Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (12) – Hai vị Trưởng lão (Trưởng lão Anuruddha)

B- Trưởng lão Anuruddha (ANaLuật).

1-  Cuộc sống vương giả.

Ngài Anuruddha (ANaLuật) là em trai của Vương tử Mahānāma, con của Vương tử Amitodana (em của Đức vua Suddhodana) (có sách ghi nhận Ngài Mahānāma và Anuruddha là con của Vương tử Sukkodana), thuộc dòng Sākya (ThíchCa).

Trong Kinh điển Mahāyāna (Đại thừa), tên của Anuruddha là Aniruddha. Sách Mahāvastu (Đại sử) ghi nhận Vương tử Anuruddha là con của Vương tử Dronodana (Dhotodana)([1]).

Kinh Lalitavistara (Phổ Diệu)  ghi rằng Anuruddha thừa hưởng trang sức của Bồtát Siddhattha (SĩĐạtTa) khi Bồtát Siddhattha lìa bỏ kinh thành Kapilavatthu (Catỳlavệ) ra đi xuất gia, Ngài bảo người hầu Channa (XaNặc) mang Vương phục cùng trang sức trở về kinh thành Kapilavatthu, số trang sức này vua Suddhodana (Tịnh Phạn) ban cho Vương tử Anuruddha.

Vương tử Anuruddha người mảnh mai, có ba lâu đài cho ba mùa: Mùa lạnh, mùa khô và mùa mưa. Trong bốn tháng ở trong tòa lâu đài dành cho mùa mưa, vị ấy luôn được vây quanh bởi các nữ công tấu nhạc không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài ([2]), do kiếp trước là vua Trời Sakka (ĐếThích) nên trong kiếp là người nhân loại này, Ngài Anuruddha rất thích múa hát, như lời tự nhận của Ngài khi ôn lại cuộc đời mình.

893- Sameto naccagītehi; sammatāḷappabodhano.

Na tena suddhimajjhagaṃ; mārassa visaye rato.

“Sống hệ lụy múa ca; dạy với tiếng xập xỏa.

Sống vậy không đạt được; cảnh giới đạo thanh tịnh.

Vì rằng Ta ưa thích; trong giới vức của ma” (HT. TMC d)([3]).

Khi Đức Thế Tôn trở lại kinh thành Kapilavatthu (CaTỳLaVệ) lần đầu tiên để tế độ thân tộc dòng Sākya (ThíchCa) sau 7 năm xa vắng.

Trong lần ấy Đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn) có nhắc lại lời giao ước khi xưa với các gia tộc dòng ThíchCa. Vào ngày lễ đặt tên cho Bồtát Siddhattha (SĩĐạtTa), khi nghe tám vị Bàlamôn tiên đoán: “Thái tử khi sống đời tại gia sẽ là vị vua Chuyển Luân, nếu Ngài xuất gia sẽ là bậc Chánh giác”. Tất cả gia tộc dòng ThíchCa có giao ước rằng: “Nếu Thái tử sống đời tại gia trở thành vua Chuyển Luân, mỗi gia tộc chúng ta sẽ cho một nam tử theo hầu Ngài. Nếu Thái tử xuất gia, mỗi gia tộc chúng ta sẽ cho một nam tử xuất gia theo hầu Ngài”.

Gia tộc dòng Sākya (ThíchCa) bên nội lẫn bên ngoại mỗi gia tộc đều cử ra một người nam xuất gia để theo hầu Đức Thế Tôn, có đến 80 ngàn nam tử dòng Sākya đã xuất gia trong Tăng đoàn của Đức Thế Tôn.

Có sáu gia tộc chưa cử người xuất gia theo hầu Đức Thế Tôn, đó là: Gia tộc Đức vua Bhaddiya, gia tộc vương tử Mahānāma, gia tộc vương tử Ānanda, gia tộc vương tử Bhagu, gia tộc vương tử Kimbila và gia tộc Vương tử Devadatta (ĐềBàĐạtĐa).

Trong một cuộc hội nghị của Hội đồnbg bộ Tộc Sākya, vấn đề này được đưa ra rằng:

– Tất cả 80 ngàn gia tộc dòng Sākya đã có người xuất gia theo hầu Đức Thế Tôn, sáu gia tộc này không phải là dòng Thích tử sao? Không phải là thân tộc của chúng ta sao? Chẳng lẽ họ là người xa lạ, không phải là thân quyến của chúng ta? Vì sao chưa có người xuất gia theo hầu Đức Thế Tôn?

Khi ấy, Vương tử Manānāma dòng Sākya đã khởi ý rằng: “Hiện nay nhiều vương tử rất danh tiếng thuộc dòng dõi Sākya đã xuất gia noi theo gương đức Thế Tôn (là người) đã xuất gia. Còn gia tộc của chúng ta thì không có người nào rời nhà xuất gia sống không nhà cả. Có lẽ hoặc là ta hoặc là Anuruddha nên xuất gia?”.

Sau đó, Mahānāma dòng Sākya đã đi đến gặp Anuruddha dòng Sākya, sau khi đến đã nói với Anuruddha dòng Sākya điều này:

– Này Anuruddha yêu dấu, hiện nay nhiều vương tử rất danh tiếng thuộc dòng dõi Sākya đã xuất gia noi theo gương đức Thế Tôn (là người) đã xuất gia. Còn gia tộc của chúng ta thì không có người nào rời nhà xuất gia sống không nhà cả. Chính vì điều ấy, hoặc là em hoặc là anh nên xuất gia.

– Em thì mảnh mai, em không thể rời nhà xuất gia sống không nhà. Anh hãy xuất gia đi.

– Anuruddha yêu dấu, vậy hãy đến, anh sẽ chỉ dạy công việc gia đình cho em.

– Naày anh Mahānāma, em phải làm những việc gì?

– Này em Anuruddha yêu dấu, trước tiên em phải học tập công việc đồng áng là:

*Phải cày xới đất khi bắt đầu những cơn mưa.

*Gieo hạt cho đúng thời vụ.

*Sau khi gieo hạt, phải cho nước vào ruộng thích hợp.

*Phải tháo nước từ ruộng ra khi thấy thích hợp.

*Phải nhổ bỏ những cỏ dạy làm hại hoa màu.

*Khi lúa chín phải gặt hái kịp thời.

*Lúa gặt hái được chất thành đống.

*Sau khi chất thành đống, cần cho đập giũ.

*Sau khi cho đập giũ rồi cần cho tách rơm ra.

*Sau khi cho tách rơm ra cần cho tách trấu ra; sau khi cho tách trấu ra, cần cho sàng sảy; sau khi cho sàng sảy rồi cần cho đem cất vào kho; sau khi cho đem cất vào kho rồi vào mùa tới cũng cần được làm y như thế.

Vào mùa tới nữa cũng cần được làm y như thế.

– Thế các công việc không được ngưng lại hay sao? Sự chấm dứt của các công việc không được biết đến hay sao? Khi nào các công việc sẽ được ngưng lại? Khi nào sự chấm dứt các công việc sẽ được biết đến? Khi nào chúng ta mới được rảnh rỗi mà hưởng thụ năm phần dục lạc đã được ban cho và cung ứng?

– Này Anuruddha yêu dấu, công việc không được ngưng lại, sự chấm dứt của các công việc không được biết đến. Khi công việc vẫn chưa ngưng lại khi cha mẹ đã qua đời.

– Như vậy thì chính anh hãy biết lấy công việc gia đình. Em sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà ([4]).

Được biết Vương tử Anuruddha từ nhỏ cho đến khi trưởng thành luôn sống trong nhung lụa, an hưởng đời sống vương giả, chưa từng biết đến tiếng không có.

Thông thường, các vương tử không đi đến nơi nấu ăn, cũng như không đụng chạm đến công việc bếp núc.

Một hôm giữa ba vị vương tử, một câu hỏi sau đây được khởi lên:

“Vật thực chúng ta dùng từ đâu có?”.

Vương tử Kimbila trả lời:

– Vật thực từ nhà kho mang lại.

Vì Vương tử Kimbila thường xuyên thấy người ta vào kho lấy lúa đem  đi,  tách vỏ trấu ra để trở thành gạo, rồi chế biến thành vật thực để dùng hằng ngày.

Vương tử Bhaddiya lại đáp rằng:

– Vật thực có từ trong nồi.

Vì Vương tử Bhaddiya thấy người ta múc vật thực từ trong nồi ra.

Vương tử Anuruddha trả lời rằng:

– Vật thực có từ trong mâm vàng chén ngọc.

Vì Vương tử Anuruddha chỉ thấy vật thực có trong mâm vàng chén ngọc được dọn sẵn từ trước.

Thật ra, chính ba Vương tử này không biết vật thực do đâu mà hình thành.

*Không biết đến tiếng “không có”. 

Lại nữa, có lần 6 vị Vương tử nói trên cùng nhau chơi đánh cầu (vulalīta), người nào thua phải đãi bánh. Hôm ấy Vương tử Anuruddha thua liên tục nên người hầu phải về nhà xin bánh.

Rồi Vương tử Anuruddha lại thua, phải cho người về nhà xin bánh. Lần thứ tư người hầu lại về nhà xin bánh, mẹ Ngài không kịp làm bánh cho con, nên bảo người hầu rằng:

– Hãy thưa Vương tử rằng: “Bánh không có”.

Vương tử Anuruddha nói:

– Hãy mang bánh không có đến cho ta.

Người hầu về thưa lại với mẹ Ngài Anuruddha, bà suy nghĩ: “Con ta từ trước đến giờ chưa từng biết đến tiếng không có, vậy nhân cơ hội này ta sẽ làm cho nó hiểu ý nghĩa không có.

Bà dùng chiếc mâm vàng, úp bên trên là chiếc lồng vàng trống rỗng, nói với người hầu rằng:

– Hãy mang bánh không có này đến cho con ta.

Chưa từng biết đến tiếng không có , Vương tử Anuruddha ngỡ rằng: Đây là loại bánh có tên không có, muốn biết là đó là loại bánh nào, Vương tử đi đến mở lồng vàng ra xem. Chư thiên ngự nơi kinh thành Kapilavatthu (Catỳlavệ) kinh hoàng rằng: “Chúng ta từng biết tiền thân vị Vương tử này đã nhịn đói, cúng dường phần vật thực của mình đến Đức Phật Độc giác, có phát nguyện: “Xin cho tôi khi còn trôi lăn trong luân hồi, đừng biết đến tiếng không có, xin cho tôi đừng bận tâm đến vấn đề lương thực”. Chúng ta đã biết rõ ước nguyện này, nay để Vương tử thấy mâm trống không, chúng ta không thể đến tham dự Đại hội chư thiên được và có lẽ đầu chúng ta sẽ bị rạn nứt thành bảy mảnh”.

Chư thiên trong kinh thành Kapilavatthu mang bánh chư thiên đặt vào mâm vàng. Khi Vương tử Anuruddha mở lồng vàng ra, mùi thơm của bánh lan tỏa khắp kinh thành Kapilavatthu, Vương tử Anuruddha lấy một cái bánh cắn ăn thử, miếng bánh đi vào miệng lập tức tan ra, hương vị ngon ngọt lạ thường không sao tả được.

Vương tử suy nghĩ: “Có lẽ mẹ ta không thương yêu ta nhiều lắn, từ trước giớ mẹ ta chưa làm loại bánh tuyệt diệu này cho ta dùng. Kể từ nay ta không dùng loại bánh nào khác ngoài bánh không có này”.

Bỏ cuộc chơi đánh cầu, Vương tử Anuruddha đi về cung điện của mẹ, đi đến mẹ hỏi rằng:

– Thưa mẹ, mẹ có thương yêu con không?

– Này Anuruddha con thân yêu, mẹ yêu quý con như người chột mắt yêu quý con mắt sáng còn lại của mình, hay như người quý trọng trái tim của mình vậy.

– Thế sao từ trước đến giờ mẹ không làm bánh không có cho con ăn?

Ngạc nhiên, mẹ Ngài Anuruddha hỏi người hầu, người hầu thưa lại sự kiện mà ông đã chứng kiến.

Mẹ Ngài suy nghĩ: “Con ta quả là bậc đại phước, đại lộc, đã tạo nguhiệp lành rất lớn nên chư thiên phải mang bánh trời đến cúng dường như vậy”.

Vương tử Anuruddha nói với mẹ rằng:

– Thưa mẹ, kể từ nay con không dùng thứ bánh nào khác ngoài bánh không có. Mẹ hãy làm loại bánh ấy cho con ăn.

Trong suốt thời gian Vương tử Anuruddha sống đời sống tại gia, mỗi khi Ngài cần ăn bánh, mẹ Ngài chỉ cần lấy mâm vàng, úp bên trên lồng vàng mang đến Ngài Anuruddha bảo rằng: “Đây là bánh không có”. Lập tức chư thiên trong kinh thành Kapilavatthu mang bánh trời đặt vào mâm vàng.

*Tiền sự.

Ngay trong hiền kiếp này, sau khi Đức Thế Tôn Kassapa viên tịch, rồi sau đó  thế gian này vắng bóng Giáo pháp của Bậc Chánh giác.

Khi ấy, tiền thân Ngài Anuruddha tái sinh vào một gia tộc nghèo khổ trong thành Sārāṇasī, có tên là Annabhāra, là người cắt cỏ cho Trưởng giả Sumana. Trưởng giả Sumana là người có tâm hào phóng, thường bố thí đến những người nghèo khổ và thường tổ chức những cuộc đại thí trong thành Sārānasī.

Một hôm, Đức Phật Độc giác Upariṭṭha trú ngụ ở Gandhamadāna (Hương Sơn), Ngài an trú trong định diệt thọ tưởng 7 ngày. Sau khi xuất khỏi thiền diệt, Ngài đưa trí quán xét tìm người hữu duyên nên tế độ, hình ảnh người cắt cỏ Annabhāra lọt vào võng trí của Ngài.

Đức Phật Độc giác Upariṭṭha đấp y tề chỉnh tay cầm y bát theo đường hư không đi đến kinh thành Sārāṇasī, Ngài đứng bên vệ đường.

Người cắt cỏ Annabhāra cắt cỏ nơi bìa rừng rồi gánh về cho chủ. Trên đường về anh thấy vị Samôn đang ôm bát đứng bên vệ đường, người cắt cỏ đặt bó cỏ xuống, đi đến đảnh lễ vị Samôn, bạch hỏi rằng:

– Bạch Ngài, Ngài có được vật thực chi chăng?

– Này gia chủ, ta sẽ được vật thực thôi.

Hiểu rằng: “Ngài chưa có được vật thực”, người cắt cỏ thưa rằng:

– Bạch Ngài, xin Ngài hoan hỷ đợi con một lúc.

 Y bỏ bó cỏ nơi đó chạy nhanh về nhà hỏi vợ rằng:

– Này em, đã có vật thực cho anh chưa?

– Thưa anh, có rồi.

Người cắt cỏ chạy nhanh đến nơi Đức Phật Độc giác Upariṭṭha đứng, thỉnh bát của Ngài, mang về nhà, nói với vợ rằng:

– Này em, do chúng ta không tạo phước cúng dường vật thực trong quá khứ, nên hiện tại chúng ta phải sống vất vả phải đi tìm vật thực, Dù chúng ta muốn bố thí, cúng dường cũng không có gì để bố thí, cúng dường.

Hôm nay, hạnh phúc đã đến với chúng ta, anh được gặp vị Samôn thanh tịnh đáng kính. Em hãy đặt phần vật thực của anh vào bát này để cúng dường đến Ngài đi.

Người vợ là người có trí, suy nghĩ rằng:

– Chồng ta đã tạo phước lành lớn, ta cũng nhân dịp này tạo phước cho mình vậy.

Bà đặt phần vật thực của chồng luôn cả của mình vào bát để cúng dường đến Đức Phật Độc giác. Người cắt cỏ nhận bát vật thực liền đi nhanh đến Đức Phật Độc giác với tâm hân hoan rằng: “Hôm nay hạnh phúc đã phát sinh đến ta, khi ta muôn cúng dường thì không gặp các bậc Samôn, khi ta gặp các Ngài thì lại không có vật cúng dường. Nay hai điều này đều hiện khởi cho ta”.

Sau khi cúng dường vật thực đến Đức Phật Độc giác, người cắt cỏ  nói thêm rằng:

– Kính thỉnh Ngài hãy ngồi nơi này để thọ thực.

Người cắt cỏ làm sạch và bằng phẳng một nơi rồi trải tấm y choàng của mình làm tọa cụ, thỉnh Đức Phật ngồi trên tọa cụ thọ dụng vật thực.

Ngài thọ dụng vật thực với 9 quán tưởng là:

1’- Gamana. Đi khất thực.

2’- Pariyesana. Tìm vật thực.

3’- Paribhoga. Thọ dụng vật thực.

4’- Āsaya. Vật thực trở nên nhơ bẩn do hoà lẫn với ấy nước bọt, đàm, mật, nhớt ….

5’- Nidhāna. Trú nơi nhơ bẩn là dạ dày.

6’- Aparipakka. Vật thực chưa tiêu hóa.

7’- Paripakka.Vật thực được tiêu hóa.

8’- Phala và nissanda. Kết quả và sự đi ra khỏi thân của vật thực như: tiêu, tiểu.

9’- Makkhana. Đáng nhờm gớm.

(Nếu tách phala và nissanda ra riêng, thì có 10 pháp. Sự quán xét 9 hay 10 pháp thọ dụng vật thực này được ghi nhận trong Āhārapaṭikūla,  Visuddhimaga, Paramattha sarūpabhedanī).

Khi Đức Phật Upariṭṭha thọ thực xong rồi, người cắt cỏ dâng nước uống đến Ngài cùng với nước rữa tay và nước rữa bát.Rồi đảnh lễ dưới chân Đức Phật Độc giác Upariṭṭha với cách năm chi chạm đất, rồi ước nguyện rằng: “Do phước cúng dường vật thực đến Ngài, xin cho con đừng lâm vào cảnh nghèo khổ, đứng nghe biết đến tiếng KHÔNG CÓ trong những kiếp sau”.

Đức Phật Độc giác tùy hỷ phước rằng:

Icchitaṃ paṭṭhi tam tuyhaṃ, sabbaṃ eva samijjhatu.

Sabbe pūrentu saṅkappā, cando pannaraso yathā.

“Xin cho mọi ước nguyện của người mau thành tựu nhanh chóng.

Tất cả  tìm kiếm của người được đầy đủ, như trăng trong ngàyrằm”.

Sau khi chúc phúc đến người cắt cỏ, rồi Đức Phật đến một cội cây cổ thụ gần nơi đó để thiền tịnh.

Nàng thiên nữ trú ngụ nơi cây lọng trắng của Trưởng giả Sumana hoan hỷ tán thán ba lần rằng:

Ahodānaṃ paramadānaṃ, Upariṭṭhe supaṭṭhitaṃ.

“Ôi! bố thí thật tuyệt hảo, cúng dường đến Ngài Upariṭṭha”

Trưởng giả Sumana nghe tiếng tán thán của thiên nữ nên hỏi rằng:

– Này thiên nữ, có phải nàng không thấy ta thực hành đại thí từ trước đến nay hay sao? Hôm nay nàng mới biết những cuộc đại thí của ta, nên mới tán thán đó chăng?

– Này Trưởng giả, ta không tán thán thí sự của ông, ta tán thán sự cúng dường vật thực của người cắt cỏ Annabhāra đến bậc đáng cúng dường (là Đức Phật Độc giác Upariṭṭha) mà thôi.

Trưởng giả Sumana suy nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, dù ta thường xuyên bố thí trong thời gian dài, cũng không làm cho vị thiên nhân ngự trong nhà tán thán. Người cắt cỏ Annabhāra sống nương nhờ nơi ta, y chỉ cúng dường vật thực đến bậc đáng cúng dường có một lần lại khiến thiên nữ hoan hỷ tán thán. Vậy ta hãy khiến phước cúng dường của y trở thành phước của ta”.

Trưởng giả Sumana cho gọi người cắt cỏ Annabhāra đến, hỏi rằng:

– Này Annabhāra, hôm nay ngươi cúng dường vật thực đến ai vậy?

– Thưa chủ, hôm nay tôi cúng dường phần ăn dành riêng cho tôi đến vị Samôn. Nhận vật thực xong, vị ấy tùy hỷ phước rồi theo đường hư không đi mất.

– Này Annabhāra, ngươi hãy nhận số tiền này rồi trao phần phước ấy đến ta đi.

– Thưa chủ, không được đâu.

Cho dù Trưởng giả Sumana tăng số tiền lên một ngàn kahāpana (đồng vàng), người cắt cỏ cũng không nhận. Cuối cùng, Trưởng giả Sumana đành từ bỏ nỗ lực mua phước, nói rằng:

– Thôi được, nếu ngươi không chịu nhường phần phước ấy đến ta, vậy ngươi hãy nhận 1.000 kahāpanṇ rồi chia phước đến ta.

– Thưa chủ, việc này để tôi hỏi lại thầy tôi xem sao.

Người cắt cỏ Annabhāra đi đến Đức Phật Độc giác, sau khi đảnh lễ Ngài xong rồi, ngồi xuống một bên hỏi rằng:

– Thưa Ngài, khi tạo phước rồi chia phước đến người khác, phước ấy có bị tổn giảm không?

Đức Phật Upariṭṭha dạy rằng:

– Này thanh niên, sự chia phước đến người khác là điều tốt, phước sẽ tăng trưởng. Ngươi nên hiểu qua ví dụ sau: Ngươi có ngọn đèn đang cháy sáng, ngươi cho ngàn người khác mồi ánh lủa của ngươi sang ngọn đèn của họ, ngọn lửa của ngươi có vì thế mà bị hao hụt chăng?

