con trai mình mệnh chung, vị ấy nghĩ  một cách hợp lý rằng: “Người chết đã chết rồi, vật tan rã thì đã tan rã rồi (maranaṃdhammaṃ mataṃ bhijjadhammaṃ bhinnaṃ)” .

– Bạch Thế Tôn, sự việc ấy như thế nào?

Theo lời thỉnh cầu của cận sự nam, Đức Thế Tôn nói lên Bổn sự Uraga.

*Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Bārāṇasī (Balaạni), Bồtát sinh ra trong một gia đình Bàlamôn ở một ngôi làng phía ngoài cổng thành Bārāṇasī, Ngài nuôi sống gia đình bằng nghề cày ruộng, Bồtát có người hai con: một trai, một gái.

Khi con trai trưởng thành, Ngài cưới vợ cho con trai từ một gia đình cùng đẳng cấp với Ngài. Gia đình Bồtát có 6 ngưới: Ngài, vợ Ngài, con trai, con dâu, con gái và một nữ tỳ.

Tất cả sống trong sự hòa thuận và an lạc. Bồtát thường dạy năm người kia rằng: “Nên thực hành hạnh bố thí, giữ giới hạnh, gìn giữ ngày Bốtát và hãy suy gẫm về sự chết”.

Và 6 người thường xuyên suy gẫm về sự chết.

Một hôm, Bồ-tát cùng con trai đi cày ruộng, người con nhặt cỏ rác rồi đốt. Cách đó không xa, có một con rắn sống trong một cái đụn kiến, bị khói làm xốn mắt, khó thở, con rắn bò ra khỏi hang và nó phóng tới cắn vào người con bằng bốn cái răng độc của nó, đây loại rắn có nọc độc chạy nhanh, nên người con ngã xuống  chết ngay sau đó.

Thấy con ngã xuống, Bồtát bỏ bò đang cày đi đến, thấy con đã chết, ngài ẵm lên đặt con nằm dưới gốc cây, lấy áo choàng phủ lên người con, Ngài không hề khóc lóc sầu đau, suy nghĩ rằng:

“Cái gì tan rã thì đến thời phải tan rã, cái gì chết thì đến thời phải chết. Tất cả những pháp hữu vi đều tạm bợ tạm bợ và phải tan rã”.

Bồtát tiếp tục việc cày bừa. khi thấy một người hàng xóm đi qua Ngài hỏi: “Này bạn, có phải bạn về nhà chăng?”.

– Phải.

– Nhờ bạn đến nhà tôi và nói với vợ tôi, hôm nay chỉ mang vật thực cho một người thôi. Hãy mang ra đồng thêm củi.

Nghe vậy, cả nhà biết rằng: “Người con trai đã chết”, nhưng cả bốn người vẫn điềm tỉnh, không than khóc, sầu muộn.

Thường ngày chỉ người nữ tỳ mang thức ăn ra ruộng, hôm nay cả bốn người trong nhà mặc y phục sạch sẽ và mang hương hoa ra ruộng.

Khi Bồ-tát dùng bữa xong, mọi người chất củi  mang hương hoa đặt vào hỏa đài, đưa xác người con lên giàn hỏa rồi châm lửa đốt. Không ai nhỏ một giọt nước mắt, tất cả đều suy gẫm về sự chết.

Đức hạnh của 5 người làm cho chiếc ngai vàng của vua trời Sakka nóng ran lên. Vua Trời Sakka suy nghĩ: “Có việc gì thế?”

Đưa thiên nhãn quán xét, biết được việc hy hữu này, vua Trời Sakka suy nghĩ: “Ta hãy làm rõ sự kiện này”.

Thiên chủa Sakka hóa thân thành một Bàlamôn già đi đến giàn hỏa, hỏi rằng: “Các người đang làm gì thế?”

– Thưa Ngài, chúng tôi đang thiêu xác người.

– Không phải đâu, dường như các người đang quay thịt con vật nào đó.

– Không, đây là xác người.

– Nếu vậy, có lẽ đây là kẻ thù của các ngươi?

Bồtát đáp rằng:

– Thưa Ngài không phải, đây là đứa con trai của tôi.

– Thế thì, đây là đứa con bị ngươi ghét bỏ.

– Không, đây là đứa con được tôi thương mến.

– Thế nhưng ta thấy ngươi chẳng than khóc gì cả, vì sao vậy?.

Bồtát đáp lời bằng kệ ngôn:

19- Uragova tacaṃ jiṇṇaṃ; hitvā gacchati saṃ tanuṃ.

Evaṃ sarīre nibbhoge; pete kālakate sati.

“Như rắn già bỏ da; sau khi già lão đến.

Cũng vậy, không còn sở hữu; khi thời chết hiện khởi”.

20- Ḍayhamāno na jānāti; ñātīnaṃ paridevitaṃ.

Tasmā etaṃ na socāmi; gato so tassa yā gatī’’ti.

“Không biết khi bị đốt; không hề biết than khóc.

Thế nên tôi không sầu; kẻ ấy đi tiếp con đường”.

Nghe xong lời giải thích của Bồtát, vua Trời Sakka hỏi người mẹ rằng:

– Thưa bà, người chết với bà như thế nào?

– Thưa Ngài, nó là con trai tôi.

– Lẽ thường nam nhân có tính cứng rắn nên không khóc than, nhưng trái tim người mẹ thì thương con hơn và mềm yếu. Vì sao bà không khóc?

Vợ Bồtát đáp lời bằng hai kệ ngôn:

21- Anavhito tato āgā; ananuññāto ito gato.

Yathāgato tathā gato, tattha kā paridevanā.

“Không mời nó tự đến; không đuổi nó tự đi.

Đến rồi đi như vậy; vì sao tôi than khóc”.

22- Ḍayhamāno na jānāti; ñātīnaṃ paridevitaṃ.

Tasmā etaṃ na socāmi; gato so tassa yā gatī’’ti.

“Không biết khi bị đốt; không hề biết than khóc.

Thế nên tôi không sầu; kẻ ấy đi tiếp con đường”.

Thiên vương Sakka hỏi cô em gái rằng:

– Này cô, người chết là gì của cô?

– Thưa Ngài, là anh trai tôi.

– Này cô, thường chị em gái thường thương yêu anh em trai, vì sao cô không than khóc?

Cô em gái đáp lời bằng hai kệ ngôn sau,

23- Sace rode kisā assaṃ; tassā me kiṃ phalaṃ siyā.

Ñātimittasuhajjānaṃ; bhiyyo no aratī siyā.

“Dù nhịn đói khóc than; tôi có lợi ích gì?

Những người thân tộc; sẽ nhiều đau khổ hơn”.

24- Ḍayhamāno na jānāti; ñātīnaṃ paridevitaṃ.

Tasmā etaṃ na socāmi; gato so tassa yā gatī’’ti.

“Không biết khi bị đốt; không hề biết than khóc.

Thế nên tôi không sầu; kẻ ấy đi tiếp con đường”.

Nghe xong lời giải đáp cô em, Thiên vương Sakka hỏi người vợ rằng:

– Thưa cô, người chết này là gì của cô?

– Thưa Ngài, là chồng của tôi.

– Khi chồng chết, các cô trở thành góa phụ bơ vơ, vì sao cô không khóc, có phải cô chẳng có chút thương yêu gì chồng cô chăng?

– Thưa Ngài, đây là người chồng mà tôi rất thương yêu, nhưng người đã chết rồi, khóc than chỉ vô ích thôi.

Để làm rõ nghĩa vấn đề này, nàng nói lên hai kệ ngôn để giải thích:

25- Yathāpi dārako candaṃ; gacchantamanurodati.

Evaṃsampadamevetaṃ; yo petamanusocati.

“Như con trẻ đòi trăng; khóc than thêm vô vọng.

Cũng vậy, thật ngớ ngẩn; khi than khóc người thương”.

26- Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;

Tasmā etaṃ na socāmi, gato so tassa yā gatī’’ti.

“Không biết khi bị đốt; không hề biết than khóc.

Thế nên tôi không sầu; kẻ ấy đi tiếp con đường”.

Kế đến, Thiên vương Sakka hỏi người nữ tỳ.

– Này cô, người chết là gì của cô?

– Chắc đây là người chủ hung bạo, thường đánh đập nữ tỳ, nên khi chủ chết cô không khóc được.

– Thưa Ngài, dừng nên nói vậy. Đây là cậu chủ hòa ái, thương yêu tôi như con.

– Thế sao cô không khóc?

Cô nữ tỳ trả lời Thiên vương Sakka bằnng hai kệ ngôn:

27- Yathāpi udakakumbho; bhinno appaṭisandhiyo.

Evaṃsampadamevetaṃ; yo petamanusocati.

“Ví như chiếc bình đất; đã vỡ nào ráp lại được.

Cũng vậy, thật ngớ ngẩn; khi khóc than người thương”.

28- Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;

Tasmā etaṃ na socāmi, gato so tassa yā gatī’’ti.

“Không biết khi bị đốt; không hề biết than khóc.

Thế nên tôi không sầu; kẻ ấy đi tiếp con đường”.

Nghe mọi người nói lên điều mình suy nghĩ về sự chết, vua Trời Sakka hân hoan nói rằng:

– Các người đã sống thận trọng trong suy gẫm về sự chết, khiến ta rất hân hoan. Ta chính là vua Trời Sakka, từ nay các người không phải cày bừa để sinh sống nữa, ta sẽ ban cho các người 7 loại ngọc quí, giúp các người sống để thực hành Phạm hạnh, các người hãy gìn giữ hạnh bố thí, trì giới  những ngày Bốtát, cùng với suy nghiệm về sự chết cho tốt đẹp.

Rồi Thiên vương Sakka ban cho gia đình Bồtát vô số thất bảo để sinh sống, sau đó Thiên vương Sakka trở về thiên giới.

Dứt Bổn sự, Đức Thế Tôn thuyết lên lý Tứ đế, rồi Ngài nói lên kệ ngôn:

212- Piyato jāyatī soko, piyato jāyatī bhayaṃ;

Piyato vippamuttassa, natthi soko kuto bhayaṃ.

“Thương mến sinh sầu muộn; thương mến sinh lo sợ.

Thoát khỏi sự thương mến; không sầu, từ đâu có lo sợ”([79]).

Dứt kệ ngôn, cận sự nam chứng Thánh quả Dự lưu.

Nhận diện bổn sự.

Nữ tỳ nay là bà Khujjuttarā, người con gái nay là bà Uppalavaṇṇā, con trai nay là Ngài Rāhula, người mẹ nay là bà Khemā. Bồtát nay là Đấng Như Lai([80]).

*Bổn sự Kapi (chuyện con khỉ).

Duyên khởi.

Nơi Giảng pháp đường trong Đại tự KỳViên, các Tỳkhưu ngồi bàn luận cùng nhau về một Tỳkhưu lừa đảo người.

– Này các Hiền giả, Tỳkhưu ấy khi được xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn, lại có nhiều hành vi lừa đảo người khác.

Đức Thế Tôn ngự đến Giảng pháp đường, Ngài dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, không phải hiện tại Tỳkhưu ấy thường lừa đảo người, trong quá khứ khi là con khỉ cũng có hành vi lừa đảo như thế.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

*Bổn sự.

Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại) thuộc xứ Kāsi. Bồtát sinh ra trong trong một gia tộc Bàlamôn trong nước Kāsi, Ngài có người vợ là một nữ Bàlamôn. Bồtát có được đứa con trai, khi con trai vừa biết đi chập chững thì vợ Ngài mệnh chung, Bồtát ẳm con đi vào rừng Tuyết xuất gia làm ẩn sĩ, cùng với con trai sống trong một chòi lá.