– Thưa Ngài, không.

– Này thanh niên, trái lại trong căn phòng tối, có nhiều ngọn đèn cùng thấp sáng thì căn phòng càng sáng hơn. Do vậy, chia phước đến người khác, phước sẽ tăng trưởng, phước ấy không bị thối giảm.

– Lành thay, lành thay, bạch Ngài.

Sau khi đảnh lễ đảnh lễ Đức Phật Upariṭṭha, thanh niên Annabhāra ra về, đi đến trưởng giả Sumana nói rằng:

– Thưa chủ, tôi xin chia phần phước của tôi đến chủ bằng niềm tin, tôi không nhận số tiền 1.000 kahāpana này đâu.

– Lành thay, lành thay, này Annabhāra. Ngươi đã chia phước đến ta bằng niềm tin, ta cũng sẽ nhận phước ấy bằng niềm tin. Đây là số tiền 1.000 đồng vàng ta tặng cho ngươi, như ta tán thán sự trong sạch của ngươi vì tâm ngươi không có tham lam làm nhơ bẩn.

– Lành thay, lành thay, thưa chủ, nêu là như vậy thì tôi sẽ nhận để chủ được hài lòng.

Trưởng giả Sumana nói rằng:

– Này Annabhāna, kể từ nay ngươi khỏi phải làm lụng vất vả nữa. Ngươi hãy dựng căn nhà ở cạnh đây, khi ngươi thiếu những vật chi hãy đến ta mà lấy.

Rồi Trưởng giả Sumana đưa người cắt cỏ đến yết kiến Đức vua, khi đến Hoàng cung do phước hiển lộ khiến Đức vua  khi nhìn thấy Annabhāra liền chú ý đặc biệt đến anh. Trưởng giả Sumana thưa rằng:

– Thưa Đại vương, vì sao Đại vương lại nhìn chằm chằm vào người này?

– Này Trưởng giả, vì ta chưa nhìn thấy người này vào những lần trước, khi Trưởng giả đi vào Hoàng cung để yết kiến ta.

– Thưa Đại vương, người này có hành động đáng khâm phục.

– Này Trưởng giả, người này đã làm được việc gì?

– Thưa Đại vương, người này tuy nghèo khổ, nhưng đã từ chối ngàn đồng tiền vàng?

– Này Trưởng giả, hãy nói rõ ràng sự kiến ấy đi.

Trưởng giả Sumana thuật lại việc cúng dường cao thượng đến Đức Phật Độc giác Upariṭṭha đến Đức vua, nghe xong Đức vua hoan hỷ rằng:

– Thật kỳ diệu thay, anh ta có ngàn đồng vàng từ sự tán thán của ngươi, ta cũng tặng anh ta một ngàn đồng vàng để bày tỏ niềm tán thán của ta với việc làm của anh ta.

Sau khi ban thưởng cho Annabhāra một ngàn đồng vàng, Đức vua ban cho anh một khoảnh đất và cho kiến tạo một dinh thự để cho Annabhāra trú ngụ. Vuông đất được khai quang sạch sẽ, khi đào đất để xây dinh thự, họ đào thấy những chum vàng được xếp chồng lên nhau, quan quân báo lại cho Đức vua, Đức vua ra lịnh mang kho tàng về Hoàng cung, khi vừa chạm tay vào chum vàng, chum vàng rơi tụt xuống và cứ thế các chum vàng chìm sâu vào lòng đất. Quan quân trình lên Đức vua sự kiện kỳ diệu này, Đức vua suy nghĩ: “Đây là phước riêng của Annabhāra, không một ai có thể tước đoạt được”, Đức vua dạy rằng

– Hãy nói: “Chúng tôi làm theo lời của Annabhāra, mang kho tàng này về cho Annabhāra”.

Kho tàng được mang về sân Hoàng cung, chất thành đống cao, người đứng bên này không nhìn thấy người đứng bên kia.

Đức vua cho triệu tập các vị Đại thần đến Hoàng cung, hỏi rằng:

– Người có đại tài sản như thế này, ta phải làm sao?

– Thưa Đại vương, hãy phong cho người ấy tước vị Đại Trưởng giả (Mahā dhanasetthi) và lưu dụng người ấy nơi Hoàng cung này.

Và ngay trong ngày hôm ấy, Annabhāra trở thành Đại trưởng giả trong thành Bārāṇasī (Balanại), có chiếc lọng trắng 8 tầng che bên trên, đó là biểu tượng tước vị Đại trưởng giả.

Cúng dường đến bậc Thánh vừa xuất khỏi Thiền diệt thọ tưởng định, có quả phát sinh trong vòng 7 ngày là thế đó.

Thanh niên Annabhāra kết bạn với Trưởng giả Sumana, cùng nhau tạo thiện sự, do lời ước nguyện nên Annabhāra không hề thiếu vật thực([5]).

Trong tập Kệ ngôn Trưởng lão Tăng, Ngài Anuruddha có nói lên sự kiện này qua kệ ngôn:

910- Annabhāro pure āsiṃ; daliddo ghāsahārako.

Samaṇaṃ paṭipādesiṃ; upariṭṭhaṃ yasassinaṃ.

“Đời trước là Annabhāra; nghèo khổ tự nuôi sống.

Cúng dường đến vị Samôn, là Upariṭṭha danh tiếng”[6].

Sau khi mệnh chung cả hai tái sinh về thiên giới, hậu thân của Annabhāra là Thiên vương Sakka.

Vào thời Đức Phật Gotama, hậu thân của thanh niên Annabhāra là Ngài Anuruddha, hậu thân của Trưởng giả Sumana là  Ngài Sadi Sumana chứng đắc Thánh quả Alahán cùng với pháp thần thông khi cạo tóc vừa xong, và Ngài Sadi Sumana được Đức Thế Tôn ban cho địa vị Trưởng lão  (Thera) khi vừa được 7 tuổi([7]).

2- Xin mẹ xuất gia.

Vào thời điểm vương tử Anuruddha xin cha mẹ được xuất gia, không thấy kinh điển đề cập đến cha Ngài là Vương tử Amitodana, có khả năng khi ấy Vương tử Amitodana đã mệnh chung, nhưng trong kệ ngôn Trưởng lão Tăng, Ngài Anuruddha có đề cập rằng: “Pahāya mātāpitaro: Lìa bỏ mẹ cha…”([8]), hay đó là cách nói theo thông thường.

Vương tử Anuruddha đi đến mẹ thưa rằng:

– Thưa mẹ, con muốn rời nhà xuất gia sống không nhà. Thưa mẹ, hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.

Khi được nói như thế, mẹ của Anuruddha dòng Sākya đã nói với Anuruddha dòng Sākya điều này:

– Này Anuruddha yêu dấu, các con là hai người con trai thân thương, quý mến, yêu dấu của mẹ. Cho dù chết đi, mẹ vẫn không muốn xa các con. Làm sao trong lúc con đang còn sống, mẹ lại cho phép rời nhà xuất gia sống không nhà được?

Đến lần thứ nhì, …(như trên)…

Đến lần thứ ba, Anuruddha đã nói với người mẹ điều này:

– Thưa mẹ, con muốn rời nhà xuất gia sống không nhà. Thưa mẹ, hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.

Vào lúc bấy giờ, Đức vua Bhaddiya dòng Sākya trị vì lãnh thổ Sākya. Và Đức vua là bạn của Anuruddha dòng Sākya. Khi ấy, mẹ của Anuruddha dòng Sākya (nghĩ rằng): “Đức vua Bhaddiya dòng Sākya này trị vì lãnh thổ Sākya là bạn của Anuruddha dòng Sākya. Vị ấy không nhiệt tình rời nhà xuất gia sống không nhà!” nên đã nói với Anuruddha dòng Sākya điều này:

– Này Anuruddha yêu dấu, nếu Đức vua Bhaddiya dòng Sākya rời nhà xuất gia sống không nhà, thì con cũng hãy xuất gia như thế.

Sau đó, Anuruddha dòng Sākya đã đi đến gặp đức vua Bhaddiya dòng Sākya, sau khi đến đã nói với đức vua Bhaddiya dòng Sākya điều này:

– Này bạn, việc xuất gia của tôi tùy thuộc vào bạn đó.

– Này bạn, nếu việc xuất gia của bạn tùy thuộc vào tôi, hãy làm cho nó không còn tùy thuộc nữa. Tôi sẽ giúp bạn được xuất gia thoải mái.

– Này bạn, hãy đi. Cả hai ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.

– Này bạn, tôi không thể rời nhà xuất gia sống không nhà. Điều gì khác tôi có thể làm cho bạn thì tôi sẽ làm ngay. Bạn hãy xuất gia đi.

– Này bạn, mẹ đã nói với tôi như vầy: “Này Anuruddha yêu dấu, nếu Đức vua Bhaddiya dòng Sākya rời nhà xuất gia sống không nhà, thì con cũng hãy xuất gia như thế.” Này bạn, bạn đã nói lời nói này: “Này bạn, nếu việc xuất gia của bạn tùy thuộc vào tôi, hãy làm cho nó không còn tùy thuộc nữa. Tôi sẽ giúp bạn được xuất gia thoải mái”. Này bạn, hãy đi. Cả hai ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.

Vào lúc bấy giờ, loài người nói năng chân thật, tôn trọng lời hứa. Khi ấy, Đức vua Bhaddiya dòng Sākya đã nói với Anuruddha dòng Sākya điều này:

– Này bạn, hãy chờ đợi bảy năm. Sau bảy năm, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.

– Này bạn, bảy năm quá lâu. Tôi không thể chờ đợi bảy năm.

– Này bạn, hãy chờ đợi sáu năm. …(như trên)… năm năm. …(như trên)… bốn năm. …(như trên)… ba năm. …(như trên)… hai năm. …(như trên) …một năm. Sau một năm, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.

– Này bạn, một năm quá lâu. Tôi không thể chờ đợi một năm.

– Này bạn, hãy chờ đợi bảy tháng. Sau bảy tháng, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.

– Này bạn, bảy tháng quá lâu. Tôi không thể chờ đợi bảy tháng.

– Này bạn, hãy chờ đợi sáu tháng. …(như trên)… năm tháng. … bốn tháng. … ba tháng. … hai tháng. … một tháng. … nửa tháng. Sau nửa tháng, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.

– Này bạn, nửa tháng quá lâu. Tôi không thể chờ đợi nửa tháng.

– Này bạn, hãy chờ đợi bảy ngày đến khi tôi trao lại vương quốc cho các người con trai và các người em trai xong.

– Này bạn, bảy ngày không lâu lắm. Tôi sẽ chờ đợi([9]).

Và sáu vị Vương tử với người thợ cắt tóc Upāli đi đến vườn xoài Anupiya, xin Đức Thế Tôn được xuất gia trong Tăng đoàn. Đức Thế Tôn chấp thuận lời thỉnh cầu này (lịch sử không ghi nhận Tế độ sư của Ngài Anuruddha là ai, trong khi Tế độ sư của Ngài Ānanda là Trưởng lão Belaṭṭhasīsa, một trong 1.000 vị của nhóm Trưởng lão Uruvelā Kassapa.

Cần ghi nhận rằng: Trong nhóm sáu vị Vương tử có Vương tử Devadatta,  Đức Thế Tôn biết rõ: “Devadatta sau này sẽ phản lại Đức Thế Tôn”, do đó Ngài không trực tiếp truyền giới đến sáu vị Vương tử.

Mặt khác, nghi thức thọ giới Tỳkhưu khi ấy như thế nào?Và nghi thức thọ giới Tỳkhưu như thế nào? Bằng nghi thức cho thọ Tam quy chăng? Nghi thức thọ trì Tam quy để được xuất gia thọ giới Tỳkhưu đã được Đức Thế Tôn cho phép trước đây([10]), nghi thức này được dùng cho Thái tử Rāhula xuất gia Sadi, nhưng nghi thức mới cho xuất gia thọ giới Tỳkhưu không thấy được đề cập đến. Mãi đến khi Ngài Rādha xuất gia thọ giới Tỳkhưu bằng Tam quy được Đức Thế Tôn bải bỏ và thay thế bằng nghi thức Tứ tác bạch Tuyên ngôn (sđd, số 85) , phải chăng trước đó nghi thức thọ giới Tỳkhưu nghi thức bằng Tam quy vẫn được áp dụng?).

Khi được xuất gia vào Tăng đoàn, vào lần an cư mùa mưa đầu tiên, Ngài Anuruddha theo Đức Thế Tôn đến thành Rājagaha (Vương xá), an cư mùa mưa nơi Đại tự Trúc Lâm (Veḷuvanavihāra). Theo Tạng Luật, sau ba tháng an cư mùa mưa này, Ngài Anuruddha chứng đạt tám thiền chứng cùng với Thiên nhãn minh (dibbacakkhu)([11]).

Tự hào với thành quả của mình, Ngài Anuruddha đi đến trình bày với Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) rằng:

Idhāhaṃ, āvuso sāriputta, dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sahassaṃ lokaṃ olokemi:

“Thưa Hiền giả Sāriputta, ở đây với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, tôi có thể thấy rõ một ngàn thế giới”.

Āraddhaṃ kho pana me vīriyaṃ asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā , passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṃ cittaṃ ekaggaṃ:

Phấn chấn (āraddhaṃ) là tinh tấn của tôi, không có thụ động (asallīnaṃ), ghi nhận vững vàng không có loạn động, tâm được khinh an không có cuồng nhiệt (asāraddho), tâm được định tỉnh nhất tâm”.

 Atha ca pana me nānupādāya, āsavehi cittaṃ vimuccatī’’ti:

Tuy vậy, tâm của tôi vẫn còn nắm giữ, chưa được giải thoát khỏi các ô nhiễm”.

Ngài Sāriputta đã khiển trách rằng:

– Này Hiền giả Anuruddha, Hiền giả suy nghĩ như sau:

* Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, tôi có thể thấy rõ một ngàn thế giới. Đây là kiêu mạn của Hiền giả ( idaṃ temānasmiṃ).

– Này Hiền giả Anuruddha, nếu hiền gả suy nghĩ như sau:

*Phấn chấn (āraddhaṃ) là tinh tấn của tôi, không có thụ động (asallīnaṃ), niệm được an trú không có thất niệm, tâm được khinh an không có cuồng nhiệt(asāraddho), tâm được định tỉnh nhất tâm. Đây là phóng dật  của Hiền giả  (idaṃ te uddhaccasmiṃ).

– Này Hiền giả Anuruddha, Hiền giả suy nghĩ như sau:

* Tuy vậy, tâm của tôi vẫn còn nắm giữ, chưa được giải thoát khỏi các ô nhiễm”. Đây là hối tiếc của Hiền giả (idaṃ te kukkuccasmiṃ).

Lành thay, nếu Hiền giả Anuruddha đoạn trừ ba pháp này, không tác ý ba pháp này, hãy chú tâm vào giới bất tử (amatāya dhātuyā cittaṃ upasaṃharatū’’ti)([12]).

Tiếp theo, Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) giảng pháp quán đến Ngài Anuruddha.

Nghe theo lời dạy của Ngài Sāriputta, Tôn giả Anuruddha đi đến Pācīnavaṃsadāya trong xứ Ceṭi, đó là khu rừng rậm nằm về hướng Đông của thành phố Ceti. Nơi khu rừng này, Ngài Anuruddha nỗ lực hành pháp, chống lại phiền não hôn trầm bằng cách đi kinh hành, sau 15 ngày thân Ngài rất mệt mỏi, Ngài đi đến bụi tre ngồi dưỡng sức nơi bụi tre, trong khi ngồi dưỡng sức, 7 pháp suy nghiệm của bậc đại nhân (mahāpurisa vitakka) khởi lên trong tâm Ngài như sau:

1- Appicchassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo mahicchassa.

“Pháp này có cho người ít ham muốn, pháp này không có cho người nhiều nhiều ham muốn”.

2- Santuṭṭhassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo asantuṭṭhassa.

“Pháp này có cho người biết đủ, pháp này không có cho người không biết đủ”.

3- Pavivittassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassa.

“Pháp này có cho người sống nơi thanh vắng, pháp này không có cho người ưa thích hội chúng”.

4- Āraddhavīriyassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo kusītassa.

“Pháp này có cho người tinh cần, pháp này không có cho người biếng nhác”.

5- Upaṭṭhitassatissāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo muṭṭhassatissa.

“Pháp này có cho người an trú ghi nhận (niệm), pháp này không có cho người dao động”.

6- Samāhitassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo asamāhitassa.

“Pháp này có cho người thiền tịnh, pháp này không có cho người không thiền tịnh”.

7- Paññavato ayaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo duppaññassā’’ti.

“Pháp này có cho người có trí, pháp này không có cho người ác trí”.

Giải thích.

Pháp (dhamma). Ở đây chỉ cho 9 pháp Siêu thế là: Bốn Thánh đạo, bốn Thánh quả và Nípbàn.

Ít ham muốn (appicchā). Gọi là ít ham muốn có bốn là:

a- Paccaya appiccha: Ít ham muốn vật dụng.

Bốn nhu cầu cần thiết trong sự sống của vị Samôn là: Vật thực, y phục, sàng tọa (hay chỗ trú ngụ) và dược phẩm trị bịnh.

 Ít ham muốn vật dụng.Là không mong cầu được cho những vật dụng tốt hay quá nhiều, chỉ thọ dụng những gì có được, đồng thời chỉ nhận vừa đủ.

b- Adhigama appiccha. Ít ham muốn (d) đạt đến. Là không tỏ lộ những pháp thượng nhân nhất là Thánh quả Siêu thế mà mình đã chứng đạt được, để được người khác tôn sùng sính trọng. Như Trưởng lão Majjhantika không tỏ lộ cho người khác biết về sự thành tựu Thánh quả Alahán cùng với năng lực thần thông của mình.

*Trưởng lão Majjhantika.

Là vi Trưởng lão Alahán có thần thông, nhưng Ngài không tỏ cho ai biết năng lực Siêu thế lẫn tục thế của mình. Ngài là vị giữ hạnh Adhigama appiccha([13]). Trong buổi lễ Lạc thành tự viện Asdoka, Ngài được mời đến tham dự, nhưng y và bát của Ngài chỉ đáng giá một phần tư đồng tiền. Thính chúng dự lễ Lạc thành tự viện có ý khinh thường Ngài, nghĩ rằng: “Đây là vị Tỳkhưu già nghèo khổ”, nên bảo Ngài hãy đứng bên ngoài vòng Tự viện.

Khi dâng vật thực cúng dường đến vị Tăng trưởng (Saṅghathera), thân hình Ngài lún dần xuống đất, tựa như bị đất rút, rồi Ngài nổi lên, ngồi trên bảo tọa trang trọng, thọ nhận  phần vật thực cúng dường cho vị Trưởng lão cao nhất trong buổi lễ, vì chỉ có Ngài mới xứng đáng nhận lãnh phần vật thực này([14]).

Ngài là vị tụng Tuyên ngôn (kammavācā) trong lễ thọ giới Tỳkhưu của Thái tử Mahinda (con trai của vua Asoka – ADục)([15]).

Khi cuộc Kết tập Phật ngôn III kết thúc, Ngài được cử đi hoằng pháp ở Kasmira-Gandhāra. Nơi vùng đất này, Ngài dùng thần thông thu phục Rắn chúa Arāvāla rồi thuyết lên pháp thoại tế độ Rắn chúa Arāvāla cùng 80 ngàn rắn tùy tùng nương nhờ Tam Bảo; cũng trong thời pháp thoại này có Dạxoa Paṇḍaka, vợ là nữ Dạxoa Hārita cùng 500 người con trai chứng đạt Thánh quả Dự Lưu. Tiếp theo Ngài thuyết lên kinh Āsīvisopama sutta cho đại chúng, rồi truyền quy giới cho 80 ngàn chúng sinh([16]).

Kinh Trưởng lão Majjhantika thuyết được dẫn trong phần luận của Sarabhaṅga jātaka([17]),

*Kinh Āsīvisopama (Rắn độc).

Có thể đó là kinh Āsīvisa, kinh Āsīvisa lại có hai bài là:

a- Āsīvisa sutta (1).

 (Tóm lược như sau): Một thời Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Jetavanavihāra (Đại tự KỳViên) gần thành Sāvatthi (Xávệ), Đức Thế Tôn dạy các vị Tỳkhưu rằng:

– Có bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt (ghoravisā), một người muốn sống không muốn chết, muốn lạc ghét khổ; phải luôn luôn chăm sóc cho chúng, thỉnh thoảng phải cho chúng ăn, thỉnh thoảng phải tắm cho chúng, thỉnh thoảng phải cho chúng vào huyệt (để ngủ) (samvesetabbā). Vì nếu một trong bốn con rắn này nổi giận thì người ấy đi đến chết hay đau khổ gần như chết.

– Sợ rắn độc, người ấy chạy trốn bốn con rắn độc, nhưng bị 5 kẻ sát nhân rượt đuổi theo.

– Sợ rắn độc, sợ năm kẻ sát nhân, người ấy lại chạy trốn, lại có kẻ thứ 6 cướp nhà, giết người, cầm kiếm dơ lên rượt theo.

– Sợ rắn, sợ kẻ sát nhân, sợ kẻ cướp nhà, giết người; người ấy lại chạy trốn. Đến ngôi làng trống vắng, nơi mà mọi thứ đều rỗng không. Người ta nói với người ấy rằng bọn cướp phá làng sẽ đến.

– Người ấy chạy trốn nữa, đến một đầm nước lớn mà bờ bên này đầy hiểm nguy và bờ bên kia an lành. Nhưng không có thuyền bè hay cầu đi qua, người ấy tom góp cỏ cây làm bè.

– Nhờ có chiếc bè, người ấy cố gắng dùng tay chân bơi bè vượt qua bờ bên kia an toàn.

Ý nghĩa.

– Bốn con rắn độc đồng nghĩa bốn nguyên tố lớn (mahābhūta) là: Đất (pathivī), nước (āpo), lửa (tejo) và gió (vāyo).

– Năm kẻ sát nhân đồng nghĩa năm thủ uẩn (upādānakkhandhā) , đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành và thức thủ uẩn..

– Kẻ cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên đồng nghĩa dục tham (nandirāga).

– Ngôi làng trống vắng đồng nghĩa sáu xứ bên trong (ajjhattikāyatana), đó là: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý.

– Bọn cướp đến phá làng đồng nghĩa sáu xứ bên ngoài (bāhirāyatana)), đó là: Sắc, thinh, vị, mùi, xúc và pháp.

– Đầm nước lớn đồng nghĩa bốn giòng nước mạnh (ogha), đó là: dục, hữu, tà kiến và vô minh.

– Bờ bên này đầy hiểm nguy đồng nghĩa thân kiến (sakkāyadiṭṭhi).

– Bờ bên kia an toàn đồng nghĩa Nípbàn (Nibbāna).

– Chiếc bè đồng nghĩa Thánh đạo tám nhánh.

– Cố gắng dùng tay chân bơi bè đồng nghĩa tinh tấn (viriya)([18]).

Có khả năng Ngài Majjhantika dùng bài kinh này thuyết giảng đến đại chúng ở xứ Kasmira Gandhara.

*Kinh Āsīvisa (2).

Có bốn loại rắn trên đời:

– Có nọc độc nhưng không ác độc (āgataviso na ghoraviso).

– Ác độc nhưng không có nọc độc.

– Có nọc độc và ác đôc.

– Không có nọc độc cũng không ác độc.

Cũng vậy, có bốn hạng người trên đời:

– Có người rất mau phẫn nộ nhưng phẫn nộ không lâu dài.

– Có người không mau phẫn nộ nhưng phẫn nộ tồn tại lâu dài.

– Có người mau phẫn nộ và phẫn nộ tồn tại lâu dài.

– Có người không mau phẫn nộ và phẫn nộ không tồn tại lâu dài([19]).

c- Pariyatti appiccha. Ít ham muốn ( do) thành tựu.

Là không tỏ lộ sự thành tựu của mình nhất là năng lực hiểu biết của mình, cho dù là vị thông thuộc Tam Tạng, nhưng vẫn tỏ ra ngu ngơ, điển hình là Trưởng lão Tissa ngụ ở Sāketa.

*Trưởng lão Tissa. (Tóm gọn như sau).

Trưởng lão trú ngụ nơi thành phố Sāketa, nơi đây có rất đông các vị Tỳkhưu cùng các cận sự có hội chúng rất đông, tuy Ngài làu thông Tam Tạng nhưng khuynh hướng của Ngài là thường an trú trong thiền tịnh.

Khi các Tỳkhưu hay các cận sự thỉnh Ngài giảng giải về Kinh điển, Ngài đáp rằng:

– Này các vị, tôi không có thời gian.

Nhiều lần bị Ngài từ chối, nên có người châm biếm rằng:

– Ngài không hề có thời gian, thậm chí không có thời gian để chết.

Nghe vậy, Ngài Tissa liền rời khỏi hội chúng ở Sāketa đi đến trú ngụ nơi Tự viện Kaṇikāravālikasamudda, Ngài sống nơi đây suốt ba mùa an cư. Ngài như vị Tỳkhưu không hiểu biết, không được ai biết đến, Ngài luôn thực hiện phận sự của mình đối với các vị đồng phạm hạnh, dù rằng những vị ấy là vị cao hạ hơn Ngài, ngang bằng hay thấp hạ hơn.

Sau khi mãn mùa an cư thứ ba, vào ngày trăng tròn tháng Assavija (tháng 9 – 10 dl), vào dịp lễ Pavāraṇā – Uposatha (Tự Tứ- Bốtát). giữa hội chúng Tăng Ngài Tụng Giới bổn (Pāṭimokkha sīla) rất thông suốt. làm mọi người kinh ngạc và đã tung lên hư không những vật đang có trên đầu để tán thán Ngài. Ngài đã gây sững sốt tạo ra tiếng vang lớn đến hội chúng Tăng,  ngại mọi người biết “ đây là vị đã tụng Giới bổn đêm qua”, Ngài lặng lẽ quay trở lại chỗ ngụ khi trước của mình, nơi kinh thành Sāketa.

d- Dhutaṅga appiccha. Ít ham muốn (d) hành pháp.

Là không muốn cho người khác biết sự tinh cần hành pháp của mình. Như có câu cvhuyện sau:

Có hai anh em cùng xuất gia Tỳkhưu, trú ngụ nơi đồi Cetiya, vị Tỳkhưu anh thọ trì Dhutaṅga (Đầuđà) hạnh nhất tọa thực.

Có lần vị Tỳkhưu em đi đến trú xứ của anh, trên đường đi có người nông dân cúng dường đến vị Tỳkhưu em cây mía.

Khi đến trú xứ của anh, vị Tỳkhưu em mời anh dùng mía, người anh từ chối rằng:

– Thôi được rồi, này em.

– Thưa anh, vì sao thế?

– Vì đã dùng xong, đã xúc miệng rồi.

Tỳkhưu em hỏi rằng:

– Thưa anh, có phải anh thực hành hạnh Dhutaṅga hạnh nhất tọa thực chăng?.

Dù thực hành hạnh Dhutaṅga này đã 50 năm, nhưng không muốn em mình biết nên vị ấy nguyện xả hạnh Dhutaṅga. Dùng mía, sau khi người em về, vị ấy xúc miệng và nguyện thọ trì hạnh dhutaṅga trở lại.

(Những đoạn giải về bốn hạng appicchā được ghi trong Sớ giải Aṅguttara nikāya (Tăng chi kinh- quyển III), các mẫu chuyện được ghi trong tập Sớ giải Majjhimā nikāya (Trung bộ kinh – quyểnII). Trong tập Sớ giải Trung bộ kinh (q II) có nhiều chi tiết hơn nữa về 3 loại icchā (ham muốn), bốn appicchatā (ít ham muốn), 12 loại santosa (biết đủ). 3 loại paviveka (độc cư), 5 lọai saṃsagga (xúc chạm) ….)

    Nhưng Ngài Anuruddha chưa thể vượt qua chướng ngại cuối cùng để chứng đạt Thánh quả Alahán.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn đang trú ngụ nơi núi Suṃsumāra, nơi rừng Bhesakalā của xứ Bhagga([20]). Với tâm mình, Đức Thế Tôn biết được khó khăn của Anuruddha, khi ấy Tôn giả Anuruddha đang suy gẫm đến 7 niệm của bậc đại nhân, Đức Thế Tôn dùng thần lực  đến viếng Tôn giả Anuruddha và dạy cho Tôn giả pháp niệm thứ 8 của bậc đại nhân là:

8- Nippapañcārāmassāyaṃ dhammo nippapañcaratino, nāyaṃ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti.

“Pháp này để cho người không ưa ảo kiến (nippapañcārāma), không thích ảo kiến; pháp này không phải để cho người vui với ảo kiến, thích ảo kiến”([21]).

Rồi theo lời dạy của Đức Thế Tôn , Tôn giả Anuruddha an cư mùa mưa ở Pācinavaṃsadāya([22]), nỗ lực hành pháp theo 8 pháp niệm của bậc Đại nhân và Ngài chứng đắc Thánh quả Alahán([23]). Như vậy, trong lần an cư  mùa mưa thứ ba của Đức Thế Tôn (lần an cư mùa mưa thứ 2 của Tôn giả Anuruddha) Tôn giả Anuruddha thành tựu được Thánh quả Ala hán.

Trong tập Kệ ngôn Trưởng lão Tăng (Theragāthā), Ngài Anuruddha có tường thuật lại 7 pháp của bậc Đại nhân mà Ngài suy tư được, như sau.

898- Mahiccho ca asantuṭṭho; saṃsaṭṭho yo ca uddhato.

Tassa dhammā ime honti; pāpakā saṃkilesikā.

“Nhiều ham muốn, không biết đủ; ưa giáo du và loạn động.

Những pháp này thuộc về; ác xấu, đầy ô nhiễm”.

899- Sato ca hoti appiccho; santuṭṭho avighātavā.

Pavivekarato vitto; niccamāraddhavīriyo.

“Ghi nhận, ít ham muốn; biết đủ, không háo động.

Thích thanh vắng, hân hoan; thường tinh cần nỗ lực”.

900- Tassa dhammā ime honti; kusalā bodhipakkhikā,

Anāsavo ca so hoti; iti vuttaṃ mahesinā.

“Những pháp này khi có mặt, là thiện dẫn đến giác ngộ.

Và vị ấy không ô nhiễm; Đại ẩn sĩ nói thế”.

901- Mama saṅkappamaññāya; satthā loke anuttaro.

Manomayena kāyena; iddhiyā upasaṅkami.

“Biết rõ tâm ta như vậy; Bậc Đạo sư vô thượng thế gian.

Với thân do ý tạo; với thần thông, Ngài đến với ta”.

902- Yadā me ahu saṅkappo; tato uttari desayi.

Nippapañcarato buddho; nippapañcamadesayi.

“Ta suy gẫm những gì; Ngài giảng giải tất cả,

Đức Phật không thích ảo kiến([24]),Ngài giảng không ảo kiến”.

903- Tassāhaṃ dhammamaññāya; vihāsiṃ sāsane rato.

Tisso vijjā anuppattā; kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

“Thông hiểu pháp, ta hân hoan; vui thích trú trong lời dạy.

Ba Minh chứng đạt được,; lời Phật dạy làm xong”([25]).

3-  Hạnhlành của Ngài Anuruddha.

a- Tính hòa nhã,

Trong Kinh điển,  Ngài Anuruddha được xem như Tỳkhưu đồng phạm hạnh trung tín dễ mến, rất thương kính Đức Thế Tôn, thương yêu những người trong thân tộc cùng với các bậc đồng phạm hạnh.

Ngược lại, Ngài cũng được mọi người thương mến, trong những cuộc hội họp, Ngài thường ngồi gần Đức Thế Tôn([26]), điều này cho thấy Ngài có địa vị cao trong Tăng đòan.

Bài kinh Naḷakapāna sutta, do Đức Thế Tôn thuyết tại rừng Palāsa trong làng Naḷakapāna, giữa hội chúng Tỳkhưu có danh tiếng như: Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbika, Tôn giả Bhagu, Tôn giả Kuṇḍadhāna, Tôn giả Revata, Tôn giả Ānanda và một số Tôn giả danh tiếng khác. Đức Thế Tôn ba lần hỏi rằng:

 – Này các Tỳkhưu, các thiện gia nam tử ấy, vì lòng tin Ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Này các Tỳkhưu, các vị Tỳkhưu ấy có hoan hỷ trong Phạm hạnh không?.

Nhưng các Tỳkhưu ấy giữ im lặng. Và Đức Thế Tôn hỏi ngay Ngài Anuruddhā rằng:

– Này các Anuruddhā([27]), các ngươi có hoan hỷ trong Phạm hạnh không?

Ngài Anuruddha đại diện cho tất cả các vị Tỳkhưu trả lời rằng:

– Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con hoan hỷ trong Phạm hạnh.

Và Đức Thế Tôn tiếp tục thuyết về những ô nhiễm (āsavā) mà Ngài đã đoạn tận, những lợi ích mà các Tỳkhưu đệ tử thành đạt được. Khi nói về cảnh giới tái sinh của hàng Tứ chúng, Ngài nói lên sự thật, không vì mục đích lường gạt, nịnh hót, được lợi lộc, được trọng vọng, Đức Thế Tôn tuyên bố cảnh giới tái sinh của Tứ chúng chỉ với mục đích: “Người nghe được an lạc lâu dài”. Khi Ngài tuyên bố: “Vị Tỳkhưu có giới như vậy, có trí như vậy, đã an trú chánh trí như vậy”, người nghe nhớ đến những điều ấy, chú tâm trên sự thật sẽ được lợi ích an lạc lâu dài([28]).

Bản Sớ giải có giải thích: “Sở dĩ các vị Tỳkhưu im lặng, vì trong hội chúng ấy Ngài Anuruddha là trưởng, vì tôn kính Ngài Anuruddha nên các vị Tỳkhưu không dám trả lời trước Ngài Anuruddha. Hiểu được điều này nên Đức Thế Tôn hỏi thẳng Ngài Anuruddha. Và xem như Ngài Anuruddha đại diện các vị Tỳkhưu trả lời câu hỏi Đức Thế Tôn, nên Anuruddha được viết theo số nhiều là Anuruddhā”.

Khi các vị Tỳkhưu ở kinh thành Kosambi chia rẽ nhau, Đức Thế Tôn đến hòa giải, nhưng các Tỳkhưu này ngoan cố không nghe lời dạy của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn lặng lẽ từ bỏ kinh thành Kosambi ra đi. Đức Thế Tôn đến làng Bālakaloṇakāra thăm Ngài Bhagu, rồi Đức Thế Tôn tiếp tục đi đến Pācīnavaṃsadāya là nơi cư ngụ của ba vị Trưởng lão: Anuruddha, Nandiya và Kimbila. Người giữ vườn thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến, đã nói rằng:

“Này Samôn, chớ có vào khu vườn này. Có ba thiện gia nam tử  ưa thích yên tịnh (attakāmanīpā)([29]) trú tại đây, chớ có phiền nhiễu các vị ấy”.

Tôn giả Anuruddha nghe người giữ vườn nói như thế với Đức Thế Tôn, liền đi đến nói với người giữ vườn rằng:

– Này người giữ vườn, chớ có ngăn chận Đức Thế Tôn. Thế Tôn là Bậc Đạo sư của chúng tôi đã đến.

(Đoạn kinh trên cho thấy, ba Tôn giả này được người giữ vườn thương kính).

Trong duyên sự này, Đức Thế Tôn thuyết lên kinh Upakkilesa (Tùy phiền não). Nội dung bài kinh này Đức Thế Tôn nói về vị ngọt của sự sống hòa thuận, khắc phục những chướng ngại và triển khai thiền quán.

Trong bài kinh này, nói lên sự sống hòa thuận giữa ba vị Trưởng lão, đã sống từ bỏ tâm mình, thuận theo tâm người.

Khi ấy có cả ba vị Tôn giả, nhưng Đức Thế Tôn hỏi Ngài Anuruddha rằng:

– Này Anuruddhā, các ngươi có được an lành không? Có được sống an vui không? Đi khất thực có không mệt mỏi không? …

Dường như bài kinh này Đức Thế Tôn thuyết lên chú trọng đến Ngài Anuruddha, vì khi dứt bài kinh chỉ có Ngài Anuruddha hoan hỷ với lời dạy của Đức Thế Tôn, còn hai vị kia thì không thấy đề cập đến([30]).

Hai bài kinh trên cho thấy Đức Thế Tôn có tâm thương mến và xem trọng Tôn giả Anuruddha.

Ý này cũng được tìm thấy trong bài kinh Cūḷagosiṅga (Rừng Sừng bò tiểu kinh)([31])

Nội dung bài kinh cho biết ba vị: Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila chứng đạt được Diệt thọ tưởng định ,

Phần cuối kinh có đề cập đến cuộc yết kiến của Dạxoa Dīgha.  Dạxoa tán thán chư vị rằng:

– Bạch Thế Tôn, thật lợi ích thay cho dân xứ Vajjī! Thật kéo lợi ích thay cho dân xứ Vajjī,vì Thế Tôn Bậc AlaHán Chánh Đẳng Giác ở đây, và cả ba vị Thiện nam tử: Tôn giả Anburuddha, Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila ở đây.

Và tiếng thán thán này được lan truyền đến tận Phạm thiên giới.

b- *Ngăn oai nghi nằm và không ngủ.

Sau khi sống đời Phạm hạnh, suốt 55 năm Ngài Anuruddha không hề nằm và hai mươi lăm năm đầu Ngài Anuruddha không hề ngủ, như Kệ ngôn Trưởng lão Tăng ghi nhận:

904- Pañcapaññāsavassāni; yato nesajjiko ahaṃ.

Pañcavīsativassāni; yato middhaṃ samūhataṃ.

“Suốt năm mươi lăm năm; ta không hề nằm.

Trong hai mươi lăm năm; dứt lìa sự ngủ nghỉ”([32]).

Bản Sớ giải giải thích: Trong 30 năm còn lại của tuổi thọ, Ngài Anuruddha chỉ ngủ vào canh chót([33]).

Nhưng thời điểm Ngài Anuruddha thọ trì hạnh dhutaṅga (Đầuđà) “ngăn oai nghi nằm” là vào lúc nào? Là từ khi xuất gia, vì pháp môn Dhutaṅga là pháp môn hổ trợ cho thiền tịnh và Ngài Anuruddha rất tinh cần trong thiền tịnh, trong mùa an cư đầu tiên nơi thành Rājagaha (Vương xá), Ngài Anuruddha chứng đạt tám thiền chứng cùng Thiên nhãn thông.

Trong tập Kệ ngôn Trưởng lão Tăng, Ngài Anuruddha có tự thuật:

892- Pahāya mātāpitaro; bhaginī ñātibhātaro.

Pañca kāmaguṇe hitvā; anuruddhova jhāyatu.

“Lìa bỏ mẹ cha; bỏ em gái cùng anh trai.

Bỏ năm dục tăng trưởng; ANaLuật tu thiền”.

Vì kiếp trước là Thiên vương Sakka (ĐếThích), kiếp kế là Vương tử Anuruddha nên Ngài rất thích ca múa.

893- Sameto naccagītehi, sammatāḷappabodhano;

Na tena suddhimajjhagaṃ ; mārassa visaye rato.

“Sống đắm nhiễm múa ca; với tiếng đàn, tiếng kèn.

Do vậy không đạt được; con đường giữa an tịnh.

Vì rằng ta ưa thích; trong lãnh vực của ma”.

Và Ngài nỗ lực chế ngự những nhược điểm ấy.

894- Etañca samatikkamma; rato buddhassa sāsane;

Sabboghaṃ samatikkamma; anuruddhova jhāyati.

“Và ta vượt qua tất cả; vui thích lời Phật dạy.

Vượt ra mọi dòng nước cuốn; ANaLuật tu thiền”.

895- Rūpā saddā rasā gandhā; phoṭṭhabbā ca manoramā.

Ete ca samatikkamma; anuruddhova jhāyati.

“Sắc, thinh, vị, mùi hương; và xúc đáng hài lòng.

Vượt qua tất cả chúng; ANaLuật tu thiền”([34]).

Như vậy Ngài Anuruddha sống trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn là 55 năm (25 năm đầu không ngủ, 30 năm còn lại chỉ ngủ vào canh chót), lịch sử không ghi nhận tuổi thọ của Ngài Anuruddha là bao nhiêu.

Kinh điển Bắc truyền có ghi chép rằng: “Khi Bồtát Siddhattha (SĩĐạtTa) được 16 tuổi, để cưới cô công nương kiều diễm Yasodharā, Bồtát Siddhattha  phải thi tài với các Vương tử dòng Sākya (ThíchCa). Trong các Vương tử dòng Sākya (ThíchCa) tranh tài cùng Thái tử Siddhattha có Vương tử Anuruddha; nếu sự kiện này có thật, thì Vương tử Anuruddha tối thiểu cũng phải bằng tuổi Đức Thế Tôn và Ngài Anuruddha viên tịch tối thiểu cũng phải vào lúc 95  tuổi thọ.

Tuy nhiên, có khả năng Ngài Anuruddha lớn tuổi hơn Đức Thế Tôn, vì rằng Ngài là bạn thân của Đức vua Bhaddiya. Vương tử Bhaddiya được vua Suddhodana đề cử thay Ngài điều hành quốc độ khi Ngài vắng mặt do già yếu cùng bịnh tật, điều này cho thấy Ngài Bhaddiya cao tuổi nhất trong 6 vị Tử Hoàng  dòng Sākya xuất gia nơi rừng xoài Anupita, kế đến là Ngài Anuruddha.

Theo bản Sớ giải Lịch sử chư Phật (Buddhavaṃsa atthakathā) của Nam truyền thì không có sự tranh tài giữa các Vương tử với Bồtát Siddhattha.

Tương truyền, khi Bồtát Siddhattha được 16 tuổi, Đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn) muốn làm lễ Tôn vương cho Thái tử Siddhattha, vì Đức vua Suddhodana muốn chứng kiến bờ cõi của đất nước được mở rộng, vì theo lời tiên đoán của các Bàlamôn thông thái, Thaaí tử Siddhattha sẽ là vị Chuyển Luân vương khi sống đời sống tại gia. Theo phong tục thời ấy, Thái tử Siddhattha phải thành lập gia thất (xem như đã trưởng thành) mới được làm lễ Tôn vương, nhưng thông điệp kén vợ cho Thái tử Siddhattha đã bị các gia tộc dòng ThíchCa từ chối, họ nói rằng: “ Vị Thái tử này có thân hình rất xinh đẹp, nhưng chẳng biết nghiệp nghệ gì. Không có khả năng nuôi dưỡng và gì giữ vợ con. Chúng ta không gả con gái cho vị Thái tử ấy”.