Vào mùa mưa, một cơn mưa lớn khởi lên trong nhiều ngày, Bồytát nhờ chuẩn bị trước, Ngài có một đống củi lớn dùng để sưởi ấm. Một con khỉ sống trong rừng, nó nhặt được một chiếc ý của vị ẩn sĩ đã chết, quấn đấp vào vai, tay cầm gậy cùng ghè nước giả dạng một ẩn sĩ để lừa gạt những người thợ rừng, đi đến gần họ rồi thừa cơ giật lấy những vật dụng hay cơm nước của những người thợ rừng.

Con khỉ bị cơn mưa lũ làm ướt cả mình, lạnh run lập cập, đi đến chòi lá của ẩn sĩ. Nhìn thấy đống lửa, nó muốn sưởi ấm, nó nghĩ: “Với hình tướng Samôn này, ta có thể vào sưởi ấm, sau đó ta sẽ có cơ hội lấy những vật dụng trong chòi này”. Nó đứng trước cửa với hình tướng một ẩn sĩ đang bị lạnh run rẩy cả người.

Đứa con thấy con khỉ liền nói với cha đang nằm trên chiếc giường nhỏ rằng:

– Thưa cha thân, có một ẩn sĩ an tịnh đang bị lạnh, thân người run cầm cập. Hãy gọi vị ấy đến cho vị ấy sưởi ấm.

Bồtát nghe con nói, đứng dậy đi ra cửa chòi lá, nhìn thấy con khỉ đang giả dạng ẩn sĩ, Ngài nói với con trai rằng:

– Này con, nó không phải là ẩn sĩ an tịnh, nó là con khỉ độc ác thường lừa đảo những người thợ rừng với tướng mạo ẩn sĩ. Nếu để nó vào trong chòi này, nó sẽ làm bẩn nơi đây.

Rồi Bồtát cầm một thanh lửa đe dọa con khỉ, đuổi nó đi. Con khi bỏ đi không hề quay lại.

Cha con Bồtát nỗ lực tu tập, chứng đạt thiền định cùng Thắng trí. Mệnh chung tái sinh về Phạm thiên giới.

Nhận diện Bổn sự.

Con khỉ nay là vị Tỳkhưu lừa đảo; con trai nay là Ngài Rāhula, Bồtát nay là Đấng Như Lai([81]).

*Bổn sự Makkaṭa (chuyện con vượn).

Như Bổn sự trên, nhưng đề cập đến vị Tỳkhưu lừa đảo khác. Tiền thân vị Tỳkhưu lừa đảo ấy là con vượn([82]).

*Bổn sự Makkhādeva (vua Makkhādeva).

Duyên khởi.

Các Tỳkhưu bàn luận cùng nhau về việc xuất gia của Đức Thế Tôn. Nhân đó Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa, nơi nước Videha  có Đức vua Makkhādeva trị vì nơi kinh thành Mithilā. Đức vua trị nước theo pháp, Ngài trải qua 84 ngàn năm là Hoàng tử, 84 ngàn năm là Phó vương và trị vì quốc độ Videha là 84 ngàn năm. Khi đang trị vì quốc độ, Đức vua bảo người thợ cắt tóc rằng: “Khi ngươi thấy sợi tóc bạc trên đầu ta, ngươi hãy báo cho ta biết”.

Sau một thời gian dài, người thợ cắt tóc thấy sợi tóc bạc trên đầu vua Makkhādeva nên báo cho Đức vua biết.

– Hãy nhổ sợi tóc bạc ấy đặt vào tay ta.

Người thợ cắt tóc đã nhổ sợi tóc bạc đặt vào tay Đức vua. Nhìn sợi tóc bạc, Đức vua xúc cảm mạnh và quyết định: “Hôm nay ta sẽ xuất gia”.

Đức vua ban cho người thợ cắt tóc một ngôi làng để thu lợi tức, ngôi làng trị giá 100 ngàn đồng vàng, cho gọi Thái tử đến, truyền ngôi vua cho Thái tử.

Đức vua Makkhādeva xuất gia làm ẩn sĩ, sống trong rừng xoài tu tập bốn Phạm trú suốt 84 ngàn năm. Mệnh chung tái sinh về Phạm thiên giới.

Nhận diện Bổn sự.

Người thợ cắt tóc nay là Trưởng lão Ānanda, Thái tử là Ngài Rāhula, Đức vua Makkhādeva nay là Đấng Như Lai([83]).

*Bổn sự Sonaka.

Duyên khởi.

Có lần nơi Giảng pháp đường trong Đại tự KỳViên, các vị Tỳkhưu ngồi đàm luận cùng nhau về sự xuất gia của Bồtát Siddhattha.

Nhân đó. Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa, Bồtát sinh vào thai bào của Chánh hậu vua xứ Magadha, cai trị nơi kinh thành Rājagaha (Vương xá).  Thái tử có tên là Arindama, cùng ngày sinh ra Thái tử, một cậu bé  con của vị Tế lễ sư cũng sinh ra, cậu được đặt tên là Sonaka.

Hai cậu bé có hình dáng rất giống nhau thường khó phân biệt ai là Arindama, ai là Sopaka. Khi trưởng thành cả hai rất xinh đẹp đều theo học nơi kinh thành Takkasilā.

Sau khi thành thạo những môn nghệ thuật của gia tộc, cả hai đi đến kinh thành Bārāṇasī (Balanại) để học thêm kỹ thuật lễ tế đàn.

Vào ngày hai vị đến kinh thành Bārāṇasī, cũng là ngày đại chúng trong kinh thành làm lễ cúng dường đến các vị Bàlamôn trưởng thượng, do nghiệp lực dẫn lối hai vị đi vào kinh thành lại đi đến nơi làm lễ Tế đàn.

Đại chúng thấy hai vị đi đến với dung mạo xinh đẹp như vị Phạm thiên giáng thế, cùng nhau bàn luận rằng:

– Có lẽ đây là hai vị chư thiên hay Phạm thiên, thấy tâm trong sạch của chúng ta thực hiện lễ tế đàn, nên hóa thân đến đây thọ nhận lễ vật.

Đại chúng mời hai vị đến Tế đàn, ngồi vào chỗ trang trọng, trên ghế của Thái tử Atindama đượt lót bên trên là tấm lụa trắng quý của xứ Kāsi, còn trên ghế của Sonaka được lót bên trên thấm thảm len màu đỏ.

Thấy điềm tướng này, Sonaka đoán rằng: “Ngày hôm nay Thái tử Arindama được làm lễ phong vương, cai trị vương quốc này. Còn ta sẽ được tấn phong là vị đại thần tế lễ”.

Sau khi thọ thực xong, cả hai đi đến vườn Ngự Uyển của Đức vua để trú ngụ. Hôm ấy là ngày thứ 7 sau khi Đức vua trị vì kinh thành Bārāṇasī mệnh chung, Đức vua không có vị Thái tử kế vị, các vị Đại thần bàn luận cùng nhau rằng:

– Đại vương không có Thái tử kế vị, đất nước này không thể không có vua. Chúng ta hãy để thần linh chọn người tài đức cai trị quốc độ này.

Các vị Đại thần tắm rửa sạch sẽ, Tế lễ sư làm lễ khẩn cầu thần linh lựa chọn người cai trị quốc độ Kāsi. Cho trang hoàng cổ long xa lộng lẫy, trên xe đặt những hiệu lịnh của Đức vua như áo, mão, gươm, lọng và hài, cho bốn con ngựa Sindha màu trắng kéo đi khắp kinh thành Bārāṇasī tìm người tài đức. Cổ xe không người điều khiển chạy đi phía trước, theo sau là các vị Đại thần cùng đoàn quân hộ giá, đoàn nhạc sư cho tấu lên năm loại nhạc khí, âm thanh hòa vào nhau như những khúc nhạc thiên thần hộ tống phía sau xe.

Cổ xe xinh đẹp chạy quanh ba vòng thành Bārāṇasī càng lúc càng nhanh, rồi cổ xe đi vào vườn Ngự Uyển.

Bấy giờ Thái tử Arindama đang nằm nghỉ trên phiến đá lớn đấp y kín người nằm ngủ, chiếc long xa chạy đến đứng trước Thái tử như sẵn sàng mời chủ nhân bước lên xe.

Sonaka nghe âm thanh từ những nhạc cụ, rồi nhìn thấy cổ Long xa đi đến đứng trước Thái tử Arinda, nghĩ thầm: “Hôm nay bạn ta sẽ làm lễ Quán đảnh, trị vì Vương quốc Kāsi, sau đó sẽ phong ta là Đại thần Tế lễ sư. Nhưng ta không muốn tham gia nơi thế tục này, ta muốn tìm nơi thanh vắng để ẩn cư tu tập hạnh ẩn sĩ”.

Sonaka liền đứng lên  ẩn mình sang một bên. Thái tử Arindama nghe âm thanh phát ra từ 5 loại nhạc cụ, Ngài dở chiếc y đấp đầu ra, nhìn thấy cổ Long xa, Ngài quay lưng lại đấp kín chiếc y ngủ tiếp. Vị Đại thần Tế lễ sư đi đến nơi nằm của Thái tử Arindama, nhìn thấy hai bàn chân của Thái tử lộ ra tướng Đại nhân, biết rằng: “Đây là bậc Đại phúc, có tài trí vô song”.

Vị Đại thần Tế lễ sư cho thổi kèn chào mừng, Thái tử không thể ngủ được liền ngồi dậy, ngồi tréo chân vào nhau trên phiến đá, vị Tế lễ sư cùng các Đại thần quỳ xuống trước tảng đá thưa rằng:

– Thưa Đại vương, quốc độ này là của Ngài. Xin Ngài hãy thọ nhận quốc độ này đi.

– Này các Đại thần, việc này là thế nào?

– Thưa Ngài, Đại vương của chúng tôi đã mệnh chung 7 ngày, nay chúng tôi thỉnh Ngài nối tiếp vương nghiệp cai trị quốc độ này.

– Thế Đức vua không có người thừa kế sao?

– Thưa Ngài, tiền vương không có Thái tử kế vị.

– Ồ! Nếu thế thì được.

Các Đại thần tổ chức lễ phong Vương cho Thái tử Arindama ngay tại chỗ ấy, rồi rước Ngài ngự lên Long xa trở về Hoàng cung.

Lễ tiếp rước Tân vương diễn ra thật long trọng, Tân vương đi quanh kinh thành ba vòng rồi đi đến Hoàng cung thọ hưởng vinh quang huy hoàng, và Tân vương quên bẳng người bạn Sonaka của mình.

Sau khi Tân vương Arindama đi rồi, Sonaka từ chỗ ẩn mình đi ra, ngồi trên phiến đá ấy suy gẫm, một chiếc lá úa từ cây Sāla cạnh đó lìa cành rơi xuống trước mặt Sonaka, Sonaka kêu lên rằng:

– Rồi đây thân ta cũng sẽ như chiếc lá úa này.

Sonaka để tâm quán xét sức mạnh của định luật vô thường, khổ, vô ngã, các pháp Balamật (Pāramī)  đến thời hội tụ, con đường Bát chánh hiện khởi rõ ràng trong tâm Ngài và Ngài Sonaka chứng đắc quả vị Paccekabuddha (Phật Độc giác), Ngài đưa tay lên đầu lập tức râu tóc rụng hết, xuất hiện trên người Ngài là chiếc y vàng cùng những vật dụng Samôn. Ngài hân hoan nói lên lời chiến thắng rằng:

– Ta không còn sinh lại trong thế gian này nữa, kiếp này là kiếp cuối.

Trải qua 40 năm, Đức vua Arindama chợt nhớ đến người bạn Sonaka của mình, suy nghĩ rằng:

– Bạn ta là Sopaka hiện giờ ở nơi nào? Hiện giờ sống chết ra sao?