Nghe những lời này, vua Suddhodana đi đến gặp Thái tử Siddhattha, thuật lại cho Thái tử biết những lời của Hoàng tộc Thích Ca, Thái tử Siddhattha hỏi:

– Con phải trình diễn nghiệp nghệ nào?

 – Này con thân yêu, con phải trình diễn nghệ thuật bắn cung, vì dòng ThíchCa là dòng chiến sĩ.

– Con phải làm sao?

– Con hãy căng được dây cung có sức nặng bằng 1.000 người khiêng.

– Thưa cha, điều đó được thôi.

Trước toàn thể cư dân thành Kapilavatthu, Thái tử Siddhattha kéo căng dây cung của chiếc cung có sức nặng bằng 1.000 người khiêng, đồng thời Ngài trổ tài thiện xạ. Dây cung kéo căng ra rôi buông ra, tiếng bật của dây cung vang lên như tiếng sấm, là kinh động cả kinh thành Kapilavatthu.

Tiếp theo, theo lời yêu cầu của Đại chúng, Thái tử Siddhattha:

– Bắn mũi tên xuyên qua tấm sắt dầy 8 đốt tay.

– Bắn mũi tên xuyên qua tấm gỗ asana([35]) dày  bốn gang tay (vidatthi),

– Bắn mũi tên xuyên qua cây vải dày 12 ngón tay (aṅgula).

– Bắn mũi tên xuyên qua toa xe đầy đất.

– Bắn mũi tên xuyên qua toa xe đầy rơm.

– Bắn mũi tên xuống nước với độ sâu 1 usabha([36]).

– Bắn mũi tên xuyên qua đất khô với độ sâu là 8 usabha,

– Bắn trúng lông đuôi ngựa đặt xa 1 dotuần (yojana).

Sau buổi biểu diễn nghệ thuật bắn cung, hoàng tộc dòng ThíchCa rất hài lòng và đã đưa con gái mình đến hầu hạ Thái tử, đứng đầu 40 ngàn mỹ nữ ấy là nàng Yasodharā([37]).

c-Ngài Anuruddha với pháp môn bốn Niệm xứ.

 Ngài Anuruddha rất chú trọng đến sự thành tựu bốn niệm xứ, bốn  niệm xứ được lập đi lập lại nhiều lần trong kinh văn của Ngài.

Ngài dành hết tâm lực của mình cho sự phát triển pháp môn bốn Niệm xứ và sách tấn thính chúng thực hành pháp bốn niệm xứ.

Trong tập Tương ưng kinh (Saṃyuttanikāya), phẩm Tương ưng Anuruddha (Anuruddhasaṃyutta) có ghi nhận nhiều bài kinh do Ngài Anuruddha thuyết về pháp môn Bốn Niệm xứ như sau:

*Một thời Ngài Anuruddha trú ngụ ở Jetavana (rừng Jeta) của Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc), trong khi độc cư thiền tịnh, tư tưởng sau đây khởi lên cho Ngài Anuruddha:

Yesaṃ kesañci cattāro satipaṭṭhānā viraddhā, viraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī.

“Những ai thối thất bốn Niệm xứ, đối với chúng là thối thất Thánh đạo đưa đến diệt tận khổ đau”.

 Yesaṃ kesañci cattāro satipaṭṭhānā āraddhā, āraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī’’ti.

“Những ai  thực hành bốn Niệm xứ, đối với chúng là thực hành Thánh đạo đưa đến diệt tận khổ đau”.

Với tâm mình, Tôn giả Mahā Moggallāna biết được tâm của Tôn giả Anuruddha, với thần lực của mình Tôn giả Mahā Moggallāna xuất hiện trước Tôn giả Anuruddha, hỏi rằng:

– Này Hiền giả Anuruddha, cho đến như thế nào, Tỳkhưu thực hành bốn Niệm xứ?.

– Này Hiền giả, ở đây, vị Tỳkhưu an trú, quán xét pháp tập khởi nơi nội thân (ajjhattaṃ kāye samudayadhammānupassī viharati); an trú, quán xét pháp diệt mất nơi nội thân (ajjhattaṃ kāye vayadhammānupassī viharati); an trú, quán xét pháp tập khởi, diệt mất nơi nội thân (ajjhattaṃ kāye samudayavayadhammānupassī viharati); cố gắng ghi nhận, hiểu trọn vẹn đúng đắn, để nhiếp phục tham ưu ở đời (ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ).

An trú, quán xét pháp tập khởi nơi ngoại thân (bahiddhā kāye samudayadhammānupassī viharati); an trú, quán xét pháp diệt mất nơi ngoại thân (bahiddhā kāye vayadhammānupassī viharati); an trú, quán xét pháp tập khởi, diệt mất nơi ngọai thân (bahiddhā kāye samudayavayadhammānupassī viharati); cố gắng ghi nhận, hiểu trọn vẹn đúng đắn, để nhiếp phục tham ưu ở đời.

An trú, quán xét pháp tập khởi nơi nội- ngoại thân (ajjhattabahiddhā kāye samudayadhammānupassī viharati); quán xét pháp diệt mất nơi nội- ngoại thân (ajjhattabahiddhā kāye vayadhammānupassī viharati); an trú, quán xét pháp tập khởi, diệt mất nơi nội- ngoại thân (ajjhattabahiddhā kāye samudayavayadhammānupassī viharati), cố gắng ghi nhận, hiểu trọn vẹn đúng đắn, để nhiếp phục tham ưu ở đời….([38]).

Giải thích.

 Chữ kāye ở đây chỉ cho nhóm pháp, hoặc là danh pháp, hoặc là sắc pháp.

Gọi là nội (ajjhattaṃ) là chỉ bên trong.

Gọi là tập khởi (samudaya), là chỉ cho nhóm pháp đang hội lại để sinh lên. Như thọ, tưởng, hành, thức, hay các nhóm sắc pháp.

Gọi là diệt mất (vaya), là chỉ cho nhóm pháp bị tiêu hoại.

Chữ sampajān0 = sam (đúng đắn) + pa (đầy đủ, trọn vẹn) + jāna (hiểu biết).

Gọi là ngọai ( bahiddhā), là chỉ cho những gì ở ngoài thân, như: Sắc, thinh, mùi, vị, xúc ở bên ngoài; hay thọ, tưởng, hành, thức của người khác ….

Gọi là nội – ngoại (ajjhattabahiddhā), là chỉ cho pháp bên ngoài tiếp chạm với pháp bên trong, như cảnh sắc tiếp chạm với con mắt, âm thanh tiếp chạm với lỗ tai …

Chữ āraddha là quá khứ phân từ (pp) của động từ arābha, có nghĩa là: Đã thực hiện, đã bắt đầu.

Chữ này có hai ý nghĩ: Đã thực hiện nhưng chưa thành tựu và đã thực hiện và đã thành tựu.

Do đó, trong tập Tương ưng kinh, hai bài kinh (S.v. 294 và S.v. 295), có nội dung giống nhau, nhưng ý nghĩa bài kinh thứ I chỉ cho sự đang tu tập bốn Niệm xứ, bài kinh thứ hai chỉ cho sự thành tựu bốn Niệm xứ.

   *Lần khác, khi Ngài Anuruddha trú ở cạnh bờ sông Sutanu. Sutanu là con sông đào hay con kênh trong thành Sāvatthi (Xávệ).

Nhiều vị Tỳkhưu đi đến vấn pháp nơi Ngài Anuruddha rằng:

– Tôn giả Anuruddha tu tập, làm cho sung mãn những pháp nào để đạt được thắng trí?

Ngài Anuruddha trả lời rằng:

– Thưa Hiền giả, do tu tập, do làm sung mãn bốn Niệm xứ nên tôi đạt được đại thắng trí([39]).

Rồi Ngài dạy các vị Tỳkhưu rằng:

– Thưa các Hiền giả, bốn Niệm xứ được tu tâp, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận khác ái…([40]).

*Khi Ngài Anuruddha, Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) và Ngài Moggallāna (MụcKiềnLiên) cùng trú ngụ nơi rừng Kaṇṭakī, trong thành phố Sāketa.

Vào buổi chiều hai vị Thượng thủ thinh văn đi đến Ngài Anunuruddha. Sau khi nói lên những lời thăm hỏi thân hữu cùng nhau, Ngài Sāriputta hỏi Ngài Anuruddha rằng:

“Hữu học, hữu học”(sekha), thưa hHền giả Anuruddha, được gọi như vậy. Thưa Hiền giả Anuruddha, cho đến như thế nào gọi là bậc hữu học?

– Thưa Hiền giả, do tu tập một phần bốn Niệm xứ, là bậc Hữu học.

Tiếp theo Ngài Anuruddha giải thích tu tập pháp môn bốn Niệm xứ.

  –“Vô học, vô học” (asekha), thưa Hiền giả Anuruddha, được gọi như vậy. Thưa Hiền giả Anuruddha, cho đến như thế nào gọi là bậc vô học?

– Thưa Hiền giả, do tu tập hoàn toàn bốn Niệm xứ, là bậc vô học ….([41]).

– Thưa hiền giả Anuruddha, vị Tỳkhưu hữu học sau khi đạt được pháp gì, phải an trú pháp ấy?

– Thưa hiền giả Sāriputta, vị Tỳkhưu Hữu học sau khi đạt bốn Niệm xứ, phải an trú pháp ấy.

Tiếp theo Ngài Anuruddha giải thích về pháp bốn Niệm xứ([42]).

Ngài Sāriputta hỏi tiếp:

– Thưa Hiền giả Anuruddha, vị Tỳkhưu vô học, sau khi chứng đạt pháp gì, phải an trú pháp ấy?

– Thưa Hiền giả Sāriputta, vị Tỳkhưu vô học sau khi chứng đạt bốn niệm xứ, phải an trú pháp ấy ….

Cũng trong lần ấy, Ngài Sāriputta hỏi Ngài Anuruddha rằng:

– Tôn giả Anuruddha do tu tập làm cho sung mãn những pháp gì, đã đạt đại thắng trí?

Và Ngài Anuruddha cho biết rằng: “Do tu tập, làm cho sung mãn bốn Niệm xứ, tôi thắng trí một ngàn thế giới”([43]).

*Rừng Kaṇṭakī.

Là khu rừng cây trong thị trấn Sāketa, Ngài Buddhaghosa giải thích: “Rừng có tên là Kaṇṭakī vì có nhiều bụi cây lớn (mahākaramaddavana; karamadda là một loại bụi cây), rừng này cũng được gọi là Tikaṇṭakī.

Trong khu rừng này ngoài cuộc đàm luận pháp giữa Ngài Sāriputta và Ngài Anuruddha được nói đến ở trên, Đức Thế Tôn có giảng pháp đến các vị Tỳkhưu, bài kinh có tên gọi Tikaṇṭakisutta([44]).

*Một thời Ngài Anuruddha trú ngụ trong rừng Andha, gần kinh thành Sāvatthi (Xávệ), khi ấy Ngài lâm trọng bịnh.

Nhiều vị Tỳkhưu đi đến viếng thăm và hỏi Ngài Anuruddha rằng:

– Tôn giả Anuruddha an trú với an trú gì khiến khổ thọ về thân khởi lên, lại không có ảnh hưởng gì đến tâm (cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhanti)?

– Thưa các Hiền giả, tôi trú với tâm khéo an trú trên bốn Niệm xứ, nên cảm khổ thọ về thân khởi lên, không có ảnh hưởng gì đến tâm([45]).

(Bản Sớ giải kinh Pháp cú ghi nhận: Ngài bị bịnh đau dạ dày[46])

*Một thời khi Ngài Anuruddha  và Ngài Sāriputta cùng trú ngụ nơi rừng Ambapālī ở trong kinh thành Vesāli.

Vào buổi chiều, từ nơi độc cư Ngài Sāriputta đi đến nơi cư ngụ của Ngài Anuruddha. Sau những lời chào hỏi thân hữu, ngồi xuống một bên Ngài Sāriputta hỏi Ngài Anuruddha rằng:

– Thưa Hiền giả Anuruddha, các quyền (indriya) của Hiền giả trong sáng, thanh tịnh, sắc mặt được tươi tỉnh. Tôn giả Anuruddha hôm nay  an trú  nhiều với sự an trú gì?

– Thưa Hiền giả, hôm nay tôi an trú nhiều với tâm khéo an trú trên bốn Niệm xứ([47]).

*Rừng Ambapālī.

Đây khu rừng xoài của nàng kỹ nữ danh tiếng Ambapālī, khu rừng nằm gần kinh thành Vesāli, khu rừng được gọi là Ambapālīvana do gọi theo tên bà Ambapālī đồng thời trong khu rừng trồng toàn xoài[48].

Khu rừng này được bà Ambapālī cúng dường đến Đức Phật và chư Tăng trong chuyến du hành sau cùng, khi Ngài cùng chư Tỳkhưu đến kinh thành này và sau khi Ngài nhận lời thọ thực tại tư gia của bà, như trong Tạng luật tập Đại phẩm II ghi nhân([49]).

Đức Phật và các vị Tỳkhưu đều từng trú nơi đây trong những chuyến du hành đến kinh thành Vesāli trước đó([50]). Vì theo kinh Tương ưng (S. v. 301) ở trên, khi Ngài Sāriputta chưa viên tịch và Ngài Anuruddha có đến trú ngụ ở nơi này.

Trong khu rừng xoài Ambapālī này, Đức Phật thuyết lên ba bài kinh.

*Hai kinh nói về pháp môn bốn Niệm xứ([51]).

*Một kinh đề cập đến tướng vô thường của các hành (saṅkhāra) và mô tả tiến trình hoại diệt của vũ trụ bởi 7 mặt trời đốt cháy mọi vật trong thế gian, đồng thời có đề cập đến Đạo sư Sunetta cũng bị già chết dù vị ấy đã trở thành Đại Phạm thiên([52]).

 *Sách tấn các Tỳkhưu thực hành pháp bốn Niệm xứ.

Khi trú ngụ ở Salaḷāgāra ( nhà bằng cây Sala)([53]), Ngài Anuruddha đã sách tấn các Tỳkhưu thực hành pháp môn Tứ niệm xứ.

Ngài dạy rằng:

“Này chư hiền, ví như sông Hằng thiên về phương Đông, hướng về phương Đông, xuôi về phương Đông, rồi một số đông cầm cuốc và thúng đến, nói rằng: “Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây”. Chư hiền nghĩ như thế nào? Đại chúng này có thể làm cho sông Hằng thiên về phương Tây, hướng về Tây, xuôi về Tây không?”.

– Thưa Hiền giả, không. …

– Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳkhưu tu tập bốn niệm xứ, làm sung mãn bốn niệm xứ, có thể từ bỏ học giới trở lui hoàn tục, sự kiện như vậy không thể xảy ra, Vì cớ sao? Vì này chư Hiền, tâm người ấy đã lâu ngày thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly…([54]).

Lưu ý.

Salaḷāgāra là một trong 4 kiến trúc độc đáo trong Đại tự KỳViên, ba kiến trúc kia là: Karerikūṭi, Kosambakūṭi và Gandhakūṭi. Đó là những tịnh thất dành riêng cho Đức Thế Tôn trú ngụ, mỗi tịnh thất được xây dựng với kinh phí là 100 ngàn tiền vàng; Salaḷāgāra do vua Pasenadi kiến tạo, ba tịnh thất kia do Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) xây dựng.

*Kārerikūṭi.

Gọi là Karerikūṭi (thất Kareri), vì trước cửa có vòm cây Kareri, cành và nhánh đan vào nhau, tạo thành một bóng mát lớn([55]). Nơi đây, Đức Thế Tôn thuyết lên bài kinh Mahāpadāna (Đại Bổn)([56]).

*Kosambakūṭi.

Gọi là Kosambakūṭi (thất Kosamba), vì trước cửa có cây Kosamba (cây Sồi Ấn)  lớn, tàn nhánh vươn rộng tạo ra bóng mát lớn.

*Gandhakūṭi.

Là thất làm bằng gỗ trầm hương đỏ, là một trong bốn địa điểm bất di dịch của các Bậc Chánh giác trong kiếp trái đất này. Ba điểm kia là:

1- Bodhigāya (BồĐề đạo tràng). Nơi Bồtát chứng Vô thượng Chánh giác.

3- Isipatana Migādāya.  Nơi Đức Phật thuyết kinh Chuyển pháp luân.

3- Cổng thành Sankassa. Nơi Đức Phật từ cung Trời Đạo Lợi trở về nhân giới sau ba tháng an cư mùa mưa.

* Lần khác, khi Ngài Anuruddha trú ngụ nơi Jetavanavihāra, gần kinh thành Sāvatthi (Xávệ), nhiều vị Tỳkhưu đến hỏi Ngài:

– Do tu tập, do làm sung mãn những pháp gì, Tôn giả Anuruddha đạt được đại thắng trí.

Ngài Anuruddha trả lời:

– Do tu tập, do làm sung mãn bốn Niệm xứ, tôi đạt được đại thắng trí.

Và Ngài cho biết là nhớ được ngàn kiếp([57]).

Về đoạn này, trong Bản Sớ giải kinh Tương ưng, Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) cho biết: “Ngài Anuruddha thường thức dậy sớm, sau khi làm vệ sinh xong, Ngài vào trong liêu thất, đưa tâm nhớ lại những kiếp sống quá khứ suốt cả ngàn kiếp trái đất trong quá khứ, luôn cả những kiếp sống trong kiếp trái đất hiện tại([58]).

Ngoài ra, nhờ tu tập, làm sung mãn bốn Niệm xứ, Ngài thành tựu những năng lực thần thông khác như: Thiên nhĩ thông, thần thông, tha tâm thông, Sinh tử thông…([59]).

Tuy vậy, Ngài không nổi tiếng là vị giảng sư về pháp môn bốn Niệm xứ.

d-Năng lực thần thông.

* Thiên nhãn thông,

Vào thời điểm thích hợp, giữa hàng tứ chúng Đức Thế Tôn ban cho Ngài  Anuruddha địa vị “đệ nhất về thiên nhãn”.

Etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ dibbacakkhukānaṃ yadidaṃ anuruddho.

“Này các Tỳkhưu, trong các Tỳkhưu đệ tử Như Lai, tối thắng về thiên nhãn là Anuruddha”([60]).

Ngài có thể nhìn thấy mọi vật bằng mắt thường trong vòng một dotuần, dù là ban ngày hay ban đêm.

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn ban địa vị “đệ nhất thiên nhãn thông” cho Ngài Anuruddha, trong khi có nhiều vị Thánh Alahán Lục thông (chalabhiñāṇa) khác cũng chứng đạt được thiên nhãn thông?

Đáp. Thật sự có rất nhiều vị Thánh Alahán Lục thông đạt được thiên nhãn, nhưng các Ngài không sử dụng nhiều như Ngài Anuruddha. Ngoại trừ trong lúc thọ thực, trong mọi lúc Ngài đều phát triển năng lực thiên nhãn của mình, ngay cả trong lúc đi khất thực.

Do thường xuyên triển khai đề mục ánh sáng (āloka kāsina) để quán xét chúng sinh bằng thiên nhãn, nên Ngài Anuruddha rất điêu luyện với năng lực thần thông này, trái lại các vị Thánh Alahán Lục thông khác không thiện xảo bằng. Cũng chính do thường xuyên phát huy đề mục ánh sáng, điều này trợ giúp Ngài Anuruddha không ngủ suốt 25 năm đầu.

Mặt khác, do ước nguyện trong quá khứ của Ngài Anuruddha là: “Thành tựu địa vị tối thắng về Thiên nhãn thông”, chính ước nguyện này là duyên giúp cho Ngài Anuruddha thường xuyên sử dụng năng lực thiên nhãn.

*Do thường xuyên sử dụng năng lực của thiên nhãn, Ngài Anuruddha phát hiện sự viên tịch của Ngàn Añña Koṇḍañña nơi hồ Maṇḍākinī trong rừng Chaddanta, Ngài cùng 500 vị Tỳkhưu theo đường hư không đến hồ Maṇḍākinī tham dự lễ hỏa táng di hài của Ngài Añña Koṇḍañña, sau đó thu gom Xálợi của Ngài Añña Koṇḍañña mang về trình lên Đức Thế Tôn([61]). Khi trú ở nơi đây, Ngài Anuruddha cùng các vị Tỳkhưu được Thiên tử Nāgadatta cúng dường sữa hòa với mật hoa sen.

*Khi Đức Thế Tôn thể hiện song thông để nhiếp phục ngoại giáo, rồi Ngài ngự lên cung trời Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba) để an cư mùa mưa lần thứ 7. Đại chúng nhân loại bổng nhiên thấy Đức Thế Tôn biến mất, phát sinh sự sầu khổ, đi đến bạch hỏi Ngài Moggallāna (MụcKiềnLiên) rằng:

– Thưa Tôn giả Moggallāna, Bậc Đạo sư hiện đang trú ngụ nơi nào?

Tuy thấu rõ Đức Thế Tôn an cư mùa mưa nơi cung trời Đạo Lợi, nhưng để tôn vinh Ngài Anuruddha, Ngài Moggallāna đáp rằng:

– Này đại chúng, các ngươi nên đến hỏi Tôn giả Anuruddha là bậc có thiên nhãn đệ nhất.

Và Ngài Anuruddha cho đại chúng biết: “Đức Thế Tôn an cư mùa mưa nơi cung trời Đạo lợi, sau ba tháng sẽ trở về nhân giới”([62]).

*Với thiên nhãn thông, Ngài Anuruddha nhìn thấy lễ hỏa thiêu nhục thân của Trưởng lão Sāriputta, Ngài đến tham dự lễ hỏa táng, khi  hỏa táng xong, Ngài Anuruddha dập tắt ngọn lửa bằng nước thơm.