Đức vua Arindama chợt cảm thấy ray rứt, cho người đi khắp nơi tìm cho ra Sonaka, nhưng trải qua thời gian dài không ai đến báo cho Đức vua biết tin tức của Sonaka.

Đức vua treo giải thưởng: “Ai báo tin Sonaka ở nơi nào sẽ được ban thưởng 100 đồng vàng, ai thấy Sonaka hiện đang trú nơi nào sẽ được ban thưởng 1.000 đồng vàng”.

Giải thưởng này được Đức vua sáng tác thành kệ ngôn, rồi cho phổ nhạc, đoàn ca nhạc cung đình thường hát lên khúc ca ấy, rồi lan dần ra khắp kinh thành Bārāṇasī, rồi khắp quốc độ Kāsi.

Sau năm mươi năm trị vì Vương quốc Kāsi, Đức vua có rất nhiều vương tử và công nương, vị Thái tử có tên là Dighàvu (Trường thọ).

Bài hát lan truyền khắp nơi và đến tai Đức Phật Độc giác Sonaka, Ngài suy nghĩ: “ Đức vua Arindama rất nóng lòng gặp lại ta. Vậy ta đến gặp Đức vua, giải thích cho Ngài hiểu nỗi khổ đau của tham dục và công đức của việc xuất gia, ta sẽ chỉ cho Ngài con đường an lạc của hạnh ẩn sĩ”.

Theo đường hư không từ núi Nandamūla Ngài đi đến kinh thành Bārāṇasī, đi đến Ngự Uyển trong kinh thành trú ngụ.

Có một đứa bé lên bảy để tóc năm chòm, được mẹ sai đến vườn Ngự Uyển để lượm củi khô, nó vừa đi tìm củi khô vừa hát đi hát lại bài hát ấy. Ngài Sonaka gọi cậu bé đến hỏi rằng:

– Này con, sao con cứ hát mãi bài này, con không biết bài hát khác chăng?

– Thưa Ngài, con biết nhiều bài hát, nhưng bài này là bài được Đức vua thích nhất, nên con hát đi hát lại.

– Thế có ai đối lại với bài hát này chưa?

– Thưa Ngài, chưa có.

– Vậy ta sẽ dạy con bài thơ đối lại với bài hát này, con hãy đọc lên trước Đức vua và đại chúng, con sẽ được thưởng 1.000 đồng vàng.

– Vâng thưa Ngài,

Đức Độc giác Sonaka dạy cậu bé kệ ngôn đại ý là:

“Hãy cho con ngàn đồng vàng.

Con sẽ nói cho Đại vương biết.

Chỗ ở của Sonaka.

Người bạn thân của Đại vương”.

Khi cậu bé học thuộc kệ ngôn không còn nhầm lẫn, sai sót, Ngài Sonaka bảo:

– Con hãy nói kệ ngôn này trước Đức vua, Ngài sẽ thưởng con 1.000 đồng vàng, con sẽ thoát ra nghèo khổ không còn phải đi lượm củi khô nữa. Con hãy trở về nhà nhanh lên.

– Vâng, thưa Ngài.

Cậu bé về nhà nói với mẹ rằng:

– Mẹ hãy tắm rửa cho con, cho con mặc đồ đẹp. Con sẽ đến gặp Đức vua, hôm nay mẹ con mình thoát khỏi cảnh nghèo khổ rồi.

Cậu bé nhờ mẹ đưa đến cổng Hoàng cung, nói với người giữ cổng rằng:

– Thưa ông, xin ông hãy báo cho Đức vua biết: “Có cậu bé 7 tuổi có câu đối với bài hát của Đức vua, hiện đang đứng đợi nơi cổng Hoàng cung”.

Nghe có cậu bé 7 tuổi có câu kệ đối lại với bài hát của mình. Đức vua lấy làm lạ, cho người đưa cậu bé vào hoàng cung, hỏi rằng:

– Này con, được nghe con có kệ ngôn đối lại với bài hát của ta phải không?

– Thưa Đại vương, có thật như vậy.

– Vậy con hãy nói lên đi.

– Thưa Đại vương, không được. Vị dạy con câu kệ ngôn này dạy phải nói lên trước Đức vua cùng đại chúng trong kinh thành Bārāṇasī này.

– Này con, được thôi.

Đức vua cho đánh trống truyền khắp thần dân hãy tập hợp trước sân Hoàng cung. Đức vua ngồi trên Bảo tọa cao, còn cậu bé cũng được xếp một chỗ ngồi tốt đẹp, Đức vua dạy rằng:

– Này con, con hãy nói lên kệ ngôn đi.

– Thưa Đại vương, xin Ngài hãy đọc lên kế đối của Ngài trước đi.

Khi Đức vua đọc lên câu kệ của mình, câu bé đọc tiếp là:

“Hãy cho con ngàn đồng vàng.

Con sẽ nói cho Đại vương biết.

Chỗ ở của Sonaka.

Người bạn thân của Đại vương”.

Nghe xong câu kệ của cậu bé, vô cùng hân hoan hỏi rằng:

– Này con, vị ấy đang ở đâu?

– Thưa Đại vương, vị ấy đang ở trong vườn Ngự Uyển của Đại vương.

– Lành thay, lành thay, này con.

Sau khi ban thưởng cho cậu bé 1.000 đồng vàng cùng với những lễ phẩm trọng hậu, Đức vua truyền các quan Đại thần cùng đoàn quân hộ giá Đức vua đi vào vườn Ngự Uyển.

Khi gặp Đức Phật Độc giác Sonaka, Đức vua không thể nhìn ra người bạn trẻ năm xưa của mình, trước mắt Đức vua chỉ là một ẩn sĩ khổ hạnh già lão. Đức vua không đảnh lễ ẩn sĩ, chỉ ngồi xuống một bên, hỏi với vẻ khinh thị rằng:

– Hỡi Samôn trọc đầu đê tiện kia, vì sao ngươi khốn khổ như thế?

– Thưa Đại vương, tôi không có khốn khổ đâu, cũng chẳng phải là kẻ  đê tiện. Kẻ đê tiện là người bỏ điều chân thật, nhận lấy những gì sái quấy; kẻ đê tiện là kẻ đắm chìm trong dục lạc không biết đến tình nghĩa.

Đức vua Arindama rúng động tâm khi bị khiển trách, nhưng trước các vị Đại thần, Đức vua giả vờ không biết mình bị khiển trách, bày tỏ sự thân tình bằng cách tự giới thiệu rằng:

– Này hiền hữu, ta chính là vua xứ Kāsi, ta là Đức vua Arindama. Hiền hữu trú ngụ nơi này có được an lạc chăng?

– Thưa Đại vương, dù trú ngụ nơi nào, tôi luôn được an lạc.

Rồi Đức Phật nói lên 8 sự an lạc của đời sống xuất gia:

1- An lạc do không tích trữ tài sản là vật chất.

2- An lạc do nuôi mạng theo pháp, là đi xin ăn đúng theo pháp.

3- An lạc do không tranh chấp.

4- An lạc do không dính mắc chỗ cư ngụ.

5- An lạc do chẳng sợ tổn thất tài sản vật chất.

6- An lạc do không phải gìn giữ tài sản riêng.

7- An lạc do không bị trộm cướp làm hại.

8- An lạc do thong dong tự tại đến và đi.

Đức Phật Độc giác Sonaka khuyên người bạn của mình là Arindama hãy xuất gia sống đời ẩn sĩ.

Nhưng vì đắm chìm trong dục lạc thời gian dài, nên Đức vua Arindama từ chối và nêu lên những an lạc khi thọ hưởng dục lạc. Đức Phật Độc giác Sonaka nói:

– Tâm ý của Đại vương đã như thế, tôi không có gì để nói nữa.

Rồi Ngài dùng thần thông bay lên hư không, Ngài khiến cho những hạt bụi dưới chân Ngài rơi lên đầu vua Arindama, rồi trở về núi Nandamūla. Đức vua Arindama xúc cảm mạnh, suy nghĩ:

– Gã Samôn đê tiện kia dám làm những hạt bụi dưới chân rơi lên đầu ta, mà ta chẳng làm được gì cả. Thật sự, Samôn hạnh có nhiều uy lực, khiến một Đức vua trị vì quốc độ lớn cũng không thể làm gì được. Ta nên sống đời sống ẩn sĩ để đạt được những uy lực này.

Sau đó Đức vua gia quốc độ Kāsi cho con trai trưởng là Thái tử Dīghāyu cai trị, còn Ngài xuất gia làm ẩn sĩ tu tập nơi vườn Ngự Uyển.

Nhận diện tiền thân.

Thái tử Dīghāyu nay là Ngài Rāhula, Đức vua Arindama nay là Đấng Như Lai([84]).

*Bổn sự Kumbhakāra([85]).

*Bổn sự Khaṇḍahāla ([86]).

*Bổn sự Cūlasutasoma([87]).

*Bổn sự Daddara([88]).

*Bổn sự Bandhanāgāra([89]).

*Bổn sự Mahājanaka([90]).

*Bổn sự Mahāsudassana.([91]).

*Bổn sự Vidhura([92]).

*Bổn sự Vessantara([93]).

*Bổn sự Sīhakoṭṭhuka([94]).

*Bổn sự Sonaka

*Bổn sự Mātaṅga([95]).

*Bổn sự Mahā Ukkusa.

Là con rùa con, rùa cha là của tiền thân NgàiMoggallāna (MụcKiềnLiên) ([96]).

*Bổn sự Kaṇhadīpāyana.

Duyên khởi.

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Đại tự KỳViên, có một Tỳkhưu thối thất tinh tấn, chán nản thực hành phạm hạnh. Vị ấy bày tỏ sự chán nản của mình đến các Tỳkhưu, các Tỳkhưu trình bạch việc này lên Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn cho gọi vị Tỳkhưu chán nản ấy đến hỏi rằng:

– Này Tỳkhưu, được nghe rằng ngươi bày tỏ sự chán nản với đời sống thực hành Phạm hạnh trong giáo pháp này phải không?

– Bạch Thế Tông, thật sự con có thật như vậy.

Đức Thế Tôn khiển trách rằng:

– Này Tỳkhưu, các bậc trí thuở xưa trong thời không có Giáo pháp của Đấng Như Lai xuất hiện trong thế gian, không hoan hỷ thực hành phạm hạnh suốt 50 năm, nhưng do thận trọng và khôn ngoan nên không tỏ lộ cho ai biết mình thối thất tinh tấn.

Còn ngươi được xuất gia trong Giáo pháp dẫn đến giải thoát của Đấng Như Lai, vì sao ngươi không biết hổ thẹn khi bộc lộ sự thối thất trước đại chúng? Vì sao ngươi chẳng chút e dè khi nói lên điều đáng hổ thẹn này?

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa nơi quốc độ Vaṃsa, có Đức vua Kosambika trị vì nơi kinh thành Kosambī,

Có hai vị Bàlamôn là Dīpāyana và Maṇḍavya cùng ở trong một thị trấn, mỗi vị có tài sản là 800 triệu tiền vàng và bạn thân của nhau, Sau khi nhận thức sự tai hại của năm dục lạc, cả hai đều bố thí hết gia sản của mình, rồi xuất gia làm ẩn sĩ, cư ngụ ở vùng núi Tuyết. Tuy nuôi sống bằng những trái cây rừng. lá cây rễ, củ tìm được, nhưng suốt 50 năm hai vị không chứng đắc thiền định chi cả.

Sau 50 năm tu tập, vào mùa mưa hai ẩn sĩ du hành đến một thị trấn trong quốc độc Kāsi để tìm muối và dấm. Trong thị trấn này có một gia chủ cũng có tên là Maṇḍavya, gia chủ Maṇḍavya vốn là thân hữu tại gia của ẩn sĩ Dīpāyana trước đây.