*Thần thông.

Trong lần Đức Thế Tôn ngự lên cõi Phạm thiên để phá ác tà kiến của một vị Phạm thiện.

Vị Phạm thiên ấy có ác tà kiến như sau: “Không một Samôn hay Bàlamôn nào có thể đến đây

Với tâm mình, Đức Thế Tôn biết được ác kiến của Phạm thiên ấy, Ngài xuất hiện trên cõi ấy, ngồi kiết già ở giữa hư không trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phún lửa.

Ngài nuruddha với thiên nhản thuần tịnh siêu nhân, thấy được Đức Thế Tôn đang ngự nơi Phạm thiên giới, ngồi kiết già giữa hư không trên đầu Phạm thiên.

Ngài Anuruddha xuất hiện nơi Phạm thiên giới, ngồi kiết già giữa hư không về phía Bắc trên Phạm thiên ấy, dưới Đức Thế Tôn, toàn thân phún lửa (trong lần này có ba vị Thánh đại đệ tử khác là: Ngài Moggallāna (MụcKiềnLiên), ngồi ở hướng Đông ở trên vị Phạm thiên và ở dưới Đức Thế Tôn, Ngài Mahā Kassapa ngồi ở hướng Nam …, Ngài  Mahā Kappina ngồi ở hướng  Tây… toàn thân các Ngài đều phún lửa như thân Đức Thế Tôn)([63]).

*Các loại thần thông khác.

Trong tập Tương ưng kinh, phẩm Tương ưng Anuruddha, Ngài Anuruddha cho các Tỳkhưu biết Ngài thành tựu được “thập lực Như lai trí” (dasatathāgatabālañāṇa) như vị Chánh giác.

Ngài Buddhaghosa trong Bản Sớ giải kinh Tương ưng cho biết: “Tuy các vị Thánh đệ tử có khả năng thành tựu Như Lai tuệ lực này, nhưng chỉ hiểu biết một phần. Riêng Đấng Như Lai thì hiểu thấu trọn vẹn”.

Mười Như Lai lực đó là:

1’- Như thật biết rõ xứ là xứ, không phải xứ là không phải xứ  (ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṃ pajānāti) (tri thị xứ phi xứ lực).

2’- Như thật biết rõ  quả của nghiệp tùy thuộc vào xứ, nhân của quá khứ hiện tại, vị lai (atītānāgatapaccuppannānaṃ kammasamādānānaṃ ṭhānaso hetuso vipākaṃ yathābhūtaṃ pajānāti) (tri tam thế nghiệp quả lực).

3’- Như thật biết rõ con đường dẫn đến tất cả cảnh giới (sabbatthagāminiṃ paṭipadaṃ yathābhūtaṃ pajānāti) (tri nhất thiết đạo trí lực) .

4’- Như thật biết rõ thế gian([64]) với tất cả bản chất (dhātu), nhiều sai biệt khác khác (anekadhātunānādhātulokaṃ yathābhūtaṃ pajānāti) (tri thế gian chủng chủng tánh lực).

5’- Như thật biết rõ chí hướng sai biệt của các hữu tình (sattānaṃ nānādhimuttikataṃ yathābhūtaṃ pajānāti) (tri tha chúng sinh sinh chưởng chưởng dục lực).

6’- Như thật biết rõ các quyền([65]) củachúng sinh khác, của người khác tăng trưởng hay thấp kém (parasattānaṃ parapuggalānaṃ indriyaparopariyattaṃ yathābhūtaṃ pajānāti) (tri tha chúng sinh chư căn thượng hạ lực).

7’- Như thật biết rõ ô nhiễm hay thanh tịnh về chứng đắc thiền, giải thoát (jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ saṃkilesaṃ vodānaṃ vuṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ pajānāti) (tri chư thiền tam muội lực).

8’- Như thật biết rõ tiền kiếp của mình và chúng sinh khác (pubbenivāsasaññāṇa).

9’- Như thật biết rõ sự sinh- tử của chúng sinh (cutūpapātaññāṇa).

10’- Như thật biết rõ các ô nhiễm và diệt trừ mọi ô nhiễm (āsavakkhayaññāṇa)([66]).

Ngoài ra còn có những năng lực thần thông khác đã nêu ở trên như: Thiên nhĩ thông …

Trong các năng lực thần thông đã đạt được, Ngài Anuruddha thiện xảo hơn cả là thiên nhãn thông. Có lần, Đức Thế Tôn cùng rất nhiều Thánh đại đệ tử trú ngụ nơi khu vườn trong rừng Gosiṅga (Sừng bò)([67]), nhiều vị Thánh Đại đệ tử đi đến Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) để nghe pháp và Ngài Sāriputta  có lần lượt hỏi các vị ấy rằng:

– Hạng Tỳkhưu nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?

Ngài Anuruddha đáp rằng: “Vị Tỳkhưu có thiên nhãn, quán xét được ngàn thế giới, hạng Tỳkhưu ấy có thể làm cho khu rừng Gosinga chói sáng”([68]).

Chẳng những thành tựu được năng lực thần thông thiên nhãn, Ngài Anuruddha còn khéo huấn luyện hội chúng Tỳkhưu của mình thực hành pháp để đạt được năng lực này. Có thời Đức Thế Tôn trú nơi núi Gijjhakūṭa (núi Kên kên), Đức Thế Tôn đã hỏi các Tỳkhưu rằng

– Này các Tỳkhưu, các ngươi có thấy Anuruddha cùng với số đông Tỳkhưu đang đi kinh hành?.

– Thưa có, bạch Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, tất cả những Tỳkhưu ấy là bậc có thiên nhãn([69]).

đ- Không tranh chấp.

Tuy Ngài Auruddha không hề tranh chấp, nhưng Ngài không dạy được người đệ tử của mình là Tỳkhưu Abhiñjika đừng tranh chấp với vị Tỳkhưu khác. Trái lại Tỳkhưu Ahiñjika và Tỳkhưu Bhaṇḍa đệ tử của Tôn giả Ānanda thường tranh chấp với nhau về Pháp.

Có thời Đức Thế Tôn dạy Trưởng lão Mahā Kassapa rằng:

– Này Kassapa, hãy giảng pháp đến các Tỳkhưu. Này Kassapa, Ta hoặc ngươi phải giáo giới các Tỳkhưu; ngươi hoặc Ta phải giảng pháp đến các Tỳkhưu.

Trưởng lão Mahā Kassapa bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỳkhưu hiện tại; chúng ở trong tình trạng khó nói với chúng. Chúng không kính trọng lời Giáo giới.

Bạch Thế Tôn, ở đây con thấy Tỳkhưu Bhaṇḍa đệ tử của Ānanda và Tỳkhưu Abiñjika đệ tử của Anuruddha, hai vị đã nói với nhau:”Hãy đến này Tỳkhưu. Ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?”.

Đức Thế Tôn cho gọi hai vị Tỳkhưu này đến, Ngài khiển trách hai vị Tỳkhưu ấy. Hai vị hối hận về cách ứng xử của mình và hứa không để tâm này  khởi lên trong tương lai([70]).

Lại nữa,  tuy có năng lực thần thông, nhưng Ngài Anuruddha không thể thuyết phục Tôn giả Bāhiya, vị Tỳkhưu đồng trú với mình, đừng tham gia vào sự kiện chia rẽ giữa hai nhóm Tỳkhưu ở kinh thành Kosamī.

Có khả năng do khuynh hướng của Ngài là “bất can thiệp” vào những vấn đề giữa chúng Tăng, tựa như người về hưu, không màng tham gia thế sự.

Có thời Đức Thế Tôn trú ngụ nơi kinh thành Kosambi, nơi Tự viện Ghosita (Ghositārāma), rồi Tôn giả Ānanda đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên rằng:

– Này Ānanda, tranh sự (adhikaranaṃa) đã chấm dứt chưa?

– Bạch Thế Tôn, từ đâu tranh sự ấy chấm dứt được? Bāhiya, vị đồng trú với Tôn giả Anuruddha, hoàn toàn đứng về phía phá hòa hợp Tăng. Tuy vậy, Tôn giả Anuruddha nghĩ rằng không nên nói một lời nào cả.

– Này Ānanda, có khi nào Anuruddha lại can thiệp (yuñjati)([71]) vào những vấn đề tranh chấp giữa chúng Tăng? Phải chăng, này Ānanda, khi nào có sự tranh chấp gì khởi lên, chính ngươi, Sāriputta và Moggallāna làm chấm dứt tất cả tranh chấp ấy … (HT. TMC d)([72]).

Và khi tranh sự khởi lên giữa hai nhóm Tỳkhưu ở kinh thành Kosambi gay gắt, Ngài Anuruddha từ bỏ kinh thành Kosambi, đi đến rừng Pācīnavaṃsadāya trú ngụ chung với Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila.

*Bāhiya (1).

Là vị đồng trú với Ngài Anuruddha ở Tự viện Ghosita nói trên.

*Bāhiya (2).

Ngài xuất gia thọ giới trong Giáo pháp này khi tuổi khá cao, Ngài đi đến bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Lành thay, bạch Đức Thế Tôn, nếu Ngài thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp của Đức Thế Tôn, con sẽ sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

– Này Bāhiya, ngươi nghĩ thế nào, mắt là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, là vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, là khổ?

– Có hợp lý chăng, cái gì vô thường, khổ bị biến hoại, khi quán:” Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

(Tiếp theo Đức Thế Tôn dạy quán xét tương tự với các giác quan còn lại là: Tai, mũi, lưỡi, thân; các cảnh trần như: Cảnh sắc, thinh, mùi, vị và xúc; tiếp theo quán xét các cảm thọ: Lạc, khổ, không lạc không khổ theo mô thức trên).

– Thấy vậy, này Bāhiya, bậc đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với cảnh sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc  ….

Theo lời dạy của Đức Thế Tôn, Trưởng lão Bāhiya tinh cần thực hành pháp và Ngài trở thành vị Thánh Alahán([73]).

*Bāhiya (3) hay Bāhika.

Tôn giả Bāhiya đi đến bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Lành thay, bạch Đức Thế Tôn, nếu Ngài thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp của Đức Thế Tôn, con sẽ sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

– Này Bahiya, ngươi hãy làm cho trong sạch thiện pháp căn bản. Thế nào là làm cho trong sạch thiện pháp căn bản? Đó là Giới khéo thanh tịnh và tri kiến đúng.

Này Bāhiya, khi giới trong sạch, tri kiến đúng đắn, ngươi hãy tu tập bốn Niệm xứ, làm tăng trưởng bốn niệm xứ ….

Ngài Bāhiya vâng theo lời dạy của Đức Thế Tôn, tinh cần hành pháp và Ngài Bāhiya trở thành vị Thánh Alahán([74]).

Có khả năng hai Ngài Bāhiya (3) và (4) chỉ là một.

*Bāhiya Dārucīriya.

Ngài sinh ra trong một gia đình thương nhân nơi thị trấn Bāhiya nên được gọi như vậy([75]). Khi trưởng thành, Bāhiya nối nghiệp gia tộc và thường theo đường thủy để đi buôn.

Đã 7 lần Bāhiya theo dòng sông Ấn ra đại dương đến xứ Suvaṇṇabhūmi (Kim địa) buôn bán rồi trở về an toàn.

Lần thứ 8 thương nhân Bāhiya lại tổ chức chuyến đi buôn đến xứ Suvaṇṇabhūmi buôn bán, nhưng lần này bảo lớn khởi lên đánh chìm thương thuyền, những thủy thủ trên tàu mệnh chung, riêng Ngài Bāhiya nhờ bám vào tấm ván thuyền, sóng đánh tạt ván thuyền trôi vào bãi cát gần bến cảng Suppāraka. Khi tỉnh dậy, Bāhiya thấy mình lỏa thể, nên đi vào rừng tước vỏ cây kết thành tấm y để mặc che thân, tìm một vỏ sò lớn làm bát, đi đến bến cảng Suppākāra để khất thực.

Cư dân nơi bến cảng thấy một người mặc y vỏ cây từ trong rừng đi ra khất thực, cho rằng: “Đây là bậc Thánh Alahán, Ngài đến để tế độ chúng ta”., nên cung kính cúng dường đến Bāhiya thật trọng hậu. Khi cư dân mang đến cúng dường những chiếc y thượng phẩm, Bāhiya  suy nghĩ: “Nhờ chiếc y vỏ cây này ta được cư dân nơi đây tôn sùng, nếu ta nhận những chiếc y quý này, sự tôn kính cúng dường của họ đến ta sẽ mất hết”. Nên Bāhiya từ chối những chiếc y quý ấy, việc này khiến danh tiếng của Bāhiya tăng cao như: “Là người ít ham muốn, là người biết đủ …”.

Vì mặc chiếc y bằng vỏ cây nên Bāhiya được cư dân bến cảng Suppākār gọi là Bāhiya Dārucīriya (dāru: cây, cīra: y; dārucīriya: Y bằng vỏ cây).

Bāhiya Dārucīriya đi đến bìa rừng, dựng một thảo am tu tập nơi ấy.

Cư dân bến cảng tôn sùng  Bāhiya Dārucīriya là: “Đây là bậc Thánh Alahán”; lâu dần Bāhiya Dārucīriya có sự kiêu mạnh sinh khởi trong tâm là: “Ta là bậc Alahán trong đời, trong đời có những bậc Thánh Alahán, ta là một trong những vị ấy”.

Một vị Thánh Phạm thiên là bậc đồng phạm hạnh với tiền thân của Bāhiya Dārucīriya ở hai kiếp trước, thấy được tâm kiêu mạn cùng với ác kiến của Bāhiya Dārucīriya, nên khởi lòng bi mẫn đối với Bāhiya, suy nghĩ: “Ta hãy giúp Bāhiya Dārucīriya từ bỏ ác tà kiến cùng sự kiêu mạn này”..

*Câu chuyện quá khứ.

Thuở xưa vào thời Giáo pháp Đức phật Kassapa, khi Giáo pháp Đức Chánh giác đang dần dần đến thời hư hoại, có 7 vị Tỳkhưu nhìn thấy sự thực hành phi pháp của đông đảo các Tỳkhưu cùng các Sadi, phát tâm kinh cảm với phi pháp, đồng cùng nhau phát nguyện thực hành pháp, để duy trì Giáo pháp không cho nhanh chóng bị hư hoại.

Cả 7 vị Tỳkhưu đi vào rừng, nhìn thấy ngọn núi cao, rủ nhau rằng:

– Chúng ta hãy là những người Vô dục (Niralayā), không luyến tiếc ngay cả mạng sống của mình. Chúng ta hãy trèo lên đỉnh núi để thực hành pháp.

Bảy vị Tỳkhưu cùng nhau đi tìm cây rừng làm thành cái thang, bắt theo triền núi lên đến đỉnh núi, rồi xô thang rơi xuống, nguyện hành pháp cho đến khi chứng đạt Pháp thượng nhân.

Vị Trưởng lão cao hạ nhất trong 7 vị, qua một đêm tinh cần hành pháp chứng đạt Thánh quả Alahán, sáng ra Ngài dùng thần thông đi đến hồ Anotatta (hồ Lạnh) trong dãy HyMãlạpsơn, súc miệng tắm rửa sạch sẽ xong, Ngài đi đến BắcCưlưu châu (Kuru dīpa) khất thực, rồi theo đường hư không trở về đỉnh núi, gọi các vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Hiền giả, hãy dùng cây chà răng này, hãy dùng vật thực này đi.

Sáu vị Tỳkhưu không muốn thọ thực, nên hỏi rằng:

– Thưa Ngài, vì sao Ngài lại bảo chúng tôi như thế? Chúng ta có ước hẹn với nhau rằng: “Vị nào chứng Thánh quả Alahán trước, vị ấy sẽ đi tìm vật thực cho các vị còn lại chăng?”.

– Này các Hiền giả, chúng ta không có ước hẹn như vậy.

– Nếu vậy, bạch Ngài, khi nào chúng tôi chứng đạt Giác ngộ pháp, chúng tôi sẽ tự đi tìm vật thực cho mình. Xin thỉnh Ngài hãy dùng vật thực do tự mình tìm đi.

Nghe vậy, vị Thánh Alahán đành ra đi và  trong kiếp ấy Ngài viên tịch. Vào ngày thứ hai vị Trưởng lão kế tiếp tinh cần hành pháp chứng đạt Thánh quả Anahàm. Vị Thánh Anahàm lại đi đến hồ Anotatta súc miệng rửa mặt, rồi đi đến xứ Bắc Cưu lư châu khất thực mang về cho 5 vị còn lại, nhưng 5 vị còn lại kiên quyết không dùng vật thực và vị Thánh Anahàm lại ra đi. Mệnh chung Ngài sinh về cõi Tịnh cư (Suddhāvāsa)([76]), năm vị còn lại không chứng đạt Thánh quả chi cả, đến ngày thứ bảy thì mệnh chung, tất cả tái sinh về thiên giới.

Trong thời Đức Phật Gotama hiện tiền, cả năm vị cùng tái sinh về nhân giới trong những gia tộc danh giá, đó là: Du sĩ Sabhiya([77]), Đức vua Pukkusāti([78]), Vương tử Dabbamallaputta, ngoại đạo Bāhiya Dārucīriya và Vương tử Kumāra Kassapa. Còn vị Thánh Anahàm kiếp xưa nay là vị Thánh Phạm thiên được đề cập ở trên.

Vào đêm trăng tròn vị Phạm thiên Anahàm đi đến thảo am của Bāhiya với hào quang sáng rực một vùng, thấy hào quang rực sáng xuất hiện nơi thảo am của mình, bị lôi cuốn bởi vầng hào quang lạ kỳ, Bāhiya Dārucīriya bước ra khỏi thảo am của mình, nhìn thấy vị Phạm thiên đứng giữa hư không, Bāhiya Dārucīriya hỏi rằng:

– Thưa thiên nhân, Ngài là ai?

– Này Bāhiya, ta là người bạn đồng phạm hạnh của ngươi khi trước, vào thời Giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa đang trên đường hư hoại, ta là một trong 7 vị Tỳkhưu, trong đó có ngươi, cùng nhau lên đỉnh núi tu tập. Ta chứng đạt Anāgāmi (Bất lai), hiện ta tái sinh về Phạm thiên giới.

Này Bāhiya, ngươi chưa phải là bậc Alahán, vì ngươi chưa biết pháp thực hành để chứng đạt Thánh quả Alahán.

Kinh cảm trí sinh khởi trong tâm của Du sĩ Bāhiya Dārucīriya rằng:

– Chao ôi ! Ta đã phạm vào một ác kiến nặng rồi, ta tự phụ mình là bậc Alahán nhưng ta chưa phải là bậc Alahán, đồng thời không biết pháp thực hành để chứng đạt Thánh quả Alahán.

Ngài Bāhiya hỏi vị Phạm thiên rằng:

 – Thưa Ngài Phạm thiên, trong thế gian này ai là người thấu hiểu pháp hành dẫn đến Alahán Thánh đạo? Vị ấy đang trú ngụ nơi nào?

– Này Bāhiya, đó là Đức Thế Tôn Ngài là Bậc Chánh giác, Ngài đang trú ngụ nơi kinh thành Sāvatthi (Xávệ), ở về phía Bắc của bến cảng Suppāraka này. Này Bāhiya, Ngài không những là bậc Alahán, Ngài đã thuyết giảng pháp chứng đắc Thánh quả Alahán, đệ tử Ngài thành đạt Alahán nhiều không kể xiết.

Nghe lời dạy của vị Phạm Thiên, tâm Bāhiya vô cùng hân hoan, nói rằng:

– Thưa Ngài Phạm Thiên, tôi sẽ lên đường đến thành Sāvatthi (Xávệ) ngay đêm nay để tìm Bậc Đạo sư.

– Lành thay, lành thay, này Bāhiya.

Ngoại đạo Bāhiya Dārucīriya lập tức lên đường đi đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ) không chút chần chừ. Trong một đêm Bāhiya Dārucīriya vượt khoảng đường xa là 120 dotuần, đó là do thần lực của vị Thánh Phạm Thiên trợ giúp, Ngài dùng thần lực rút ngắn đoạn đường cho Bāhiya.

Khi ngoại đạo Bāhiya đi vào Đại tự Kỳviên, thì Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu đi vào thành Sāvatthi khất thực, Bāhiya Dārucīriya gặp các vị Tỳkhưu đang kinh hành nơi cổng Đại tự KỳViên để thân không bị dã dượi sau buổi điểm tâm, Bāhiya bạch hỏi rằng:

– Bạch các Ngài, Bậc Đạo sư hiện đang trú ngụ nơi nào?

– Này Hiền giả, Đức Thế Tôn cùng các vị Tỳkhưu ngự vào thành Sāvatthi khất thực rồi, Này Hiền giả, ngươi từ đâu đến đây?

– Bạch các ngài, tôi từ bến cảng Suppāraka đến đây?

– Này Hiền giả, ngươi khởi hành đến đây từ khi nào?

– Bạch các Ngài, tôi khởi hành từ đêm qua.

– Này Hiền giả, ngươi vượt chặng đường xa 120 dotuần trong một đêm, như vậy thân ngươi khá mệt. Vậy Hiền giả hãy rửa tay chân, dùng dầu xoa bóp chân, nghĩ nơi này cho khỏe. Khi Đức Thế Tôn trở về hãy đến đảnh lễ và hỏi pháp.