Hai ẩn sĩ đến viếng thăm gia chủ Maṇḍavya, vừa trông thấy hai ẩn sĩ, gia chủ Maṇḍavya vô cùng hân hoan, tiếp đón hai ẩn sĩ rất trọng thể, sau đó cho kiến tạo hai thảo lư dâng đến hai ẩn sĩ, thỉnh hai ẩn sĩ an cư mùa mưa nơi thảo lư ấy.

Gia chủ Maṇḍavya cung cấp mọi vật dụng cần thiết cho đời sống ẩn sĩ đến hai vị. Hai vị an cư mùa mưa nơi ấy khoảng 3 lần, rồi từ giả gia chủ Maṇḍavya đi đến kinh thành Bārāṇasī, hai ẩn sĩ đi vào bãi tha ma trú ngụ. Bãi tha ma mộ địa này trồng toàn cây Atimuttaka (là một loại cây có hoa từng chùm màu xanh).

Sau thời gian trú nơi mộ địa theo ý, ẩn sĩ Dīpāyana trở lại thị trấn thăm gia chủ Maṇḍavya, riêng ẩn sĩ Maṇḍavya vẫn ở lại nơi bãi tha ma.

Có lần một gã trộm đạo đi vào kinh thành trộm đồ của một gia chủ, bị phát hiện, cư dân thành phố cùng cư dân rượt đuổi bắt trên trôm.

Tên trộm  theo đường ống cống của thành phố thoát ra ngoài, quan lính cùng cư dân kinh thành đốt đuốc rượt đuổi theo, khi chạy ngang qua nơi ngụ của ẩn sĩ Maṇḍavya, tên trộm ném bỏ gói tang vật trước mặt ẩn sĩ Maṇḍavya rồi bỏ chạy trốn. Khi gia chủ cùng cư dân chạy đến thấy gói tang vật ở trước mặt ẩn sĩ liền kêu lên.

– Đây là tên trộm đạo ban đêm, ban ngày giả dạng ẩn sĩ tu hành tốt đẹp.

Họ xông vào đấm đá ẩn sĩ, miệng mắng chửi không ngớt lời.

Sau đó đem ẩn sĩ trình lên Đức vua, Đức vua không tra xét chi cả, ra lịnh rằng:

– Mang tên phạm tội đóng cọc nó.

Lính hành hình của Đức vua mang ẩn sĩ ra mộ địa, đóng cọc vào người ẩn sĩ, nhưng không cọc nhọn nào có thể xuyên qua người ẩn sĩ, cho dù đó là cọc sắt nhọn.

Bị hành hạ rất đau đớn nhưng ẩn sĩ Maṇḍavya không chút phiền hận, cố gắng đưa tâm quán xét lại tiền nghiệp của mình, chợt nhớ lại được tiền nghiệp quá khứ, nên bảo các người hành hình rằng:

– Nếu các ngươi muốn đóng cọc ta, hãy dùng cọc gỗ mun mà đóng.

Họ làm theo lời ẩn sĩ, nhưng cũng không thể đóng xuyên qua người của ẩn sĩ, ẩn sĩ nói:

– Hãy đóng cọc vào bụng của ta.

Họ làm theo và đóng được cọc vào bụng ẩn sĩ, nhưng không thể xuyên qua người được.

Tiền nghiệp.

Vào kiếp trước tiền thân ẩn sĩ là con người thợ mộc, có lần cậu bé đi đến nơi cha làm việc, cậu bé thấy con sâu đang bò, tinh nghịch cậu lấy một que gỗ mun đâm vào bụng con sâu.

Ẩn sĩ thấy ác nghiệp đã đến hồi trả quả, không thể nào thoát khỏi quả sầu này, nên bảo nhóm lính hành hình dùng gỗ mun đóng vào bụng mình.

Nhưng vì con sâu không chết, nó ngoe ngẩy trên chiếc que gỗ mun, sau đó cậu bé bẻ gẫy gỗ mun thả cho sâu đi.

 Con sâu tuy không chết nhưng khúc gỗ mun vẫn còn trong người nó, do đó tuy bị đóng cọc vào bụng nhưng ẩn sĩ không chết.

Những người lính hành hình chôn cây cọc xuống đất, thân hình ẩn sĩ nằm ngang trên cây cọc, giống như con sâu nằm ngang trên que gỗ ngoe ngoẩy, họ để ẩn sĩ nằm giữa trời nắng như thiêu đốt và để lại một tên quân canh giữ chờ đợi khi ẩn sĩ chết trở về báo lại cho Đức vua biết. Tên lính canh giữ tìm bóng mát trú ẩn.

Ẩn sĩ Dīpāyana nhớ đến bạn là ẩn sĩ Maṇḍavya nên tìm đến thăm, thấy bạn bị đóng cọc phơi ngoài nắng nơi bãi tha ma, nên hỏi rằng:

– Này bạn, vì sao bạn bị như vậy?

– Tôi chẳng làm gì cả, đây là một ác quả do tôi đã tạo ác nghiệp trong kiếp trước đến hồi trả báo.

Ẩn sĩ Maṇḍavya thuật lại mọi việc cho bạn nghe, cùng với sự nhớ lại được tiền nghiệp trong quá khứ. Ẩn sĩ Dīpāyana hỏi rằng:

– Thế bạn có buồn phiền chi Đức vua không?

– Ồ ! Không hề có. Khi tôi thấy rõ không thể thoát ra ác quả, nên tôi đã bảo những người lính hành hình hãy dùng cọc gỗ mun đóng cọc vào bụng của tôi kia mà.

Ẩn sĩ Dīpāyana hân hoan rằng:

– Ôi ! Đức độ của bạn thật sự là bóng mát cho người khác nương nhờ.

Ẩn sĩ Dīpāyana ngồi xuống bên dưới thân của ẩn sĩ Maṇḍavya, dùng bóng mát từ thân của bạn che nắng cho mình. Hai ẩn sĩ đàm luận cùng nhau rồi yên lặng an trú vào đề mục riêng của mình.

Ẩn sĩ Dīpāyana ngồi suốt 7 ngày bên cạnh bạn như thế, những giọt máu từ vết thương của ẩn sĩ Maṇḍavya rơi xuống người ẩn sĩ Dīpāyana khiến làn da màu vàng của ẩn sĩ có những chấm đen do máu lưu lại bám dính vào làn da do sức nóng nặt trời, không thể tẩy xóa được, nên ẩn sĩ được gọi là Kaṇha Dīpāyana (Dīpāyana chấm đen).

Tên lính canh giữ  tội nhân thấy sự kiện kỳ lạ này, liền trở về báo lại cho Đức vua biết. Đức vua cùng các quan hộ tống đi đến bãi tha ma, thấy tường tận sự việc, nên hỏi ẩn sĩ Dīpāyana rằng:

–  Thưa ẩn sĩ, vì sao Ngài ngồi cạnh tội nhân này.

– Thưa Đại vương, đây là người bạn cùng tôi xuất gia làm ẩn sĩ hơn 50 năm. Thưa Đại vương, vì sao bạn của tôi bị hành hình như thế?

– Thưa ẩn sĩ, người này đã phạm tội trộm đồ của một gia chủ trong kinh thành.

– Thưa Đại vương, Đại vương có cho tra xét phân minh chưa?

– Vấn đề này chưa được ta cho tra xét.

– Thưa Đại vương, trước khi xuất gia bạn tôi là một gia chủ có đại tài sản 800 triệu tiền vàng, vị ấy đã bố thí tất cả để xuất gia làm ẩn sĩ. Một số lượng tài sản lớn như vậy, vị ấy còn không tham đắm thì vì sao tham đắm số tài sản nhỏ nhoi kia mà phải đi lấy trộm.

Là vị cai quản thần dân, Đại vương cần phải sáng suốt, công minh, không nên vội vàng hấp tấp, kẻo xử oan người vô tội.

Nghe những lời này, Đức vua hối hận rằng:

– Thật vậy, Ta đã quá hấp tấp, không tra xét cho phân minh.

Sau khi cho tra xét lại, thấy rõ ẩn sĩ Maṇḍavya vô tội nên Đức vua ra lịnh phóng thích ẩn sĩ Maṇḍavya. Nhưng bọn lính không cách nào rút cây cọc ra khỏi người của ẩn sĩ, thấy vậy ẩn sĩ nói với Đức vua rằng:

– Thưa Đại vương, không thể rút cây cọc gỗ mun này ra khỏi thân tôi được. Đại vương hãy cho người cưa cây cọc sát làn da của tôi đi.

Và một phần gỗ mun còn nằm trong thân ẩn sĩ Maṇḍavya (như con sâu còn mang khúc que gỗ trong thân).

Đức vua sám hối hai ẩn sĩ, thỉnh hai ẩn sĩ vào ngự trú nơi vườn Ngự Uyển của Đức vua. Đức vua hộ độ đến hai ẩn sĩ, từ đó  ẩn sĩ Maṇḍavya được gọi là Āṇi Maṇḍavya (Maṇḍavya cây cọc).

Sau khi vết thương của ẩn sĩ Maṇḍavya lành hẵn, ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana từ giả bạn ra đi, ẩn sĩ đến thị trấn có người hộ độ là Maṇḍavya, còn ẩn sĩ Maṇḍavya vẫn ở lại vườn Ngự Uyển.

Ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana đi vào thảo lư dành riêng cho mình, gia nhân giữ thảo lư thấy ẩn sĩ đã quay lại, liền đi đến gia chủ Maṇḍavya thưa rằng :

– Thua chủ, ẩn sĩ Dīpāyana đã trở lại thảo lư.

Nghe gia nhân báo tin vui, gia chủ Maṇḍavya vô cùng hân hoan cùng với vợ, con mang nhiều hương liệu, tràng hoa, dầu, đường đi đến am thất, đảnh lễ ẩn sĩ Dìpàyana, rửa chân và xoa dầu thơm cho vị này xong, mang nước giải khát thượng vị cúng dường đến ẩn sĩ, rồi ngồi lắng nghe câu chuyện ẩn sĩ Āṇi Mandavya.

Bấy giờ con trai của gia chủ là nam tử Yaññadatta, đang chơi đùa với quả cầu ở cuối mái hiên. Tại đó, có một con rắn trong một ổ kiến, trái cầu của cậu rơi xuống đất, chạy tọt vào lỗ kiến kia và rơi nhằm con rắn.

Vì không biết trong tổ kiến có rắn độc, Yaññadatta thò tay vào lỗ nhặt quả cầu, con rắn mổ vào tay cậu, khiến cậu ngã xuống bất tỉnh vì nọc độc của rắn quá mạnh.

Thấy con trai duy nhất bị ngã xuống bất tỉnh, vợ chồng gia chủ Mandavya  chạy đến, nâng con lên nhìn thấy nơi tay có vết cắn của con rắn độc, liền mang con trai đến đặt nằm dưới chân ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana, thưa rằng: «Thưa Ngài ẩn sĩ, các bậc tu hành thường am tường thảo dược hay chú thuật. Xin Ngài hãy cứu con trai của chúng tôi đi».

– Ta đâu có biết gì về chú thuật, ta cũng chẳng hành nghề thầy thuốc.

– Thưa Ngài ẩn sĩ, những bậc tu hành thường là bậc có giới hạnh thanh cao, xin Ngài hãy phát nguyện lời chân thật cứu mạng con trai tôi đi.

– Thôi được. Ta sẽ phát nguyện lời chân thật vậy.

Ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana nói lên kệ ngôn đại ý là:

«Suốt cả 55 năm tu hành ta chưa hề hân hoan với đời sống xuất gia trọn vẹn. Ta chỉ hân hoan có 7 ngày khi ở gần ẩn sĩ Maṇḍavya. Do lời chân thật này, nọc rắn sẽ không hại tính mạng của đứa bé này».

Sau lời chân ngôn của ẩn sĩ, nọc rắn từ người cậu bé Yaññadatta thoát ra rồi thắm xuống đất, Yaññadatta mở mắt ra nhìn thấy mẹ, kêu lên rằng:

– Mẹ ơi.

Rồi nhắm mắt lại nằm im, ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana nói với người cha rằng:

– Ta dùng hết khả năng của mình rồi, vậy gia chủ hãy phát nguyện lời chân thật để cứu con mình đi.

Cha cậu bé nói:

– Vâng thưa Ngài.

Rồi gia chủ Maṇḍavya nói lên kệ ngôn, đại ý là:

«Tôi thực hành bố thí hạnh, cho mọi vật đến người, nhưng chưa bao giờ tôi hân hoan với hạnh bố thí này, tôi thực hành một cách miễn cưỡng. Do lời thành thật này xin cho con trai tôi được tỉnh lại».

Sau lời chân thật của gia chủ Maṇḍavya, cậu bé tỉnh lại và ngồi lên nhưng chưa thể đứng lên và bình phục như cũ. Gia chủ Maṇḍavya nói với vợ rằng:

– Thưa chủ, tôi không thể nói lên sự thật trước mặt chủ được.

– Này bà, hãy nói lên đi.

– Thưa chủ, khi nói lên lời chân thật này sẽ xúc chạm đến chủ, nên tôi không dám.

– Này bà, chớ ngại điều ấy, ta sẽ không để tâm đâu, miễn sao cứu được con trai ta là tốt rồi.

– Nếu được vậy thì tốt lắm.

Rồi bà nói lên kệ ngôn, đại ý là:

«Từ khi tôi về làm vợ ông, tôi chán ghét ông như chán ghét con rắn độc. Do lời thành thật này xin cho con trai tôi vô sự và bình phục trở lại».

Sau lời chân thật của người vợ, cậu bé Yaññadatta đứng lên, chơi đùa như trước. Mọi việc đã ổn thỏa, gia chủ Manḍavya hỏi ẩn sĩ  Kaṇha Dīpāyana rằng: «Thưa Ngài, vì sao Ngài tu hành thật tốt đẹp suốt 55 năm, lại không có tâm hân hoan, chỉ có tâm hân hoan có 7 ngày?»

– Này gia chủ, truyền thống gia tộc ta là: «Người con trưởng trong gia tộc phải xuất gia, tuy không thích đời sống ẩn sĩ, nhưng ta phải xuất gia. Đôi khi ta muốn trở về đời sống thế tục, nhưng sợ người đời cười chê là kẻ ngu đần. Ta chỉ có hoan hỷ 7 ngày khi ngồi dưới thân hình của ẩn sĩ Maṇḍavya».

Rồi ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana hỏi gia chủ Maṇḍavya:

– Này gia chủ, ta thấy ngươi thực hành bố thí hạnh rất tốt đẹp, vì sao ngươi không hoan hỷ với hạnh lành ấy, nhưng vẫn thực hành bố thí hạnh?

– Thưa Ngài, thuyền thống gia tộc tôi thực hành hạnh bố thí, tôi là con trưởng trong gia tộc, phải gìn giữ hạnh ấy. Tuy tôi không thích cho những món vật tôi có, nhưng khi có người đến xin món ấy, tuy tâm không hài lòng nhưng tôi vẫn phải cho».

Rồi gia chủMaṇḍavya hỏi vợ:

– Khi còn là thiếu nữ trong trắng, ta cưới bà về làm vợ, Ta luôn chăm sóc cho bà mọi việc tốt đẹp, vì sao bà chán ghét ta như chán ghét con rắn độc?

– Thưa chủ, thật ra tôi chẳng thương yêu gì chủ, tôi bị gia đình gả cho chủ. Truyền thống gia tộc tôi, khi lấy người nào làm chồng rồi thì không được cải giá. Tuy chán ghét chủ, nhưng tôi bắt buộc phải sống với chủ.

Sau khi vừa nói điều này ra xong, một ý nghĩ chợt đến với bà: “Nay ta đã nói điều bí mật kia với chồng ta rồi, cái điều bí mật chưa hề bao giờ được nói ra,  chồng ta chắc sẽ giận ta lắm; vậy ta hãy xin lỗi chồng ngay trước mặt vị ẩn sĩ này vốn là bạn chân tình của nhà ta ».

Người vợ quỳ trước mặt gia chủ Maṇḍavya thưa rằng :

– Điều bí mật này tôi nguyện giữ kín, nay chỉ vì tính mạng của Yaññadatta tôi phải nói ra. Tôi xin sám hối với chủ.

– Thôi bà hãy đứng dậy đi, từ nay bà đừng chán ghét tôi nữa, tôi không bao giờ buồn phiền bà đâu.

Ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana khuyên gia chủ Maṇḍvya rằng:

– Này gia chủ, tuy thực hành hạnh bố thí với tân không hoan hỷ mà gia chủ có được uy lực như thế. Nếu hoan hỷ với hạnh lành này thì uy lực còn nói gì hơn nữa. Vậy từ nay gia chủ hãy hoan hỷ với hạnh bố thí của mình đi.

– Vâng, thưa ẩn sĩ.

Rồi gia chủ Maṇḍavya nói với ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana rằng :

– Thưa ẩn sĩ, Ngài nhận lễ vật cúng dường từ những gia chủ như chúng tôi, nhưng Ngài không hân hoan thực hành Phạm hạnh, đó là sự sai lầm của ẩn sĩ. Tuy không thích thú thực hành Phạm hạnh mà lời của Ngài có uy lực như thế, nếu Ngài hân hoan thực hành Phạm hạnh thì còn nói gì đến uy lực này nữa chứ, Vậy từ nay Ngài hãy hân hoan thực hành Phạm hạnh đi.

– Lành thay, lành thay, này gia chủ.

Rồi hai vợ chồng gia chủ Maṇḍavya từ giả ẩn sĩ ra về.

Từ đó, người vợ thương yêu gia chủ Maṇḍavya, gia chủ Maṇḍavya có tâm hân hoan kết hợp với niềm tin khi thực hành hạnh bố thí và ẩn sĩ hân hoan trong hạnh xuất gia của mình, nỗ lực hành pháp chứng đạt thiền định, mệnh chung sinh về Phạm thiên giới.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên lý Tứ đế. Kết thúc thời pháp vị Tỳkhưu thối thất an trú tâm vào Thánh quả Dự Lưu.

Nhận diện bổn sự.

Gia chủ Maṇḍavya nay là Trưởng lão Ānanda, vợ gia chủ Maṇḍavya nay là bà Thánh nữ Visākhā, cậu bé Yaññadatta nay là Ngài Rāhula. Ẩn sĩ Maṇḍavya nay là Trưởng lão Sāriputta, ẩn sĩ Kaṇha Dīpāyana nay là Đấng Như Lai ([97]).

Chuyện này còn được nói trong bản Hạnh tạng (Cariyapiṭaka)([98]).

            Theo tập Apadāna, tiền thân Ngài Rāhula và tiền thân bà Uppalavaṇnā từng có cha mẹ chung (ekasmiṃ) và có khuynh hướng giống nhau (samānacchandamaanasā) trong nhiều tiền kiếp([99]).

 Phụ lục.

*Trưởng lão Raṭṭhapāla.

Là con của một thượng tộc Raṭṭhapāla, có đại uy quyền ở thành phố Thullakoṭṭhita thuộc xứ Kuru([100]).

Gọi là Raṭṭhapāla là gọi theo tộc họ, Ngài Buddhaghosa có cho biết: “Tộc họ này được hưởng tài sản từ một nước bị tan vỡ, nên được gọi là Raṭṭhapāla (giữ nước)”.

Thành phố này được gọi là Thullakoṭṭhita vì kho lúa trong thành không lúc nào vơi (thullakoṭṭaṃ, paripuṇṇakeṭṭhāgāraṃ)([101])

Ngài Raṭṭhapāla khi còn tại gia, sống đời sống vương giả và thành lập gia thất với một nữ nhân xinh đẹp, có gia tộc tương đương với gia tộc Ngài và rất tâm đầu ý hợp.

Đặc biệt, Ngài không hề xin ai bất kỳ điều gì, cho dù đó là cha của Ngài, như trong Tạng Luật ghi nhận: “Có lần, cha Ngài hỏi Ngài rằng:

Apāhaṃ te na jānāmi; raṭṭhapāla bahū janā.

Te maṃ saṅgamma yācanti; kasmā maṃ tvaṃ na yācasī’ti.

“Này Raṭṭhapāla, có rất là nhiều người

dầu ta không biết họ, họ vẫn đi đến gặp

rồi lại cầu xin ta, sao con không xin ta?”..

(Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá đáp lại rằng):

Yācako appiyo hoti; yācaṃ adadamappiyo.

Tasmāhaṃ taṃ na yācāmi; mā me videssanā ahū’ti.

“Kẻ xin không ai thích, được xin lại không cho,

cũng không được ưa thích; chính vì lý do ấy,

tôi không cầu xin ông, chớ có ghét bỏ tôi (ĐĐ Indacanda d)([102]).

Khi Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu du hành đến thị trấn Thullakoṭṭhita thuộc xứ Kuru. Đức Thế Tôn thuyết giảng Pháp thoại để tế độ các Bàlamôn, gia chủ nơi thành phố Thullakoṭṭhita, Nam tử Raṭṭhapāla cũng có mặt trong hội chúng ấy.

Được nghe được thời pháp thoại từ Đức Thế Tôn, nam tử Raṭṭthapāla suy nghĩ như sau: “Như ta được hiểu lời Đức Thế Tôn thuyết giảng, thì đời sống gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đấp y vàng, xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình”.

Sau khi các Bàlamôn, gia chủ ở thành phố Thullakoṭṭhita đảnh lễ Đức Thế Tôn từ giả rồi ra về, nam tử Raṭṭhapāla đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên thưa rằng:

– Bạch Thế Tôn, như con hiểu lời Thế Tôn dạy: “Đời sống gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh được hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng như vỏ ốc”.

Bạch Thế Tôn, con muốn cạo bỏ râu tóc, đấp y vàng, xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình.

Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Đức Thế Tôn, cho con được thọ đại giới.

– Nhưng này Raṭṭhapāla, ngươi có được cha mẹ bằng lòng cho ngươi xuất gia chưa?

– Bạch Thế Tôn, con chưa được cha mẹ bằng lòng cho xuất gia.

– Này Raṭṭhapāla, Như Lai không có cho xuất gia nếu không được cha mẹ bằng lòng.

– Bạch Thế Tôn, như vậy con sẽ làm những gì cần thiết để cha mẹ bằng lòng cho con được xuất gia.

Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn từ gia ra về, nam tử Raṭṭhapāla đi đến cha mẹ thưa rằng:

– Thưa cha mẹ, như con được hiểu lời dạy của Đức Thế Tôn, thời: “Đời sống gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh được hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng như vỏ ốc”, con muốn cạo bỏ râu tóc, đấp y vàng, xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình.

 Thưa cha mẹ, xin cha mẹ hãy cho con được xuất gia.

Cha mẹ nam tử Raṭṭhapāla nói rằng:

– Này Raṭṭhapāla con thân yêu, con là đứa con duy nhất của cha mẹ, khả ái, dễ thương, sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này Raṭṭhapāla  con, con không hề biết gì là đau khổ.

Này Raṭṭhapāla con, con hãy ăn, hãy uống hãy vui đùa, hãy thọ hưởng an lạc và làm những phước đức. Chúng ta không bằng lòng cho con được xuất gia. Nếu con có chết, chúng ta còn không muốn không có mặt con, huống gì con còn sống, chúng ta bằng lòng cho con xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình.

Sau ba lần xin cha mẹ đồng ý cho mình xuất gia nhưng không được, ngay tại chỗ ấy, nằm lăn ra nói rằng: “Ta sẽ chết ở nơi đây hoặc ta được xuất gia”.