– Bạch các Ngài, tôi không thể biết tai hại sẽ khởi lên cho mạng sống của Bậc Đạo sư vào thời điểm nào, tôi cũng không biết sự tai hại đến mạng sống của tôi khởi lên vào thời điểm nào. Do vậy, tôi không thể vì một lý do nào mà chờ đợi, tôi đã cố gắng vượt đường dài 120 dotuần đến đây để mong diện kiến Đức Thế Tôn, tôi phải nỗ lực tìm đến Bậc Đạo sư rồi mới có thể nghỉ ngơi được.

Được các vị Tỳkhưu chỉ đường, Bāhiya lập tức đi vào thành Sāvatthi để tìm Bậc Đạo sư.

Bāhiya hối hả đi vào thành Sāvatthi, vừa trông thấy Đức Thế Tôn với Phật tướng xinh đẹp, tâm Bāhiya vô cùng hân hoan rằng:

– Thật sự Ngài là Bậc Alahán Chánh giác, vị có tướng hảo quang minh như thế này, ta mới được chiêm ngưỡng lần đầu trong đời.

Bāhiya nhanh chóng đi đến trước Đức Thế Tôn, đảnh lễ Đức Thế Tôn với cách năm chi chạm đất, rồi nằm dài trên đường, hai tay nắm chặt cổ chân của Đức Thế Tôn, bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, Ngài là Bậc Đạo sư của con, con là đệ tử của Ngài. Xin Ngài hãy giảng pháp vắn tắt đến con.

Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này Bāhiya, bây giờ không phải thời Giảng pháp, đây là thời Như Lai đi khất thực.

Bāhiya van nài rằng:

– Bạch Thế Tôn, con không thể biết tai hại đến mạng sống của Ngài hay của con vào thời điểm nào. Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy giảng pháp vắn tắt đến con.

Lần thứ hai Đức Thế Tôn từ khước rằng:

– Này Bāhiya, bây giờ không phải thời Giảng pháp, đây là thời Như Lai đi khất thực.

 Bāhiya lại van nài rằng:

– Bạch Thế Tôn, con không thể biết tai hại đến mạng sống của Ngài hay của con vào thời điểm nào. Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy giảng pháp vắn tắt đến con.

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn hai lần từ chối lời thỉnh cầu của Bāhiya?

Đáp. Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Bāhiya vượt đường dài 120 dotuần để mong diện kiến Đấng Như Lai, khi vừa trông thấy Như Lai, tâm của Bāhiya rất hân hoan thấm nhuần cả châu thân, Thân tâm của Bāhiya đang bị hỷ lạc quá mạnh chi phối, dù có nghe được pháp cũng không thể lãnh hội trọn vẹn, Như Lai hãy khiến tâm của Bāhiya trở lại trạng thái quân bình xả, không còn ở trạng thái hỷ lạc quá mạnh chi phối, khi ấy Bāhiya nghe pháp mới lãnh hội trọn vẹn”. Do đó, Đức Thế Tôn từ chối lời khẩn cầu của Bāhiya hai lần, giúp cho tâm Bāhiya quân bình trở lại.

Bāhiya khẩn cầu lần thứ ba rằng:

– Bạch Thế Tôn, con không thể biết tai hại đến mạng sống của Ngài hay của con vào thời điểm nào. Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy giảng pháp vắn tắt đến con.

Đức Thế Tôn quán xét thấy rằng:

* Tâm của Bāhiya Dārucīriya đã quân bình trở lại, đang ở trong trạng thái điềm tỉnh.

* Đã nghỉ ngơi dứt trừ sự mệt mỏi về thân.

* Các quyền như: Tín, tấn, niệm, định, tuệ đã tăng trưởng đầy đủ.

* Sự tử vong sắp khởi lên cho Bāhiya.

 Đức Thế Tôn quyết định giảng pháp đến Bāhiya Dārucīriya, Ngài dạy rằng:

– Này Bāhiya, ngươi nên học tập như vầy.

Diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati.

Sute sutamattaṃ bhavissati.

Mute mitamattaṃ bhavissati.

Viññāṇe viññātamattaṃ bhavissati.

“Trong sự thấy chỉ là cái biết của thấy.

Trong sự nghe chỉ là cái biết của nghe.

Trong sự hiểu chỉ là cái biết của hiểu.

Trong sự nhận thức chỉ là cái biết của nhận thức”.

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn chỉ đề cập đến hai giác quan là mắt (thấy) và tai (nghe)? Các giác quan như mũi, lưỡi thân thì như thế nào?

Đáp. Cần hiểu rộng ý nghĩa lời dạy ngắn gọn của Đức Thế Tôn như sau:

a- Này Bāhiya, ngươi nên tu tập như sau: “Khi thấy bất kỳ cảnh sắc nào: thô thiển, vi tế, xa, gần, trong, ngoài, tốt, xấu, quá khứ, vị lai hay hiện tại, hãy hiểu biết rằng “chỉ là sự thấy, không có người thấy”. Khi nghe bất kỳ âm thanh nào: Thô thiển, vi tế … hay hiện tại, hãy hiểu biết rằng “chỉ có sự nghe, không có người nghe”. Tương tự với ba giác quan còn lại là: “Chỉ có sự ngửi, không có người ngửi; chỉ có sự nếm, không có người nếm; chỉ có sự đụng, không có người dụng”.

Đối với cảnh pháp chỉ có sự nhận thức (ý) không có người nhận thức.

b- Này Bāhiya, khi ngươi ghi nhận được như thế, tâm ngươi sẽ không còn dính mắc đến sáu cảnh cùng sáu thức ấy.

c- Này Bāhiya, khi không dính mắc đến sáu cảnh cùng sáu thức thì tam, sân, phóng dật, tà kiến, ngã mạn không có cơ hội sinh khởi qua sáu cảnh hay 6 thức. Và như thế ngươi không có ý nghĩ “là ta (do tham), là của ta (do ngã mạn), là tự ngã của ta (do tà kiến)”.

d- Này Bāhiya, do không có tà kiến, mạn và tham, ngươi sẽ giải thoát, không còn tái sinh.

Đức Thế Tôn thuyết ngắn gọn về uẩn (khandha) và diệt uẩn (tức Nípbàn).

Do Bāhiya là người đang mong cầu sự ngắn gọn (saṅkhittaruci puggala), nên Đức Thế Tôn không đi vào chi tiết. Và kệ ngôn trên được gom thành bốn nhóm: Những gì được thấy (diṭṭha), những gì được nghe (suta), những gì được biết (muta) và những gì được nhận thức (viññāta).

Nghe dứt kệ ngôn, Ngài Bāhiya Dārucīriya  chứng đạt Thánh quả Alahán cùng với Tuệ phân tích (Paṭisambhidāñāṇa), bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, xin Ngài từ mẫn cho con được xuất gia sống đời sống Phạm hạnh trong Giáo pháp này.

– Này Bāhiya,  ngươi có y bát chưa?.

– Bạch thế Tôn, con chưa có y bát.

– Này Bāhiya, hãy đi tìm y bát đi.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Ngài Bāhiya đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ra đi tìm y bát. Một nữ dạxoa đi đến vừa trông thấy Ngài Bāhiya, khởi sinh tâm phẫn nộ, hóa thân thành con bò cái hung dữ chạy đến dùng đôi sừng nhọn bén húc tung Ngài Bāhiya lên không trung rồi rơi xuống trên đống rác, Không lâu sau Ngài Bāhiya mệnh chung.

Hỏi. Vì sao Đức Thế Tôn không cho Ngài Bāhiya xuất gia bằng năng lực thần thông theo  cách Ehibhikkhu … (Hãy đến đây này Tỳkhưu …)?.

Đáp. Trong quá khứ tiền thân Ngài Bāhiya chưa từng cúng dường y bát đến vị Samôn nào, ngay cả trong thời Giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, tiền thân Ngài Bāhiya xuất gia Tỳkhưu trong Giáo pháp của Đức Phật Kassapa, tuy thực hành Samôn pháp suốt 10 ngàn năm, Ngài giữ đúng hạnh Tỳkhưu, chỉ thọ dụng tứ vật dụng do mình tìm được, không xin bất kỳ vật gì của vị khác đồng thời cũng không bố thí y bát đến bất kỳ vị Samôn nào.

Do vậy, tuy chứng Thánh quả Alahán, nhưng thiếu duyên lành y bát phát sinh do năng lực thần thông của Đức Phật bằng cách Ehibhikkhu … nên Đức Thế Tôn không cho xuất gia bằng năng lực thần thông.

Một số Giáo thọ sư giải thích rằng: Trong thời gian giữa hai vị Phật Kassapa và Gotama, tiền thân Ngài Bāhiya từ cảnh giới chư thiên tái sinh về nhân giới. Bấy giờ là thời của những vị Paccekabuddha (Độc Giác Phật), tiền thân của Bahiya đã dùng cung tên bắn chết Đức Phật Độc Giác để cướp lấy y bát, nên y bát không thể phát sinh cho Bāhiya, cho dù Đức Phật có gọi “Ehi bhikkhu”([79]).

Hỏi. Vì sao nữ dạxoa vừa trông thấy Ngài Bāhiya lại phát sinh tâm phẫn hận?

Đáp. Do tiền nghiệp oan trái trong quá khứ. Nữ dạxoa hóa thân làm bò cái do 500 kiếp sinh làm bò.

Tương truyền: Vào thời quá khứ, có bốn Công tử thuê một nàng kỹ nữ xinh đẹp đắc giá nhất trong kinh thành với giá 1.000 đồng tiền vàng. Họ đi vào vườn Ngự Uyển của Đức vua để vui chơi và hưởng lạc thú với nàng kỹ nữ.

Vào buổi chiều, bốn Công tử bàn tính với nhau rằng:

– Nơi này vắng vẻ không người lai vãng, chúng ta hãy giết nàng này để khỏi phải trả thù lao 1.000 đồng vàng, đồng thời tước đoạt những trang sức quý mà nàng mang trên mình.

Nghe được sự bàn tính của bốn Công tử, nàng kỹ nữ nghĩ rằng:

– Các ngươi là những kẻ vô sĩ, đã cùng ta hưởng lạc thú, giờ đây lại muốn sát hại ta, Ta sẽ có cách đối phó với các ngươi.

Khi bị sát hại sắp mệnh chung, nàng kỹ nữ nguyền rằng:

– Các ngươi đã giết ta, ta nguyện làm dạxoa sát hại các ngươi, để trả hận này.

Trải qua dòng luân lưu trong luân hồi, trong kiếp này bốn Công tử khi xưa nay là: Ngài Bāhiya, Ngài Pukkusāti, Đao phủ Nanh đồng([80]) và Ngài Suppabuddha (cùi)([81]). Nàng kỹ nữ nay tái sinh thành nữ Dạxoa. Nữ Dạxoa này khi gặp bốn vị trên, đột nhiên phẫn nộ hóa thân thành bò cái húc chết lần lượt cả bốn vị([82]).

Đức Thế Tôn cùng các Tỳkhưu vào thành Sāvatthi (XáVệ) khất thực, sau khi thọ thực vào buổi trưa xong, Ngài cùng các Tỳkhưu ra cửa thành trở về Đại tự KỳViên (Jetavanavihāra), Ngài đi đến đống rác thấy thi hài Ngài Bāhiya Dārucīriya nằsm trên đống rác, dạy các vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhuu, đây là thi hài của vị đồng phạm hạnh của các ngươi. Hãy kêu gọi các cận sự nam nữ mang thi hài Bāhiya Dārucīriya ra ngoài cổng thành hỏa thiêu rồi lập tháp thờ Xálợi của vị ấy.

Các vị Tỳkhưu làm theo lời dạy của Đức Thế Tôn.

Vào buổi chiều nơi Giảng Pháp đường trong Đại tự KỳViên, các vị Tỳkhưu bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, ngoại đạo Bāhiya Dārucīriya bị bò húc chết bất ngờ như vậy, Bāhiya Dārucīriya tái sinh về cảnh giới nào?

– Này các Tỳkhưu, Bāhiya Dārucīriya đã viên tịch (parinibbāna).

Sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, Đức Thế Tôn hân hoan nói lên kệ cảm hứng (udāna) như sau:

Yattha āpo ca pathavī; tejo vāyo na gādhati.

Na tattha sukkā jotanti; ādicco nappakāsati.

Na tattha candimā bhāti; tamo tattha na vijjati.

“Nơi nào nước và đất; lửa gió không đứng vững.

Nơi  ấy không sao([83])sáng; mặt trời không rực chiếu.

Nơi ấy  trăng không rạng; nơi ấy, không u ám”.

Yadā ca attanāvedi; muni monena brāhmaṇo.

Atha rūpā arūpā ca; sukhadukkhā pamuccatī’’ti.

“Khi bậc trí tự mình; ẩn sĩ Phạm chí với trí tuệ.

Như vậy sắc và vô sắc; thoát ra mọi lạc khổ”([84]).

Các vị Tỳkhưu bạch hỏi thêm rằng:

 – Bạch Thế Tôn, Bāhiya Dārucīriya chứng Thánh quả Alahán khi nào?

– Này các Tỳkhưu, khi nghe Như Lai thuyết pháp vắn tắt.

– Bạch Thế Tôn, khi đứng giữa đường Đức Thế Tôn thuyết quá ngắn gọn, chỉ có bấy nhiêu mà Bāhiya Dārucīriya vẫn có thể chứng đắc Thánh quả Alahán sao?

– Này các Tỳkhưu, Pháp của Đấng Như Lai không nên tính bằng số lượng. Thật vậy, dù thuyết hằng ngàn câu vô ích cũng chẳng có lợi ích gì, chỉ một kệ ngôn có ích còn cao quý hơn.

Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích hợp với cơ tánh của hội chúng rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn:

101- Sahassamapi ce gāthā; anatthapadasaṃhitā.

Ekaṃ gāthāpadaṃ seyyo; yaṃ sutvā upasammati.

“Dầu nói ngàn câu kệ; nhưng không gì lợi ích.

Tốt hơn nói một câu; nghe xong được tịnh lạc”(HT.TMC d).

Dứt kệ ngôn, nhiều thính chúng chứng Thánh quả Dự lưu([85]).

Nhân đó, giữa hàng tứ chúng Đức Thế Tôn dạy rằng:

Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhunaṃ khippābhiññāṇaṃ yadidaṃ bāhiyo dārucīriyo:

“Này các Tỳkhưu, trong số những Tỳkhưu đệ tử Như Lai, tốc trí đệ nhất là Bāhiya Dārucīriya”([86]).

   Ngài Bāhiya Dārucīriya được gọi là pacchimabhavika (người gặp (Đức Phật) lần đầu).

Tiền sự.

Cách trái đất này trở về trước 100 ngàn kiếp trái đất, vào thời Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa), tiền thân của Ngài Bāhiya Dārucīriya khi ấy là một Đại trưởng giả trong thành Haṃsavatī. Gia chủ này chứng kiến một vị Trưởng lão được Đức Thế Tôn ban cho địa vị “Đệ nhất về hạnh tốc trí”, gia chủ ấy có ước nguyện đạt thành địa vị ấy trong thời Đức Chánh Giác trong tương lai. Gia chủ cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng rất trọng thể suốt 7 ngày, rồi ước nguyện dưới chân Đức Phật Padumuttara, thành tựu địa vị “Đệ nhất tốc trí trong hàng Tỳkhưu”.

Đức Thế Tôn Padumuttara tiên tri rằng: “Sau 100 ngàn kiếp trái đất kể từ kiếp trái đất này, ước nguyện của gia chủ này sẽ trở thành hiện thực trong thời Giáo pháp của Đức Chánh Giác có Hồng danh Gotama”.

4- Ngài Anuruddha với các cận sự,

a- Với nữ nhân.

*Các Thiên nữ.

Trong kiếp trước tiền thân của Ngài Anuruddha là vị Vua Trời Sakka (ĐếThích). Khi Ngài tái sinh về cõi nhân loại, các Thiên phi vẫn còn nơi Thiên giới Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba), không thấy vua Trời Sakka đến viếng Thiên cung của mình, các thiên phi đưa thiên nhãn quán xét thấy được hậu thân của Vua Trời Sakka nay là Tôn giả Anuruddha, các Thiên phi cho rằng: “Do Ngài xuống nhân giới vui chơi rồi bị đọa lạc”, các Thiên phi muốn nhắc nhở vị Thiên vương bị đọa nhanh chóng quay về thiên giới, nên đi đến quyến rũ Tôn giả Anuruddha.

Khi Tôn giả Anuruddha trú ngụ nơi Tự viện Ghositārāma trong kinh thành Kosambi. Vào ban ngày, Ngài tìm nơi thanh vắng để nghỉ trưa, an trú tâm trong thiền tịnh, rồi nhiều thiên nữ với thân hình khả ái do ý hóa hiện (manāpakāyikā), đi đến  đảnh lễ Ngài Anuruddha rồi đứng một bên thưa rằng:

– Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi là những thiên nữ có thân khả ái do ý hóa hiện. Chúng tôi có quyền lực là tự tại trên ba phương diện (tīsu ṭhānesu).

Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi muốn có dung sắc (vaṇṇaṃ) như thế nào, lập tức có được dung sắc ấy; chúng tôi muốn có danh tiếng (paṭilabhāma) như thế nào, lập tức có được danh tiếng ấy; chúng tôi muốn được an lạc (sukhaṃ) như thế nào; có được an lạc ấy ngay lập tức.

  Tôn giả Anuruddha suy nghĩ: “Mong tất cả các thiên nữ này trở thành xanh, có dung sắc xanh, y phục xanh, trang điểm xanh”.

Các thiên nữ biết được ý của Tôn giả Anuruddha, tất cả đều trở thành xanh, có dung sắc xanh, y phục xanh, trang điểm xanh.

Rồi Tôn giả Anuruddha suy nghĩ: “Mong rằng tất cả thiên nữ này trở thành vàng, có dung sắc vàng, y phục vàng, trang điểm vàng …. tất cả trở thành đỏ … tất cả trở thành trăng…

Các thiên nữ ấy một người hát, một người múa, người vỗ tay hòa nhịp… Nhưng Tôn giả nhiếp phục các quyền.

Các thiên nữ nghĩ rằng: “Tôn giả Anuruddha không có thưởng thức” liền biến mất tại chỗ.

Vào buổi chiều, Tôn giả đi đến Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, tường thuật đến Đức Thế Tôn sự kiên trên, rồi bạch hỏi rằng:

– Bạch Thế Tôn, thành tựu bao nhiêu pháp, nữ nhân sau khi thân hoại mệnh chung được tái sinh cộng trú với các thiên nữ có thân khả ái do ý hóa hiện?

– Này Anuruddha, đầy đủ 8 pháp, nữ nhân sau khi mệnh chung được cộng trú với các thiên nữ có thân khả ái do ý hóa hiện. Thế nào là 8 pháp?

1- Thương yêu chồng và làm tròn phận sự người vợ.

2- Cung kính những đối tượng mà người chồng cung kỉnh, không có tâm ganh tỵ.

3- Thông thạo và siêng năng trong công việc nhà.

4- Biết rõ năng lực các gia nhân trong nhà.

5- Gìn giữ tài sản do chồng tìm được, không lãng phí.

6- Nương nhờ Tam Bảo.

7- Giữ gìn giới hạnh tốt đẹp.

8- Thỏa thích trong sự bố thí, cúng dường([87]).

            Do sự kiện này, Ngài Anuruddha với Thiên nhãn thông khi quán xét thế gian, Ngài thường lưu ý đến nữ nhân, thấy các nữ nhân, sau khi mệnh chung phần lớn tái sinh vào một trong bốn khổ cảnh như: Cõi dữ([88]), ác thú, đọa xứ([89]) và địa ngục.

Ngài Anuruddha đi đến bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, do đầy đủ bao nhiêu pháp, các nữ nhân sau khi mệnh chung, tái sinh vào: Cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?.

– Này Anuruddha, do thành tựu ba pháp, các nữ nhân sau khi mệnh chung, tái sinh vào: Cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là ba?

* Vào buổi sáng, sống ở trong nhà, tâm các nữ nhân bị ám ảnh nhiều bởi nhơ bẩn xan tham (maccheramala pariyuṭṭhitena cetasā)([90]).

*Vào buổi trưa, sống ở trong nhà, tâm các nữ nhân bị ám ảnh nhiều bởi nhơ bẩn đố kỵ (issā)([91]).

*Vào buổi chiều, sống ở trong nhà, tâm của các nữ nhân bị ám ảnh bởi dục tham([92]).

Này Anuruddha, do đầy đủ ba pháp này, các nữ nhân sau khi mệnh chung, phần lớn tái sinh vào: Cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục([93]).

  Trong tập Saṃyutta nikāya (kinh Tương Ưng), phẩm Tương ưng nữ nhân (Mātugāmasaṃyuttaṃ), có ghi nhận những lời giảng của Đức Thế Tôn về nữ nhân qua sự bạch hỏi của Ngài Anuruddha. Bài kinh ở trên cũng được ghi nhận trong chương Tương ưng nữ nhân này.

Ngoài ra, Đức Thế Tôn còn dạy:

a- Đầy đủ năm pháp, nữ nhân sau khi mệnh chung sinh về cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là năm?

“Là bất tín, là không hổ thẹn với tội lỗi, là không ghê sợ với tội lỗi, là phẫn nộ (kodha) và là ác tuệ”([94]).

Những bài kinh kế tiếp cũng đề cập 5 pháp, chỉ thay thế pháp thứ tư  phẫn nộ bằng: Có hận (upanāhī), ganh tỵ (issukī), bỏn xẻn (maccharī), phạm dâm (aticārī), ác giới (dussīla), ít nghe (appasuta), biếng nhác (kusīta); thất niệm (mutthasati).

 b- Đầy đủ năm pháp, nữ nhân sau khi mệnh chung sinh về cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là năm?