Nam tử Raṭṭhapāla nhịn ăn uống suốt 7 ngày, mặc cho cha mẹ cùng các thân tộc đến khuyên giải, Ngài chỉ nói duy nhất một câu: “Ta sẽ chết ở nơi đây hoặc là được xuất gia”, hoặc là im lặng.

Các thân tộc bất lực trước sự kiên định của Raṭṭhapāl, đi đến nói với cha mẹ nam tử Raṭṭhapāla rằng:

– Thưa cha mẹ nam tử Raṭṭhapāla, nếu ông bà không bằng lòng cho nam tử Raṭṭhapāla xuất gia, Raṭṭhapāla sẽ chết ngay tại chỗ ấy, thế là ông bà vĩnh viễn không còn thấy mặt Raṭṭhapāla. Nếu cho Raṭṭhapāla xuất gia, ông bà còn có cơ hội trông thấy Raṭṭhapāla, nếu như Raṭṭhapāla không kham nhẫn nổi đời sống xuất gia khổ hạnh, Raṭṭhapāla sẽ quay trở lại gia tộc này.

Thưa cha mẹ nam tử Raṭṭhapāla, hãy bằng lòng cho Raṭṭhapāla xuất gia.

Và cha mẹ nam tử Raṭṭhapāla đàng phải đồng ý cho nam tử Raṭṭhapāla xuất gia với điều kiện: “Sau khi xuất gia phải trở về thăm cha mẹ”. Và nam tử Raṭṭhapāla được xuất gia trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳkhưu trú ở tthành phố Thullakoṭṭhita nửa tháng, rồi Ngài lên đường du hành trở về kinh thành Sāvatthi (Xávệ).

Tôn giả Raṭṭhapāla theo Đức Thế Tôn đi đến kinh thành Sāvatthi, Tôn giả Raṭṭhapāla sống độc cư, nỗ lực hành pháp, chẳng bao lâu chứng đạt Thánh quả Alahán.

Tồi Tôn giả đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn xin phép được về thành phố Thullakoṭṭhita thăm cha mẹ. Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này Raṭṭhapāla, ngươi hãy làm những gì ngươi nghĩ là hợp thời.

– Lành thay, bạch Đức Thế Tôn.

Lần lượt du hành, Tôn giả Raṭṭhapāla đến thành phố Thullakoṭṭhita, Ngài trú ngụ nơi vườn Migācīra (vườn nai) của Đức vua Koravya.

Vườn này nằm gần kinh thành Indapatta, có lúc thuộc Danañjaya Koravya (Korabba)([103]). Trong Bản Sớ giải Kệ ngôn Trưởng lão Tăng gọi là Migājina([104]).

Hôm sau, Ngài Raṭṭhapāla tay cầm lấy y bát đi vào thành Thullakoṭṭhita khất thực theo từng nhà, Ngài đi đến đứng trước cửa nhà cha mẹ mình, khi ấy cha cuả Raṭṭhapāla đang ngồi chải tóc ở giữa gian phòng có cửa, nhìn thấy Tôn giả Raṭṭhapāla từ xa đi đến, nói rằng:

– Chính vì những Samôn đầu trọc này mà đứa con độc nhất khả ái, dễ thương của chúng ta đã xuất gia.

Khi Tôn gia đến đứng trước nhà của cha mẹ mình, Tôn giả không nhận được vật thực, không nhận được lời từ chối, Tôn giả chỉ nhận được những lời sỉ nhục, nhiếc mắng.

Một nữ tỳ trong nhà đi ra mang đổ cháo của ngày hôm qua, cháo đã bị thiu, Tôn giả Raṭṭhapāla nói với nữ tỳ rằng:

– Này chị, nếu cần quăng bỏ cháo này, hãy đổ cháo này vào bát của tôi.

Người nữ tỳ đổ cháo ngày hôm qua vào bát của Tôn giả Raṭṭhapāla, đã nhận diện được tướng tay, chân và giọng nói của người chủ cũ của mình.

Người nữ tỳ liền đi đến mẹ của Tôn giả Raṭṭhapāla nói rằng:

– Thưa nữ chủ, công tử (ayyaputta) Raṭṭhapāla đã trở về.

– Nếu ngươi nói đúng sự thật, ngươi sẽ thoát khỏi số phận nô tỳ.

    Rồi bà đi đến cha Raṭṭhapāla nói rằng:

– Thưa gia chủ, gia chủ có biết chăng, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đã trở về?

 Lúc bấy giờ Tôn giả đi đến một bức tường cũ, ngồi dựa vào tường thọ thực món cháo ngày hôm qua (vì ăn cháo thiu nên Ngài được gọi là aggacariyavasika (Thánh tộc Tối thắng)([105])).

Người cha tìm đến thấy Tôn giả Raṭṭhapāla thọ dụng cháo thiu ngon lành, dường như đang dùng cao lương mỹ vị, nói rằng:

– Này Raṭṭhapāla con thân yêu, có phải con đang dùng cháo thiu? Con hãy trở về nhà của con đi.

– Thưa gia chủ, chỗ nào là nhà của chúng tôi, những người đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình?

Thưa gia chủ, tôi có đến nhà gia chủ, nơi đây tôi không nhận được vật thực, không nhận được lời từ chối. Tôi chỉ nhận được những lời sỉ nhục và nhiếc mắng.

– Này Raṭṭhapāla con thân yêu, hãy đi vào nhà.

– Thưa gia chủ, vừa đủ rồi, hôm nay tôi vừa thọ thực xong.

– Vậy này Raṭṭhapāla con thân yêu, hãy nhận lời thọ thực vào ngày mai.

Tôn giả Raṭṭhapāla im lặng nhận lời.

Cha của Tôn giả Raṭṭhapāla trở về nhà, cho mang vàng nén, tiền vàng đổ thành đống lớn ở giữa sảnh đường rồi lấy màn che lại, cho gọi những người vợ cũ của Tôn giả Raṭṭhapāla đến dạy rằng:

– Các con hãy trang sức thật xinh đẹp, hãy đeo những trang sức mà trước đây Raṭṭhapāla hài lòng thích thú.

Hôm sau, khi chuẩn bị mọi việc hoàn tất, những vật thực thượng vị loại cứng loại mềm được chu đáo, cha Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến báo tin rằng:

– Này Raṭṭhapāla con thân yêu, đã đến giờ thọ thực, vật thực đã sẵn sàng.

Tôn giả Ratṭṭhapāla tay cầm lấy y bát, đi đến nhà gia chủ là cha mẹ của mình trước đây để thọ thực.

Khi đã ngồi vào chỗ ngồi được soạn sẵn, cha Tôn giả Raṭṭhapāla cho lột màn che phơi bày đống vàng và tiền vàng cao, người đứng bên này không thấy được người đứng bên kia, nói rằng:

– Này Raṭṭhapāla con thân yêu, đây là tài sản của tổ tiên giòng họ ta, con có thể thụ hưởng và làm việc phước đức.

Này Raṭthapāla con thân yêu, hãy từ bỏ tu học, hoàn tục thừa hưởng tài sản này và làm các việc phước đức.

– Thưa gia chủ, gia chủ hãy làm theo lời tôi. Hãy chất hết số tài sản này là những cổ xe rồi mang ra đổ giữa sống Hằng. Vì sao vậy? Này gia chủ, vì do nhân duyên này mà sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ sinh lên cho gia chủ.

Những người vợ cũ của Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến ôm chân Tôn giả, nói rằng:

– Thưa công tử, vì các thiên nữ nào mà Ngài bỏ chúng tôi để sống đời sống Phạm hạnh.

– Này các chị, không phải vì các thiên nữ mà ta sống đời sống Phạm hạnh.

Các người vợ cũ của Tôn giả Raṭṭhapāla nghe Tôn giả gọi mình là chị, đã ngã lăn ra bất tỉnh.

Tôn giả Raṭṭhapāla nói với cha mẹ rằng:

– Thưa gia chủ, nếu gia chủ muốn bố thí vật thực, hãy bố thí đi. Chớ có phiền nhiễu đến tôi như thế.

– Này Raṭṭhapāla con thân yêu, vật thực đã sẵn sàng, hãy dùng vật thực cho thỏa thích.

Rồi tự thân gia chủ mời và làm thỏa mãn Tôn giả Raṭṭhapāla với các vật thực thượng vị loại cứng loại mềm.

Theo Bản Sớ giải Kệ ngôn trưởng lão Tăng (Theragāthā-atthakathā)([106]), khi ấy, Ngài Raṭṭhapāla bị choàng vào người chiếc y trắng của người gia chủ, đồng thời cha của Tôn giả Raṭṭhapāla cho cài chốt đóng kín 7 cánh cửa, cắt người canh giữ bên ngoài, không cho Tôn giả Raṭṭhapāla thoát ra. Tôn giả đứng lên nói lên những kệ ngôn như vầy:

769- Passa cittakataṃ bimbaṃ; arukāyaṃ samussitaṃ.

Āturaṃ bahusaṅkappaṃ; yassa natthi dhuvaṃ ṭhiti.

“Hãy nhìn hình bóng trang sức này;

một nhóm vết thương được tích tụ.

Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều;

Nhưng không gì kiên cố, thường trú.([107])

770- Passa cittakataṃ rūpaṃ; maṇinā kuṇḍalena ca.

Aṭṭhiṃ tacena onaddhaṃ; saha vatthehi sobhati.

“Hãy nhìn dung mạo, trang sức này;

 với các châu báu, với vòng tai.

Một bộ xương được  da bao phủ;

được y phục làm cho sáng chói”.

771- Alattakakatā pādā; mukhaṃ cuṇṇakamakkhitaṃ.

Alaṃ bālassa mohāya; no ca pāragavesino.

Chân được sơn với son, với sáp;

mặt được thoa với phấn với bột.

Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu;

Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác”.

772- Aṭṭhapadakatā kesā; nettā añjanamakkhitā.

Alaṃ bālassa mohāya; no ca pāragavesino.

Tóc được uốn tám vòn, tám lớp;

 mắt được xoa với thuốc, với son.

Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu;

nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác”.

773- Añjanīva navā cittā; pūtikāyo alaṅkato.

Alaṃ bālassa mohāya; no ca pāragavesino.

Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ;

Là uế thân được điểm thời trang.

Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu;

nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác”.

774- Odahi migavo pāsaṃ; nāsadā vāguraṃ migo.

Bhutvā nivāpaṃ gacchāma; kandante migabandhake.

“Người thợ săn đặt bày lưới rập;

loài nai( khôn) chẳng chạm bén chân.

Ăn lúa xong chúng ta lại lên đường;

 mặc cho kẻ bắt nai than khóc” (HṬ TMC d)([108]).

Trong tập Kệ ngôn Trưởng lão Tăng (Theragāthā) có ghi nhận thêm câu kệ ngôn:

775- Chinno pāso migavassa; nāsadā vāguraṃ migo.

Bhutvā nivāpaṃ gacchāma; socante migaluddake.

Bẫy thợ săn bị cắt; nai khôn không chạm lưới.

Ăn mồi xong, ta đi; mặc kẻ săn nai sầu” (HT. TMC d)([109]).

Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla theo đường hư không đi đến vườn Migācīra của vua Koravya, ngồi nghỉ trưa nơi cội cây cổ thụ.

Ngày hôm ấy vua Koravya bảo người thợ săn rằng:

– Này người thợ săn, hãy dọn dẹp vườn nai, ta muốn viếng thăm cảnh đẹp vườn nai.

– Vâng, thưa Đại vương.