“Sát sinh, lấy của không cho, tà hạnh trong dục, nói dối và uống rượu men, rượu nấu”([95]).

Với thiên nhãn siêu nhân, Ngài Anuruddha thấy nữ nhân sau khi mệnh chung được tái sinh về cảnh giới chư thiên.

Ngài Anuruddha đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, bạch hỏi rằng:

– Bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, con thấy nữ nhân sau khi mệnh chung được tái sinh về thiên giới. Bạch Thế Tôn, đầy đủ bao nhiêu pháp, nữ nhân sau khi mệnh chung đước tái sinh về thiên giới?

– Này Anuruddha, do đầy đủ năm pháp, nữ nhân khi mệnh chung được tái sinh về thiên giới. Thế nào là năm?

“ Là có lòng tin, có hổ thẹn với tội lỗi, có ghê sợ với tội lỗi, không phẫn nộ, có trí tuệ”([96]).

Các bài kinh kế tiếrp tương tự, chỉ thay thế pháp thứ tư là không phẫn nộ bằng: Không có hận, không ganh tỵ, không bỏn xẻn, không phạm dân, không ác giới, không ít nghe, không biếng nhác, không thất niệm, không vi phạm vào năm giới.

*Thiên nữ Jālini (hay Jālinī).

Một thiên nữ có tên là Jālini, vì nàng có thân hình mềm mại như tấm lưới nên có tên gọi như thế. Thiên nữ này là một thiên phi được vua Trời Sakka sủng ái, Thiên phi Jālinī cho rằng Thiên vương Sakka vì ham vui nơi nhân giới nên bị đọa lạc, nàng mong mỏi Tôn giả Anuruddha nhanh chóng quay trở về Thiên giới, nàng Jālinī biết được Tôn giả Anuruddha là người hành trì dhutaṅga (Đầuđà) mặc y cũ rách (paṃsukūla) như theo lời tự thuật của Ngài.

896- Piṇḍapātapaṭikkanto; eko adutiyo muni.

Esati paṃsukūlāni; anuruddho anāsavo.

“Đi khất thực trở về; vị ẩn sĩ một mình đơn độc.

Tìm vải đáng quăng bỏ; Anuruddha không ô nhiễm”

897- Vicinī aggahī dhovi; rajayī dhārayī muni.

Paṃsukūlāni matimā; anuruddho anāsavo.

“Ẩn sĩ thu nhặt lấy; giặt, nhuộm và đấp mặc.

Loại vải đáng quăng bỏ;  Anuruddha không ô nhiễm”[97].

Sau khi mãn mùa an cư ở kinh thành Vương xá (Rājagaha) (có khả năng vào hạ thứ 17 của Đức Thế Tôn, vì theo Bản Sớ giải kinh Pháp cú khi ấy đã có 80 vị Thánh ALaHán đại đệ tử), Ngài Anuruddha đi tìm y.

Nàng Thiên nữ Jālinī muốn cúng dường thiên y đến Ngài Anuruddha, nhưng e ngại Ngài Anuruddha không nhận y từ tay người thí chủ cúng dường, nàng Jālinī mang ba khúc thiên y dài 13 hắc tay (# 6,5 m), rộng bốn hắc tay (# 2m), vùi vào đống rác nằm trên đường đi tìm y của Ngài Anuruddha, ló một ít chéo vải y ra ngoài.

Nhìn thấy chéo vải y ló ra từ đống rác, Ngài Anuruddha đi đến kéo ra thấy vải rất tốt, dài và rộng đủ để làm thành tấm y, nên nhặt lấy ba mảnh y quý mang về.

Khi Ngài Anuruddha làm y để mặc, Đức Thế Tôn cùng 80 vị Đại đệ tử và 500 Tỳkhưu tùy tùng đến nơi làm y của Ngài Anuruddha.

Trưởng lão Mahā Kassapa ngồi một góc để may y, Trưởng lão Sāriputta ngồi ở giữa tấm y, Trưởng lão Ānanda ngồi ở đầu tấm y, các vị khác lo xe chỉ, Đức Thế Tôn xỏ chỉ vào lỗ kim, Trưởng lão Mahā Moggallāna đi qua lại  xem chỗ nào cần dùng vật dụng nào thì mang đến.

Quang cảnh này khiến Thiên nữ Jālinī vô cùng hoan hỷ, nàng hóa thân đi vào kinh thành Vương xá kêu gọi rằng:

– Này các người thân mến, hôm nay Trưởng lão Anuruddha làm y, có Đức Phật cùng 80 vị Thánh Đại đệ tử cùng 500 vị Tỳkhưu tùy tùng đến giúp Trưởng lão Anuruddha làm y. Chúng ta hãy cúng dường vật thực đến cho các Ngài đi.

Theo lời của Thiên nữ Jālinī, cư dân trong thành Vương Xá mang vật thực đến cúng dường Đức Phật và chư Thánh Tăng.

Vua Trời Sakka cũng hân hoan đi đến nơi làm y, đánh bóng mặt nền nơi làm y sáng bónglên như thoa lên mặt nền một lớp ke0 bóng. Cư dân cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng rồi đặt vật thực lên nền bóng sáng ấy, giữa hai bữa ăn: Điểm tâm và buổi trưa.

Ngài Mahā Moggallāna dùng thần thông đi đến đỉnh núi Tuyết, mang về những trái trâm đỏ để Đức Thế Tôn cùng chư Tỳkhưu dùng giải khát.

Chư Tỳkhưu dùng vật thực không hết, tàn thực còn lại được xếp lại như ngọn đồi nhỏ, các vị Tỳkhưu phàm phàn nàn rằng:

– Chỉ với số lượng Tỳkhưu như vầy, sao các gia chủ lại cúng dường quá nhiều như vậy. Có lẽ Tôn giả Anuruddha muốn cho chúng ta biết: “Tôn giả Anuruddha có rất đông đảo người hộ độ như vậy chăng?”.

Với thiên nhĩ siêu nhân, Đức Thế Tôn nghe được sự bàn luận của Tăng chúng, Ngài ngự đến Giảng pháp đường, ngồi vào chỗ ngồi được soạn sẵn,  hỏi rằng:

– Này các Tỳkhưu, các ngươi đang bàn luận về vấn đề gì?

Các vị Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn vấn đề đang bàn luận, Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, con trai Như Lai là Anuruddha không có làm như vậy đâu; lẽ thường bậc không còn mọi ô nhiễm, không có ý khoe khoang.

Sự cúng dường vật thực này là do Thiên nữ Jālinī kêu gọi cư dân trong thành Vương xá  thực hiện.

Sau khi thuyết lên Pháp thoại thích hợp, Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn:

93- Yassāsavā parikkhīṇā; āhāre ca anissito.

Suññato animitto ca; vimokkho yassa gocaro.

Ākāseva sakuntānaṃ; padaṃ tassa durannaya’’nti.

“Người diệt trừ mọi ô nhiễm; không dính mắc vật thực.

Rỗng không và vô tướng; hành xứ vị ấy giải thoát.

Như chim giữa hư không; không tìm thấy dấu chân”.

Kệ ngôn mang Thánh quả đến thính chúng rất nhiều([98]).

Khi Ngài Anuruddha trú ngụ trong khu rừng của xứ Kosala (KiềuTấtLa), bấy giờ Ngài đã già yếu, Thiên nữ Jālinī đi đến Ngài Anuruddha, yêu cầu Ngài hãy hướng tâm đến cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba) để được tái sinh về đó, nàng nói kệ ngôn như sau:

Tattha cittaṃ paṇidhehi; yattha te vusitaṃ pure.

Tāvatiṃsesu devesu; sabbakāmasamiddhisu.

Purakkhato parivuto; devakaññāhi sobhasī’’ti.

“Hãy hướng tâm tư ngươi; vào đời trước của ngươi,

Giữa Tam thập tam thiên; mọi ái dục thành tựu.

Và ngươi được chói sáng; giữa thiên nữ đoanh vây”.

(Anuruddha).

Duggatā devakaññāyo; sakkāyasmiṃ patiṭṭhitā.

Te cāpi duggatā sattā; devakaññāhi patthitā’’ti.

“Bất hạnh thay thiên nữ;chúng kiên trú thân kiến.

Cũng bất hạnh, chúng sinh; bị thiên nữ chinh phục”.

(Jālinī).

Na te sukhaṃ pajānanti; ye na passanti nandanaṃ.

Āvāsaṃ naradevānaṃ; tidasānaṃ yasassina’’nti.

“Chúng chưa biết hạnh phúc; chúng chưa thấy Nandana.

Trú xứ các thiền nhơn; danh xưng giới Tam thập”.

(Anuruddha).

Na tvaṃ bāle vijānāsi; yathā arahataṃ vaco.

Aniccā sabbasaṅkhārā; uppādavayadhammino.

Uppajjitvā nirujjhanti; tesaṃ vūpasamo sukho.

“Kẻ ngu, ngươi không biết; lời nói bậc LaHán.

Mọi hành là vô thường; phải chịu luật sinh diệt.

Chúng sinh rồi chúng diệt; nhiếp chúng là an lạc.

Natthi dāni punāvāso; devakāyasmi jālini.

Vikkhīṇo jātisaṃsāro; natthi dāni punabbhavo’’ti.

“Hiện nay đối với ta; không còn chỗ trú xứ.

Trên cảnh giới chư thiên; ôi ! này Jālinī.

Đường sinh tử đứt đoạn; nay tái sinh không còn”(HT.TMC d)([99]).

Trong tập Kệ ngôn Trưởng lão Tăng (Theragāthā), Ngài Anuruddha có nhắc lại sự kiện này với kệ ngôn:

908- Natthi dāni punāvāso; devakāyasmi jālini.

Vikkhīṇo jātisaṃsāro; natthi dāni punabbhavo.

“Nay không còn tái sinh; trong thế giới chư thiên.

Này kẻ gieo cạm bẫy([100]); giòng sinh tử đoạn tận.

Nay không còn tái sinh” (HT. TMC d)([101]).

*Nandavana (rừng Hoan Hỷ).

Là khu rừng chánh trên cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba), đây là nơi du ngoạn của chư thiên, luôn cả vua Trời Sakka([102]).

Gọi là rừng Hoan Hỷ (Nandavana) vì mang đến sự hân hoan cho những ai đến thăm viếng du ngọan([103]). Các Đạo sĩ chứng đạt Thần thông cũng thường lên Thiên giới Tāvatiṃsa nơi rừng Nanda này để nghỉ trưa, như Đạo sĩ Asita, đạo sĩ  Nārada([104])

Các vị vua Chuyển Luân khi mệnh chung sẽ tái sinh về Thiên giới Tāvatiṃsa ngay tại khu rừng này, được đoanh vây bởi các thiên nữ([105]).

Mỗi thiên giới đều có một Nandavana, chư Thiên khi thấy được 5 hiện tượng báo tử đến cho mình, liền đi vào khu rừng này, để hồi tưởng lại những thiện nghiệp, hoặc quên đi sự chết đã đến gần, Khi mệnh chung, thân thể biến mất không còn dấu tích tựa như giọt dầu mè rơi vào chảo nóng sẽ tan biến ngay không lưu lại cặn bả.

Bồtát trước khi tái sinh về nhân loại kiếp chót để thành đạt Chánh Đẳng Giác, Ngài  là vị Thiên tử ở cõi trời Tusita (ĐẩuSuất) khi thấy 5 hiện tượng báo tử khởi lên cho mình, đồng thời nhận lời thỉnh cầu của chư Phạm thiên, chư Thiên trong 10 ngàn thế giới, Ngài đi vào rừng Nanda, sau đó tái sinh vào thai bào của bà Hoàng Mahā Māyā([106]).

Trong Nandavana có hồ Nandana([107]); theo tập Mahāvastu (Đại sử) thì trong rừng Nanda có Thiên cung Ekapuṇḍarīka (cây Xoài trắng)([108]).

*Cận sự nữ Rohinī.

Người em gái của Ngài Anuruddha là công nương Rohinī, nàng bị chứng ghẻ lỡ ngoài da, Ngài Anuruddha dạy nàng Rohinī cách tạo phước báu lớn là kiến tạo một Giảng đường, cúng dường trú xứ này đến Tăng chúng, có Đức Thế Tôn là vị Lãnh đạo, nhờ đó nàng dứt trừ bịnh ghẻ lở, chứng đắc Thánh quả Dự Lưu. Mệnh chung, nàng tái sinh về Thiên giới Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba), là vị Thiên phi của vua Trời Sakka([109]).

*Một nàng góa phụ.

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Jetavanavihāra (Đại tự KỳViên) do Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) cúng dường.

Bấy giờ Ngài Anuruddha trên đường đi đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ) để yết kiến Đức Thế Tôn.

Vào lúc chiều tối, Ngài ghé lại một ngôi làng, trong ngôi làng có một nhà nghỉ trọ, chủ nhân nhà nghỉ trọ là một nàng góa phụ xinh đẹp, đồng thời có nhiều tài sản.

Ngài Anuruddha đi đến gặp nàng góa phụ, nói  rằng:

– Này chị, nếu chị không phiền lòng, tôi có thể ngụ một đêm ở phước xá này?.

– Thưa Ngài, Ngài có  thể ngụ lại nơi đây.

Có nhiều lữ khách cũng đến ngôi nhà trọ ấy, nói với nàng góa phụ rằng:

– Thưa bà, nếu bà không phiền lòng, chúng tôi có thể trú ngụ một đêm ở nơi đây?.

– Này các ông, có vị Samôn đã đến trước, nếu vị ấy cho phép, các ông có thể trú lại.

Những người lữ khách đi đến gặp Ngài Anuruddha, bạch rằng:

– Thưa Ngài, nếu Ngài không phiền lòng, chúng tôi có thể trú ngụ một đêm ở nơi này?

– Này các người, hãy trú đêm ở nơi này.

Do nhìn thấy Ngài Anuruddha, nàng góa phụ đã đem lòng say đắm Ngài Anuruddha. Nàng đi đến gặp Ngài Anuruddha, nói rằng:

– Thưa Ngài, khi bị quấy rầy bởi  những người này, Ngài sẽ ngụ không được an lạc. Thưa Ngài, tốt đẹp thay, tôi có thể sắp đặt cho Ngài một chiếc giường ở bên trong.

Trưởng lão Anuruddha im lặng nhận lời.

Nàng góa phụ sắp đặt chiếc giường của mình ở bên trong cho Ngài Anuruddha. Sau đó, nàng trang điểm thật xinh đẹp, thoa xức những hương liệu thơm ngát, trên người đeo những trang sức quý, khoác y chòang bên ngoài, đi đến gặp Ngài Anuruddha, nói rằng:

– Thưa Ngài Samôn, Ngài thật xinh đẹp, khả ái rất đáng nhìn, em cũng xinh đẹp, khả ái rất đáng nhìn. Thưa Ngài Samôn, thật tốt đẹp thay, em có thể là vợ của Ngài.

Nghe vậy, Ngài Anuruddha im lặng.

Lần thứ nhì …. lần thứ ba, nàng góa phụ nói với Ngài Anuruddha rằng:

– Thưa Ngài Samôn, Ngài thật xinh đẹp, khả ái rất đáng nhìn, em cũng xinh đẹp, khả ái rất đáng nhìn. Thưa Ngài Samôn, thật tốt đẹp thay, Ngài hãy chấp nhận em cùng tất cả những tài sản này.

Đến lần thứ ba, Ngài Anuruddha im lặng.

Nàng góa phụ đã cởi tấm áo choàng ra, đi qua đi lại phía trước Ngài Anuruddha, rồi đứng lại, rồi ngồi xuống, nằm xuống …

Khi ấy, Ngài Anuruddha thu thúc các giác quan, im lặng không nhìn đến nàng góa phụ ấy.

Khi khiêu gơi nhiều cách, nhưng không thấy Ngài Anuruddha phản ứng, nàng góa phụ suy nghĩ:

– Ngài Samôn này thật kỳ diệu, Ngài là bậc phi thường, nhiều người muốn được ta đã bỏ ra cả 100 ngàn tiền vàng còn không được. Trái lại, vị Samôn này vẫn dửng dưng dù được ta tự thân van nài, cho dù ta tình nguyện dâng hiến cả thân lẫn tài sản này, nhưng Ngài vẫn thờ ơ.

Nàng góa phụ đấp lại tấm y choàng cho tề chỉnh, đê đầu đảnh lễ Ngài Anuruddha, bạch rằng:

– Thưa Ngài, tội lỗi đã chiếm ngự lấy con, khiến con trở nên đần độn, ngu si, không có đạo đức, nên con đã hành động như thế.

Thưa Ngài, xin Ngài hãy tha thứ những lỗi lầm ấy cho con, hầu để con ngăn ngừa những tội lỗi trong tương lai.

– Này chị, thật sự tội lỗi đã chiếm ngự lấy chị, khiến chị trở nên đần độn, không có đạo đức, nên chị đã hành động như thế.

Này chị, chính từ viêc này, chị đã thấy được tội lỗi ấy và xin sửa đổi đúng theo Pháp, Ta chấp nhận điều thỉnh cầu của chị.

Này chị, chính điều này là sự tiến bộ trong Giới luật của bậc Thánh: “Người nào sau khi thấy được sự sai trái trong tội lỗi và sửa đổi đúng theo Pháp sẽ có được sự ngăn ngừa trong tương lai”.

Sau khi đêm đã mãn, vào sáng hôm sau nàng góa phụ tự thân cúng dường đến Ngài Anuruddha những vật thực thượng vị loại cứng loại mềm.

Sau khi Ngài Anuruddha thọ thực xong, nàng góa phụ đảnh lễ dưới chân Ngài Anuruddha, rồi ngồi xuống một bên.

Ngài Anuruddha thuyết lên pháp thoại chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi trong tâm nàng góa phụ. Nàng góa phụ hân hoan bạch với Ngài Anuruddha rằng:

– Thưa Ngài, thật tuyệt vời; thưa Ngài thật tuyệt vời. Ví như người lật ngữa những gì đang bị úp lại, mở ra những vật bị che kín, chỉ đường cho người đang bị lạc lối, đem ánh sáng vào trong bóng tối, với ý nghĩ: “Những ai có mắt sẽ nhìn thấy được sắc”. Cũng vậy, Pháp được Ngài khéo dùng nhiều phương tiện để diễn giải.

Bạch Ngài, con xin quy ngưỡng Đức Phật, Giáo pháp và Tăng chúng kể từ nay cho đến trọn đời. Xin Ngài hãy ghi nhận con là cận sự nữ đã quy ngưỡng Tam Bảo đến trọn đời.

(Lời tuyên bố trên cho biết nàng góa phụ đã thành tựu Thánh quả Dự Lưu).

Sau đó, Ngài Anuruddha lên đường đi đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ), đi vào Đại tự KỳViên đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Rồi Ngài Anuruddha thuật lại sự kiện này đến các vị Tỳkhưu, các vị Tỳkhưu ít ham muốn đã phàn nàn, phê phán, chê trách rằng:

– Vì sao Tôn giả Anuruddha lại nằm chung chỗ ngụ với người nữ?

Các vị Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn về vấn đề này, Đức Thế Tôn cho gọi Ngài Anuruddha đến hỏi rằng:

– Này Anuruddha, được nghe nói: “Ngươi nằm chung chỗ ngụ với người nữ”. Việc này có đúng sự thật như thế chăng?

– Bạch Thế Tôn, có thật như vậy.

Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này Anuruddha, vì sao ngươi nằm chung chỗ ngụ với người nữ như vậy? Này Anuruddha, việc này không đem lại niềm tin cho những ai chưa có niềm tin, không làm tăng trưởng niềm tin cho những ai đang có niềm tin.

Sau khi thuyết lên pháp thoại thích hợp, Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, Như Lai sẽ chế định học giới đến các Tỳkhưu. Và này các Tỳkhưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị Tỳkhưu nào nằm chung chỗ ngụ với người nữ thì phạm Pācittiya (Ưngđốitrị)”([110]).

*Nàng Cūḷasubhaddā.

(Theo Bản Sớ giải kinh Aṅguttara (Tăng chi) thì nàng Cūḷasubhaddā được gả cho Kāḷaka con trai Trưởng giả ở thị trấn Sāketa([111]), còn nàng Mahāsubhaddā được gả cho con trai Trưởng giả Ugga ở thị trấn Ugga([112]). Chuyện của hai nàng tương tự như nhau)

Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) kết bạn với Trưởng giả Ugga ở thành Ugga lúc thiếu thời khi học chung thầy. Hai người ước hẹn với nhau: “Khi hai ta thành lập gia thất sẽ kết thành thông gia với nhau”.

Khi cha mẹ mệnh chung, hai vị thừa hưởng sản nghiệp và trở thành hai Trưởng giả.

Một hôm Trưởng giả Ugga mang 500 cổ xe hàng đi đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ) để buôn bán, đến viếng thăm Trưởng giả Anāthapiṇḍika. Trưởng giả Anāthapiṇḍika bảo nàng Cūḷasubhaddā rằng:

– Này con, đây là Trưởng giả Ugga, là người bạn thân của cha. Con hãy xem như là thân phụ của con, con hãy phục vụ vị ấy cho chu đáo.

Nàng Cūḷasubhaddā vâng theo lời dạy của cha, phục vụ Trưởng giả Ugga rất chu đáo, làm Trưởng giả Ugga rất hài lòng.