Người thợ săn đi vào vườn nai dọn dẹp, nhìn thấy Tôn giả Raṭṭhapāla đang ngồi nghỉ trưa nơi cội cây cổ thụ. Sau khi dọn dẹp vườn nai, người thợ săn trở về báo cho vua Koravya rằng:

– Thưa Đại vương, vườn nai dọn dẹp xong. Nơi vườn nai có Raṭṭhapāla là con nhà thượng tộc ở thành phố Thullakoṭṭhita mà Đại vương thường tán thán, vị ấy đang ngồi nghỉ trưa nơi cội cây cổ thụ.

– Này người thợ săn, hôm nay thế là vừa đủ về vườn cảnh Migācīra. Nay chúng ta muốn cung kỉnh cúng dường đến Tôn giả Raṭṭhapāla.

Vua Koravya ngự lên cổ xe tốt đẹp nhất, cùng các cổ xe xinh đẹp đi đến vườn Migācīra.

Đến nơi xe không thể đi được, vua Koravya cùng với các tùy tùng xuống xe đi bộ đến nơi ngồi nghỉ của Tôn giả Raṭṭhapāla, sau khi nói lên những lời chào hỏi thân hữu, vua Koravya đứng sang một bên hỏi rằng:

– Xin thỉnh Tôn giả Raṭṭhapāla hãy ngồi trên chiếc nệm voi này.

–  Thôi vừa rồi, này Đại vương. Đại vương hãy ngồi, tội đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.

Vua Koravya ngồi vào chỗ ngồi vừa được soạn sẵn cho mình, bạch hỏi Tôn giả Raṭṭhapāla rằng:

– Thưa Tôn giả Raṭtṭhapāla, có bốn sự suy vong. Do thành tựu bốn sự suy vong này, một số người cạo bỏ râu tóc, xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình. Thế nào là bốn? Lão suy vong, bịnh suy vong, tài suy vong và thân tộc suy vong …([110])

Nhưng Tôn giả Raṭṭhapāla đang còn trẻ, trong thời niên thiếu, tóc còn đen nhánh, không gặp phải thời lão suy vong. Chẵng hay Tôn giả Raṭṭthapāla đã biết gì, đã thấy gì, đã nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla xuất gia từ bỏ gia đình sống đời sống không gia đình?

Tôn giả Raṭṭhapāla đang trong thời ít bịnh, ít bị khổ vì bịnh, không gặp phải thời bịnh suy vong. Chẵng hay Tôn giả Raṭṭthapāla đã biết gì, đã thấy gì, đã nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla xuất gia từ bỏ gia đình sống đời sống không gia đình?

Chính tại thành phố Thullakoṭṭhita này, Tôn giả là con duy nhất của một thượng tộc, Tôn giả Raṭṭhapāla không gặp phải thời tài suy vong. Chẵng hay Tôn giả Raṭṭthapāla đã biết gì, đã thấy gì, đã nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla xuất gia từ bỏ gia đình sống đời sống không gia đình?

Chính tại thành phố Thullakoṭṭhita này, Tôn giả  Raṭṭhapāla có rất nhiền thân tộc cùng huyết thống, có rất nhiều thân hữu, Tôn giả Raṭṭhapāla không gặp phải thời thân tộc suy vong. Chẳng hay Tôn giả Raṭṭthapāla đã biết gì, đã thấy gì, đã nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla xuất gia từ bỏ gia đình sống đời sống không gia đình?

– Thưa Đại vương, có sự thuyết giáo của Đức Thế Tôn, bậc Alahán Chánh đẳng giác. Do tôi biết được thấy được, nghe được sự thuyết giáo ấy nên tôi xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình. Thế nào là bốn?

Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt (upanīyati loko addhuvo’ti) .

– Thế giới là vô hộ vô chủ (attāṇo loko anabhissaro’ti).

Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả (assako loko sabbaṃ pahāya gamanīyan’ti).

– Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái (ūṇo loko atitto taṇhādāso’ti).

Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla giải thích bốn điều này đến vua Koravya, khiến vua Koravya hoan hỷ thán phục([111]).

Sau khi giải thích xong ý nghĩa bốn điều trên, Tôn giả Raṭṭhapāla lại nói lên những kệ ngôn sau:

776- Passāmi loke sadhane manusse; laddhāna vittaṃ na dadanti mohā.

Luddhā dhanaṃ sannicayaṃ karonti; bhiyyova kāme abhipatthayanti.

“Ta thấy  người giàu sang ở đời;

Có của vì si không bố thí.

Vì tham, chúng tích tụ tài vật;

Và chạy theo dục vọng càng nhiều”.

777- Rājā pasayhappathaviṃ vijetvā; sasāgarantaṃ mahimāvasanto.

Oraṃ samuddassa atittarūpo; pāraṃ samuddassapi patthayetha.

“Dùng bạo lực chinh phục quả đất;

vua trị vì cho đến hải biên.

Không thỏa mãn bờ biển bên này;

Và chạy theo bờ biển bên kia”.

778- Rājā ca aññe ca bahū manussā; avītataṇhā maraṇaṃ upenti.

Ūnāva hutvāna jahanti dehaṃ; kāmehi lokamhi na hatthi titti.

“Vua cùng rất nhiều loại người khác;

Ái chia ly, mạng chung đã đến.

Bị thiếu thốn, không bỏ thân chúng;

Không thỏa mãn lòng dục ở đời”.

779- Kandanti naṃ ñātī pakiriya kese; aho vatā no amarāti cāhu.

Vatthena naṃ pārutaṃ nīharitvā; citaṃ samodhāya tato ḍahanti.

“Quyến thuộc tóc loạn, khóc than nó;

“than ôi, nó không được bất tử”.

Mang thân nó, với vải bao phủ;

Chúng đốt lửa làm lễ hỏa thiêu”.

780- So ḍayhati sūlehi tujjamāno; ekena vatthena pahāya bhoge.

Na mīyamānassa bhavanti tāṇā, ñātī ca mittā atha vā sahāyā.

“Bị đâm thọc với cây, nó cháy;

độc mảnh vải, bỏ tiền của lại.

Ở đây, quyến thuộc cùng với thân hữu.

Không nơi nương tựa cho kẻ chết”.

781- Dāyādakā tassa dhanaṃ haranti; satto pana gacchati yena kammaṃ.

Na mīyamānaṃ dhanamanveti kiñci; puttā ca dārā ca dhanañca raṭṭhaṃ.

“Kẻ thừa tự mang tài sản của nó;

Riêng con người, theo nghiệp phải đi.

Tiền của đâu có theo người chết;

Cả vợ con, tài sản, quốc độ”.

782- Na dīghamāyuṃ labhate dhanena; na cāpi vittena jaraṃ vihanti.

Appappaṃ hidaṃ jīvitamāhu dhīrā; asassataṃ vippariṇāmadhammaṃ.

“Tài sản không mua được trường thọ;

Phú quý không tránh được già suy.

Kẻ trí nói đời này thật ngắn;

thật vô thường, biến đổi luôn luôn”.

783- Aḍḍhā daliddā ca phusanti phassaṃ; bālo ca dhīro ca tatheva phuṭṭho.

Bālo hi bālyā vadhitova seti; dhīro ca no vedhati phassaphuṭṭho.

“Kẻ nghèo giàu đều cảm xúc([112]);

người ngu, kẻ trí đồng cảm thọ.

Kẻ ngu bị ngu đánh nằm ngủ;

bậc trí cảm xúc không run sợ”.

784- Tasmā hi paññāva dhanena seyyā, yāya vosānamidhādhigacchati;

Abyositattā hi bhavābhavesu, pāpāni kammāni karoti mohā.

“Do vậy, trí tuệ thắng tài vật;

nhờ trí, ở đây được viên thành.

Không thành mãn trong hữu, phi hữu;

kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp”.

785- Upeti gabbhañca parañca lokaṃ; saṃsāramāpajja paramparāya.

Tassappapañño abhisaddahanto; upeti gabbhañca parañca lokaṃ.

“Nhập thai thác sinh thế giới khác;

Nó nhập luân hồi, tiếp tục sinh.

Kẻ thiểu trí có lòng tin no;

nhập thai và sinh thế giới khác”.

786- Coro yathā sandhimukhe gahīto; sakammunā haññati pāpadhammo.

Evaṃ pajā pecca paramhi loke; sakammunā haññati pāpadhammo.

“Như kẻ trộm bi bắt khi trộm;

ác tính hại nó, do tự nghiệp.

Chúng sinh cũng vậy, chết đời khác;

Ác tính hại nó, do tự lực”.

787- Kāmā hi citrā madhurā manoramā; virūparūpena mathenti cittaṃ.

Ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvā; tasmā ahaṃ pabbajitomhi rāja.

“Dục vọng nhiều loại, ngọt, khả ái;

nhiễu loạn tâm dưới nhiều hình thức.

Thấy hoạn nạn trong dục tăng trưởng;

Nên ta xuất gia, thưa Đại vương”.

788- Dumapphalānīva patanti māṇavā, daharā ca vuḍḍhā ca sarīrabhedā;

Etampi disvā pabbajitomhi rāja, apaṇṇakaṃ sāmaññameva seyyo.

“Như quả từ đây, người bị rụng;

cả già lẫn trẻ, khi thân hoại.

Do thấy chính vậy, ta xuất gia;

hạnh Samôn phải là tối thắng”.

Thưa Đại vương (HT. TMC d)([113]).

Trọng tập Kệ ngôn Trưởng lão Tăng còn ghi nhận thêm 5 kệ ngôn của Ngài Raṭṭhapāla, như sau:

789- Saddhāyāhaṃ pabbajito; upeto jinasāsane.

Avajjhā mayhaṃ pabbajjā; anaṇo bhuñjāmi bhojanaṃ.

“Tín tâm tôi xuất gia; vào Giáo hội bậc Thắng.

Tôi xuất gia không tội; không nợ, tôi thọ thực.

790- Kāme ādittato disvā; jātarūpāni satthato.

Gabbhavokkantito dukkhaṃ; nirayesu mahabbhayaṃ.

“Thấy dục như lửa hừng; thấy vàng như dao đâm.

Xem nhập thai là khổ; họa lớn trong địa ngục”.

791- Etamādīnavaṃ ñatvā; saṃvegaṃ alabhiṃ tadā.

Sohaṃ viddho tadā santo; sampatto āsavakkhayaṃ.

“Khi thấy nguy hiểm như vậy; Ta cảm thấy hoảng sơ.

Khi bị đâm, bị thương; Ta đạt được tịch tịnh.

Và ta tận diệt được; (cả ba) loại lậu hoặc”.

792- Pariciṇṇo mayā satthā; kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Ohito garuko bhāro; bhavanetti samūhatā.

“Đạo sư, Ta hầu hạ; lời Phật dạy lảm xong.

Gánh nặng đặt xuống thấp; gốc sinh hữu, nhổ sạch”.

793- Yassatthāya pabbajito; agārasmānagāriyaṃ.

So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo’’ti.

“Vì đích gì xuất gia; bỏ nhà, sống không nhà.

Mục đích ấy, Ta đạt; mọi kiết sử lậu diệt” (HT.TMC d)([114]).

Kinh Raṭṭhapāla là vì dụ điển hình cho các kinh khởi đầu bằng sắc nghiệp xứ (rūpakammaṭṭhāna) đến thọ nghiệp xứ (vedanākammaṭṭhāna), rồi đến vô sắc nghiệp xứ (arūpakammaṭṭhāna)([115]).

Sau đó Trưởng lão Raṭṭhapāla trở lại kinh thành Sāvatthi (Xávệ), sống nương tựa vào Bậc Đạo sư.

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) nói rằng: “Các Trưởng lão người Ấn (parasamudddavāsītherānaṃ) nói rằng: “Ngài Raṭṭhapāla đứng lên thuyết những kệ ngôn này”.

Vào thời thích hợp, giữa hàng tứ chúng Đức Thế Tôn ban cho Trưởng lão Raṭṭhapāla địa vị: “Đệ nhất về xuất gia vì niềm tin”.

Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ saddhāpabbajitānaṃ yadidaṃ raṭṭhapālo:

“Này các Tỳkhưu, trong các Tỳkhưu đệ tử Như Lai, tối thắng xuất gia vì niềm tin là Raṭṭhapāla”([116]).

Sau khi xuất gia được 12 năm thì Ngài Raṭṭhapāla viên tịch([117]), suốt 12 năm, Ngài Raṭṭhapāla không nằm trên giường([118]).

Tiền sự.

Ngoài ước nguyện ban đầu được nguyện dưới chân Đức PhậtPadumuttara như đã trình bày ở trên. Trải qua 100 ngàn kiếp trái đất, hậu thân Thiện vương Sakka ấy (tiền thân Ngài Raṭṭhapāla) không hề biết đến 4 khổ cảnh.

Vào 92 kiếp trái đất trước, Đức Phật Phussa hiển lộ trong thế gian, cha của Bồtát Mphussa là Đức vua Mahinda.

Đức Thế Tôn Phussa có ba người em cùng cha khác mẹ. Đức vua Mahinda độc quyền cúng dường đến Đức Phật Phussa và Tăng chúng, Đức vua không cho bất kỳ ai được cúng dường đến Đức Phật Tăng chúng.

Khi biên cương có loạn, ba vị Hoàng tử được cử đi dẹp loại và thắng trận ca khúc khải hoàn trở về, Đức vua Mahinda hài lòng hứa ban thưởng cho ba vị Tử hòang một đặc ân. Ba vị Tử hoàng xin được cúng dường đến Đức Phật và chư Tăng trọn ba tháng, ban đầu Đức vua từ chối điều mong cầu này, nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận: “Mỗi người được cúng dường đến Đức Phật và chư Tăng một tháng”.

Trước khi chấp thuận  điều thỉnh cầu này, Đức vua Mahinda còn cảnh báo ba vị Tử hoàng rằng:

– Ta thuận theo lời thỉnh cầu của các con, nhưng ta cảnh báo các con rằng: “Đức Thế Tôn vốn có nếp sống an tịnh như sư tử vương sống trong hang của mình”, các con phải phục vụ Ngài cùng Tăng chúng một cách chu đáo.

– Vâng , thưa Vương phụ.

Ba vị Tử hoàng bàn luận cùng nhau rằng:

– Chúng ta được hưởng đại ân lớn là: “Được cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng trọn ba tháng”. Vậy chúng ta hãy xuất gia theo hầu Đức Thế Tôn, chúng ta sẽ giao hết tài sản  này đến ba vị quản gia chăm sóc việc cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng.

Trong số ba vị Quản gia được giao trọng trách này, hộ người có phận sự tìm lương thực, một người có phận sự tìm những vật dụng linh tinh, một người có phận sự biến chế những vật thực thô thành vật thục cúng dường đến Đức Phật Phussa và Tăng chúng.

Hậu thân ba người quản gia ấy, vào thời Đức Phật Gotama, một vị là Đức vua Bimbisāra, một vị là Trưởng giả Visākha còn một vị là Ngài Raṭṭhapāla. Còn ba vị Tử hoàng nay là Ngài Uruvelā Kassapa, Ngài Nandī Kassapa và NgàiGayā Kassapa.

*Vua Koravya.

Koravya còn được viết là Korabya hay Korabba.

Có thể đó là tên vị vua trị vì Quốc độ Kuru thuở xưa, như trong Jātaka (Bổn sự), vua Koravya trị vì kinh thành Indapatta là cha của Thái tử Sutasoma([119]), ở nơi khác Koravya là danh hiệu của vua Dhanañjaya trị vì quốc độ Kuru([120]). Koravya còn có thể là một tính từ như thấy trong Kururaṭṭhavāsika (những  người trú nơi quốc độ Kuru)([121]).

Vua Koravya có tộc họ là Yudhiṭṭhila([122]), có thể tất cả vua xứ Kuru là hậu duệ của tộc họ Yudhiṭṭhila([123]).

Trong Aṅguttara nikāya (Tăng chi bộ kinh) có đề cập: “Vua Koravya có cây cổ thụ lớn tên gọi là Suppatiṭṭtha.


([1])–  JA. i. 60; DhA. i. 70.

([2])– Chữ ukkādhāro nghĩa đen là: “Cầm ngọn đuốc”, ám chỉ bậc dẫn đường.

([3])– Sn. 58. Rāhulasuttaṃ (Kinh Rāhula).

([4])– SnA. i. 340; MA. ii. 532, 635.

([5])– DA.iii. 736.

([6])– MA.ii. 635; AA.i. 145; AA.ii. 547.

([7])– MA. ii. 635; AA. i. 145; AA. ii. 547.

([8])– M.ii. Kinh số 61. Ambalaṭṭhikā Rāhulovādasuttaṃ.

([9])– Xem Mookerji: Asoka, p. 119.

([10])_ MA. ii. 635.

([11])–  Khp.2.

([12])– KhpA. 76; ThagA. i. 479. Xem thêm Thag. v. 485; Ap. i. 64.

([13])– A.v. 54.

([14])– MA.ii. 636.

([15])– Xem M.i. 48; M.i. 261.

([16])– Dhp. Câu số 277.

([17])– Dhp. Câu số 279.

([18])– S.iv. 207. Daṭṭhabbasuttaṃ.

([19])– Dhp. Câu số 278.

([20])– A.v. 52.

([21])– A.v. 56.

([22])– Dhp. Câu số 374.

([23])– S.iv. 174.

([24])– Dhp. Câu số 170.

([25])– A.v. 53.

([26])– D.ii. 253; A.iv. 39.

([27])– A.v. 57.

([28])– A.iv. 157.

([29])– Vin. i. 197; DA. i. 173; MA. i. 316 …

([30])– JA. iv. 310.

([31])– Xem A.v. 54.

([32])– MA. ii. 1028.

([33])– M.iii. 298.

([34])– Miḷ p. 10.

([35])– JA. Chuyện số 42.

([36])– JA. Chuyện số 488.

([37])– Beal: Bud. Records, ii. 193 ; xem thêm Cunningham, A.G.I. 713.

([38])– Dv. P. 21.

([39])– AA.i. 145.

([40])– MA. ii.635.

([41])– SA. ii. 159

([42])– S.ii. 244.

([43])– S.ii. 245.

([44])– A.ii. 164.

([45])– AA. ii. 547.

([46])– S.iii. 135 – 136.

([47])– S.ii. 235.

([48])– AA. ii. 547.

([49])– S.iii. 136.

([50])– S.iv. 105.

([51])-DhpA. i. 124; MA. i. 537; Mil. 410 nói rằng Tôn giả Sāriputta nói vậy; SnA. i. 202 nói rộng và nhiều hơn.

([52])– Thag.  vs. 295

([53])– ĐĐ Indacanda (d). Luật Phân tích Giới Tỳkhưu II. Chương Pācittiya (Ưngđốitrị). Phần nói dối. Điều học thứ 5 (289 – 290).

([54])– JA. Chuyện số 16.

([55])–  JA. Chuyệ số 319.

([56])– DhpA.  iv. 164 .

([57])– JA. Chuyện số 281. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp (tập 6).

([58])– ThagA. ii. 188 ; JA. v. 126.

([59])– M.ii. Kinh số 62. Mahārāhulovādasuttaṃ (Đại kinh Giáo giới Rāhula).

([60])–  Mil. 385, 388; xem Mil. Trs. ii. 312, n. 1.

([61])– SnA. i. 340.

([62])– Có 11 pháp làm sinh khởi và nuôi dưỡng tinh tấn. Xem  Tỳkhưu Chánh  Minh (biên soạn). Đường vào Thắng pháp . Tấn giác chi.

([63])– Có 4 pháp. Xem  Niệm giác chi (sđd).

([64])– M.iii. Kinh số 147.

([65])– SA. iii. 26.

([66])– Mhv. xxxi. 81, 83.

([67])– BuA. Gotamabuddhavaṃsa (Lịch sử Đức Phật Gotama).

([68])–   AA. ii. 547.

([69])– Xem Mhv. xxx 83.

([70])– UdA ,324; MA. i. 320; cùng Mil. 20

([71])– Thag. 295-298. Rāhulattheragāthā (Kệ ngôn Trưởng lão Rāhula).

([72])– DhpA. Kệ ngôn số 351-352.

([73])– Xem ĐĐ Indacanda (d). Luật Đại phẩm I. Chương Trọng yếu. Số 111.

([74])– A.i. 24.

([75])- DA. ii. 549; SA. iii. 172.

([76])– Beal: Records of the Western Word, i. 180, 181.

([77])– SnA. i. 341. Xem thêm ThagA. ii. 30 về Ngài Raṭṭhapāla, nhưng ở đây không có đề cặp đến Ngài Rāhula.

([78])– Ap.i. 60.

([79])– Dhp. Câu số 212.

([80])– JA. Chuyện số 354.

([81])– JA. Chuyện số 250.

([82])– JA. Chuyện số 173.

([83])– JA. Chuyện số 9

([84])– JA. Chuyện số 529.

([85])- JA. Chuyện số 408. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 11).

([86])– JA. Chuyện số 542. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 7).

([87])– JA. Chuyện số 525. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 7).

([88])– JA. Chuyện số 172. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 6).

([89])– JA. Chuyện số 201. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 11).

([90])– JA. Chuyện số 539. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 7).

([91])– D.ii. Mahāsudassnasuttaṃ (Kinh Đại Thiện Kiến).

([92])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 8).

([93])– Xem Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 12).

([94])- JA. Chuyện số 188. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 8).

([95])– JA. Chuyện số 497. Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 7)

([96])– JA. Chuyện số 486.

([97])– JA. Chuyện số 444.

([98])– Cp. p. 99.

([99])– Ap.ii. 551.

([100])– M. ii. 54; ThagA. ii. 30; AA. i. 144.

([101])– MA. ii. 722 .

([102])– ĐĐ Indacanda (d). Luật Phân tích GiớiTỳkhưuI. số 50.

([103])– JA. vi, 256.

([104])– ThagA. ī. 34.

([105])– Sp. i. 208; MA. ii. 726.

([106])– ThagA. ii. 34.

([107])– Kệ ngôn này cũng được tìm thấy trong Dhp. Câu số 117. Đề cập đến nàng Sirimā.

([108])– M.ii. Kinh Raṭṭhapāla; Thag. Kệ ngôn Trưởng lão Raṭṭhapāla, câu số 769 – 774.

([109])– Thag. Câu số 775.

([110])– Bốn điều này được gọi là Cattāro dhammuddesā (Bốn pháp tóm gọn) (MA.i. 361).

([111])– Xem M.ii. Kinh Raṭṭhapāla.

([112])– Phusanti phassaṃ. Nghĩa bóng là chỉ cho “sự chết”.

([113])– M.ii. Kinh Raṭṭhapāla; Thag. Kệ ngôn Trưởng lão Raṭṭhapāla, câu số 776 – 788.

([114])– Thag. Kệ ngôn Trưởng lão Raṭṭhapāla, câu 789 – 793.

([115])– VibhA. 267; MA. i. 225. Không rõ nghĩa như thế nào;  kinh không có đề cập đến kammaṭṭhāna (nghiệp xứ); hình như không có kinh nào như vậy cả.

([116])– A.i. 24.

([117])– DA. Iii. 236.

([118])

([119])– JA. v. 457.

([120])–  JA. ii. 368; JA. iii. 400, 402; JA. v. 59, 61, 65; JA. vi. 256, 268, 273.

([121])– JA. vi. 273.

([122])–  Xem JA. iv. 361.

([123])– JA. īi. 400; JA.iv. 361.

trang trướctrang sau

Advertisements