Thấy nàng Cūḷasubhaddā ngoan hiền lại thông thạo mọi việc của nữ nhân trong gia tộc. Nhân một buổi sáng đẹp trời, Trưởng giả nhắc lại lời giao ước lúc thiếu thời giữa hai người, muốn cưới nàng Cūḷasubhaddā cho con trai mình.

Nguyên Trưởng giả Anāthapiṇḍika có bốn người con, ba gái một trai là: Nàng Mahāsubhaddā (Đại Diệu Hiền), nàng Cūḷasubhaddā (Tiểu Diệu Hiền), Công tử Kāḷa và nàng Sumanā (Diệu Ý).

Ba cô gái đều chứng đạt Thánh quả: Nàng Mahāsubhaddā và nàng Cūḷasubhaddā chứng Thánh quả Dự Lưu, nàng Sumanā chứng Thánh quả Nhất Lai. Cả ba nàng đều được Trưởng giả Anāthapiṇḍika giao phận sự cúng dường đến các vị Tỳkhưu mỗi ngày, nàng Mahāsubhaddā đã thành lập gia thất, về với nhà chồng, còn lại nàng Cūḷasubhaddā và nàng Sumanā

Nghe Trưởng giả Ugga nhắc lại lời giao ước, Trưởng giả Anāthapiṇḍika phân vân rằng:

– Thật sự ta có lời giao ước như vậy, nhưng bạn ta là người có khuynh hướng tà kiến, không có niềm tin nơi Đức Thế Tôn, trong khi con gái ta là đệ tử Tam Bảo. Vậy ta phải xử trí ra sao?

Trưởng giả Anāthapiṇḍika mang việc này trình lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn đưa trí quán xét thấy được duyên lành Đạo quả của gia tộc Trưởng giả Ugga, nên dạy Trưởng giả Anāthapiṇḍika rằng:

– Này gia chủ, hãy giữ đúng lời giao ước, đó là cách thực hành của bậc trí thuở xưa.

Trưởng giả Anāthapiṇḍika cho họp gia tộc lại thảo luận, rồi chấp thuận hôn ước giữa hai gia tộc. Trước khi lễ cưới diễn ra, Trưởng giả Anāthapiṇḍika cung thỉnh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng thọ thực nơi tư gia của mình 7 ngày để mang sự an lành đến nàng Cūḷasubhaddā.

Trước khi về nhà chồng, nàng Cūḷasubhaddā được Trưởng giả Anāthapiṇḍika dạy 10 điều như Trưởng giả Dhanañjaya dạy nàng Visākhā,  đồng thời cử tám vị trưởng thượng trong tộc họ theo giám sát và bảo vệ nàng Cūḷasubhaddā.

Lễ cưới diễn ra rất long trọng, đó là do phước báu của nàng Cūḷasubhaddā đã tạo trong quá khứ. Khi xe hoa về đến kinh thành Ugga, được cư dân trong kinh thành đón tiếp thật nồng hậu.

Hôm ấy, gia đình bên chồng nàng cũng cho tổ chức lễ an lành đến nàng Cūḷasubhaddā và con trai Trưởng giả Ugga suốt 7 ngày.

Vào ngày thứ 7, Trưởng giả Ugga bảo nàng ra đảnh lễ nhóm đạo sĩ lõa thể, nàng Cūḷasubhaddā hổ then khi thấy nhóm đạo sĩ lõa thể, nên không ra đảnh lễ theo lời dạy của cha mẹ chồng, cho dù cha chồng nàng có nhắc nhở nhiều lần, nàng vẫn một mực khước từ, Trưởng giả Ugga tức giận, nói rằng:

– Hãy đuổi nó ra khỏi nhà đi.

Tự xét thấy mình không có lỗi, nàng cho mời 8 vị Trưởng tộc Giám sát đến, trình bày mọi sự. Các vị trưởng tộc trình giải rõ ràng rằng:

– Thưa gia chủ, cháu chúng tôi do chính kiến bất đồng nên không đảnh lễ những đạo sĩ lõa thể, đó là việc bình thường. Ngoài việc này ra, cháu chúng tôi có phạm lỗi gì khác chăng?

– Thưa các vị Trưởng tộc, không có vi phạm điều chi cả.

– Như vậy Gia chủ đuổi cháu chúng tôi ra khỏi nhà, đó là điều không thích hợp.

– Thưa các vị Trưởng tộc, trong lúc nhất thời nóng giận, tôi đã hành xử sái quấy.

Quay sang nàng Cūḷasubhaddā, Trưởng giả Ugga nhận lỗi và xin nàng Cūḷasubhaddā bỏ qua việc vừa rồi.

Hai vợ chồng Trưởng giả Ugga bàn luận với nhau rằng:

– Nàng dâu của chúng ta không chịu đảnh lễ những vị Samôn của chúng ta, cho rằng những vị ấy là người không có hổ thẹn với tội lỗi. Chẳng hay các vị Samôn của dâu ta như thế nào? Mà nó tôn kính đến như vậy?

Bà Trưởng giả Ugga hỏi nàng Cūḷasubhaddā rằng:

Kīdisā samaṇā tuyhaṃ; bāḷhaṃ kho ne pasaṃsasi.

Kiṃsīlā kiṃsamācārā; taṃ me akkhāhi pucchitā’’ti.

“Các vị Samôn của con ra sao;p hẩm hạnh như thế nào? 

Nghe con thường tán dương; hãy nói lên ta nghe nào”.

Muốn gia đình chồng quy ngưỡng Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, nàng Cūḷasubhaddā tán dương công hạnh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng như sau:

Santindriyā santamānasā; santaṃ tesaṃ gataṃ ṭhitaṃ.

Okkhittacakkhū mitabhāṇī; tādisā samaṇā mama.

“Các quyền được an tịnh; đi , đứng được tề chỉnh.

Giữ gìn con mắt, nói hợp thời; các Samôn của con như vậy”.

Kāyakammaṃ suci nesaṃ; vācākammaṃ anāvilaṃ.

Manokammaṃ suvisuddhaṃ; tādisā samaṇā mama.

“Thân nghiệp luôn thanh tịnh; ngữ nghiệp không bợn nhơ.

Ý nghiệp luôn thanh tịnh; các Samôn của con như vậy”.

Vimalā saṅkhamuttābhā; suddhā antarabāhirā.

Puṇṇā suddhehi dhammehi; tādisā samaṇā mama.

“Tinh khiết như ngọc trai; an tịnh trong lẫn ngoài.

Thông suốt tất cả pháp; các Samôn của con như vậy”.

Lābhena unnato loko; alābhena ca onato.

Lābhālābhena ekaṭṭhā; tādisā samaṇā mama.

“Được lợi thế gian vui; mất lợi thế gian sầu.

Được lợi, mất lợi vẫn thản nhiên;

Các Samôn của con như vậy”.

Yasena unnato loko; ayasena ca onato.

Yasāyasena ekaṭṭhā; tādisā samaṇā mama.

“Được danh thế gian vui; mất danh thế gian sầu.

Được danh, mất danh vẫn thản nhiên;

Các Samôn của con như vậy”.

Pasaṃsāyunnato loko; nindāyāpi ca onato.

Samā nindāpasaṃsāsu; tādisā samaṇā mama.

“Được khen, thế gian vui; bị chê thế gian sầu.

Bình thản với khen, chê; các Samôn của con như vậy”.

Sukhena unnato loko; dukkhenāpi ca onato.

Akampā sukhadukkhesu; tādisā samaṇā mamā’’ti.

“An lạc thế gian vui; đau khổ thế gian sầu.

Không màng đến lạc khổ; các Samôn của con như vậy”.

Nghe lời tán dương của nàng Cūḷasubhaddā “các vị Samôn của con như vậy”, bà Trưởng giả Ugga ao ước được diện kiến các Ngài, nói rằng:

– Này con, con hãy giúp mẹ diện kiến các bậc Samôn như lời con vừa tán thán ấy đi.

– Vâng, thưa mẹ.

Sau khi chuẩn bị vật thực sẵn sàng cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng 500 vị Tỳkhưu tùy tùng vào ngày mai, nàng Cūḷasubhaddā lên lầu 7, hướng về Đại tự Kỳviên, đảnh lể Đức Thế Tôn, với tâm tín thành nàng thỉnh cầu rằng: “Kính bạch Đức Thế Tôn, con xin thỉnh Ngài cùng 500 vị Tỳkhưu tùy tùng, ngự đến kinh thành Ugga thọ thực vào ngày mai nơi tư gia của con”.

Khấn nguyện xong nàng tung lên hư không 8 vòng hoa lài trắng để cúng dường đến Đức Thế Tôn; chư thiên kinh thành Ugga hoan hỷ đưa 8 vòng hoa lài rơi xuống trước mặt Đức Thế Tôn, trong khi Ngài đang thuyết pháp đến đại chúng.

Khi dứt pháp thoại, hoan hỷ với thời Pháp Trưởng giả Anāthapiṇḍika đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, con xin thỉnh Đức Thế Tôn cùng 500 vị Tỳkhưu đến tư gia của con thọ thực vào ngày mai.

– Này gia chủ, Như Lai đã nhận lời thỉnh cầu của nàng Cūḷasubhaddā, con gái của ngươi rồi.

– Bạch Thế Tôn, con gái của con ở cách đây 120 dotuần, làm thế nào có thể đến đây thỉnh được Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng?

– Này gia chủ, lẽ thường người thánh thiện được nhận thấy từ xa.

 Nhân đó Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn:

304- Dūre santo pakāsenti; himavantova pabbato.

Asantettha na dissanti; rattiṃ khittā yathā sarā’’ti.

“Người lành dầu ở xa; sáng tỏ như núi Tuyết.

Người ác dầu ở gần; như tên bắn đêm đen”(HT.TMCd).

Dứt kệ ngôn nhiều vị chứng đạt Thánh quả Dự lưu.

Vua Trời Sakka (ĐếThích) biết sáng ngày mai Đức Thế Tôn cùng 500 vị Tỳkhưu sẽ ngự đến kinh thành Ugga, liền ra lịnh cho Thiên thần Kiến trúc Vissakamma kiến tạo 500 biệt thất nơi kinh thành Ugga để ngày mai Đức Thế Tôn cùng 500 vị Tỳkhưu an ngụ.

Vào sáng hôm sau, khi Đức Thế Tôn cùng 500 vị Tỳkhưu lên đường đến kinh thành Ugga cách xa kinh thành Sāvatthi (XáVệ) 120 dotuần. Thiên vương Đế Thích cho kiến tạo 500 chiếc kiệu vàng thỉnh Đức Thế Tôn cùng 500 vị Tỳkhưu ngự lên kiệu vàng, theo đường hư không đi đến kinh thành Ugga. Trưởng giả Ugga nhìn thấy Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng từ xa ngự đến với sự nghiêm trang thanh tịnh cùng với những hảo tướng quang minh, Trưởng giả khởi tâm thành kính. tự thân đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, rồi tiếp rước các Ngài vào tư gia, ngồi lên những nơi đã được soạn sẵn.

Tự thân ông bà Trưởng giả Ugga cúng dường, phục vụ đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng với những vật thực thượng vị loại cứng lọai mềm.

Gia đình Trưởng giả Ugga cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng trọn 7 ngày.

Vào ngày thứ 7, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích hợp tế độ ông bà Trưởng giả Ugga cùng con trai và 84 ngàn chúng sinh chứng đạt Thánh quả Dự Lưu.

Nàng Cūḷasubhaddā bạch với Đức Thế Tôn, thỉnh cầu Ngài Anuruddha ở nán lại kinh thành Ugga để giáo giới cho các tân đệ tử và Đức Thế Tôn dạy Ngài Anuruddha ở lại kinh thành Ugga để hoằng pháp độ sinh.

Rồi Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng lên đường trở về kinh thành Sāvatthi (XáVệ)([113]).

*Thị trấn Ugga.

Là một Thị trấn của Vương quốc Kosala, Đức Thế Tôn có an trú nơi đây, trong công viên Bhadā (Bhaddārāma)([114]).

Thị trấn Ugga là nơi sinh sống của Trưởng giả Ugga, là thánh địa một thời của các Nigaṇṭha.

Do ảnh hưởng của nàng Cūḷasubhaddā, gia đình Trưởng giả Ugga đã chuyển hóa theo Đức Phật và Ngài Anuruddha ở lại thị trấn này một thời gian để tế độ các cư dân vừa được chuyển hóa.

Công viên Ugga (Uggārāma) được đề cập trong câu chuyện Trưởng lão Aṅganika Bhāradvāja([115])có khả năng nằm trong Thị trấn này. Nếu đúng như vậy thì Thị trấn Ugga nằm gần làng Kuṇḍya của xứ Kuru.

*Nữ Dạxoa mẹ Piyaṅkara.

Khi trú ngụ nơi Đại tự KỳViên, Ngài Anuruddha thức dậy khi đêm gần mãn, Ngài tụng đọc kinh Pháp cú.

Nữ dạxoa mẹ của Piyaṅkara đang ẳm con đi tìm vật thực, khi đi ngang qua Đại tự Kỳviên, tiếng tụng kinh Pháp cú của Ngài Anuruddha đã cuốn hút tâm của nữ dạxoa, nữ Dạxoa đứng yên lặng lắng nghe, trong khi bé Piyaṅkara khóc đòi vật thực, nữ Dạxoa dỗ con nín khóc như sau:

Mā saddaṃ kari piyaṅkara; bhikkhu dhammapadāni bhāsati.

Api ca dhammapadaṃ vijāniya; paṭipajjema hitāya no siyā.

 “Này Piyaṅkara; chớ có sanh tiếng động.

Vị Tỳkhưu đang tụng; những lời về pháp cú.

Nếu chúng ta biết được; học được pháp cú này.

Rồi theo Pháp hành trì; chúng ta được lợi ích”.

Pāṇesu ca saṃyamāmase; sampajānamusā na bhaṇāmase.

Sikkhema susīlyamattano; api muccema.

“Không sát hại sinh vật([116]); không cố ý nói láo.

Tự học tập giới luật; chúng ta thoát ngạ quỷ” (HT. TMC d)([117]).

Theo Bản Sớ giải, nữ Dạxoa này thuộc Yakkhavimāna (Dạxoa ngạ quỷ)([118]).

b- Với các cận sự nam.

*Thiên tử Indaka.

Khi còn là nhân loại, cận sự nam Indaka có cúng dường đến Trưởng lão Anuruddha một muổng cơm, mệnh chung tái sinh về Thiên giới Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba), là một Thiên tử có đại uy lực.

Đức Thế Tôn an cư mùa mưa lần thứ 7 nơi Cung trời Tāvatimsa (Ba mươi Ba), Ngài thuyết lên Tạng Abhidhamma để tế độ Thiên tử Māyā (hậu thân bà Hoàng Māyā) cùng thiên chứng đắc chứng Thánh quả rất nhiều,

Trước khi Thiên tử Māyā từ cung trời Tusita (ĐẩuSuất) đến nghe pháp, chư Thiên trong 10 ngàn thế giới tề tụ đến cõi ĐạoLợi đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Bấy giờ có hai Thiên tử là Indaka ngồi phía bên phải của Đức Thế Tôn, Thiên tử Aṅkura ngồi phía trái Đức Thế Tôn.

Khi các thiên nhân đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, vị Thiên tử nào kém uy lực phải lùi ra nhường chỗ cho vị có uy lực hơn.

Do vậy, thoạt tiên Thiên tử Aṅkura ngồi gần Đức Thế Tôn dần dần phải lùi ra xa cả 12 dotuần, riêng Thiên tử Indaka thì vẫn tại vị.

Thấu rõ nguyên nhân, Đức Thế Tôn muốn cho Thiên chúng biết rõ uy lực thù diệu của ân đức Tam Bảo, Ngài hỏi Thiên tử Aṅruka rằng:

– Này Aṅruka, ngươi tái sinh về cảnh giới này là do tạo được phước báu nào?

– Bạch Thế Tôn, khi còn là nhân loại, con thực hành hạnh bố thí, con đã cho xây lò bếp dùng nấu vật thực dài 12 dotuần. Con bố thí vật thực đến những người nghèo khổ, khách lở đường ….. suốt cả 10 ngàn năm.

Nhờ quả lành này, mệnh chung con được tái sinh về Thiên giới Ba mươi Ba này.

– Này Indaka, ngươi tái sinh về cảnh giới này do nhờ phước báu nào?

– Bạch Thế Tôn, khi còn là nhân loại, con có cúng dường đến Ngài Anuruddha một muổng cơm. Do hạnh lành này, mệnh chung con tái sinh về Thiên giới này.

– Này Aṅkura, ngươi thực hành bố thí suốt 10 ngàn năm, xây lò bếp dài 12 dotuần để nấu vật thực bố thí. Vì sao trong hội chúng chư thiên này, ngươi phải lui ra xa 12 dotuần như vậy?

Nghe Đức Thế Tôn hỏi như vậy, Thiên tử Aṅkura buồn rầu bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, con cầu mong được gì với quả phước nhỏ nhoi này, vì con tạo phước trong thời không có Phật pháp, không có bậc đáng cúng dường. Dạxoa([119]) Indaka chỉ cúng dường chút ít, nhưng được cúng dường vào thời có Phật pháp, được cúng dường đến bậc đáng cúng dường nên vị ấy có nhiều uy lực hơn con, ví như vầng trăng rực sáng giữa chòm sao.

– Này Indaka, ngươi chỉ cúng dường đến Anuruddha một muổng cơm, vì sao ngươi có được uy lực trong hội chúng chư thiên này?

Thiên tử Indaka bạch rằng: Ye jhānappasutā dhīrā …

Bạch Thế Tôn, vì con cúng dường đến bậc đáng cúng dường. Ví như người nông dân gieo hạt giống vào ruộng màu mỡ, dù chỉ một ít hạt giống nhưng nhận được nhiều kết quả.

Đức Thế Tôn dạy Thiên tử Aṅruka rằng:

– Này Thiên tử Aṅruka, thật vậy, sự cúng dường đến bậc đáng cúng dường, ví như gieo hạt giống vào ruộng tốt. Do ngươi không làm như vậy nên  không nhận được quả báu dồi dào.

Đức Thế Tôn nói lên ý nghĩa này như sau:

Viceyya dānaṃ dātabbaṃ; yattha dinnaṃ mahapphalaṃ.

Viceyya dānaṃ sugatappasatthaṃ,

Ye dakkhiṇeyyā idha jīvaloke;

Etesu dinnāni mahapphalāni,

Bījāni vuttāni yathāsukhette’’ti.

“Người nên tìm nơi thí có quả báu dồi dào;

Như vậy thí sự có quả báu lớn.

 Đức Thiện Thệ Đạo sư dạy: “Tìm nơi thí”.

Thí sự này có quả báu lớn.

Như hạt giống tốt được gieo vào ruộng tốt”.

Nhân đó Đức Thế Tôn thuyết lên bốn kệ ngôn:

356- Tiṇadosāni khettāni, rāgadosā ayaṃ pajā;

Tasmā hi vītarāgesu, dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

“Cỏ làm hại ruộng vườn; tham làm hại người đời.

Bố thí người lìa tham; do vậy được quả lớn”.

357- Tiṇadosāni khettāni; dosadosā ayaṃ pajā.

Tasmā hi vītadosesu; dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

“Cỏ làm hại ruộng vườn; sân hận hại người đời.

Bố thí người lìa sân; do vậy được quả lớn”.

358- Tiṇadosāni khettāni; mohadosā ayaṃ pajā.

Tasmā hi vītamohesu; dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

“Cỏ làm hại ruộng vườn; si làm  hại người đời.

Bố thí người lìa si; do vậy được quả lớn”.

359- Tiṇadosāni khettāni; icchādosā ayaṃ pajā.

Tasmā hi vigaticchesu; dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

“Cỏ làm hại ruộng vườn; dục làm  hại người đời.

Bố thí người lìa dục; do vậy được quả lớn” (HT. TMC d).

Dứt kệ ngôn hai Thiên tử Indaka và Aṅruka chứng Thánh quả Dự Lưu([120]).

*Thiên tử Aṅkura.

Aṅkura là người con trai thứ 10 của Công chúa Devagabbhā và Vương tử Upsāgara.

Công chúa Devagabbhā có người con gái đầu là Añjanādevī, tiếp theo sau là mười người con trai: Vāsudeva (tiền thân Ngài Sāriputta), Baladeva, Candadeva, Suriyadeva, Aggideva, Varunadeva,  Ajjuna, pajjuna, Ghatapaṇḍita và AṅkuraAṅkura([121]).

Mười anh em sau khi chiếm trọn vẹn cõi Diêmphù (Jambu), chia thành 10 phần cho 10 người, nhưng họ lại quên người chị cả là Công chúa Añjanadevī. Vương tử Aṅkura tình nguyện nhường phần của mình cho chị cả Añjanadevī .

Trong tập Petavatthu- atthakathā (Sớ giải chuyện ma đói), có ghi lại sự nghiệp sau cùng của Aṅkura.

Sau khi nhường phần tài sản của mình cho người chị cả Añjanadevī, Aṅkura sinh sống bằng nghề đi buôn.

Người giữ kho của Aṅkura là người tận tụy trong công việc, lại là người hòa nhã, Aṅkura tìm một cô gái trong gia đình danh giá gả cho người giữ kho. Khi nàng sinh ra một trai thì người giữ kho mệnh chung, Aṅkura chu cấp cho hai mẹ con đầy đủ mọi tiện nghi và trả hết tất cả tiền công của người giữ kho cho hai mẹ con nàng.

Khi đứa bé trưởng thành, một vấn đề nảy sinh là: Giai cấp của anh ta như thế nào? Là nô lệ hay người được tự do?

Vấn đề này được đưa đến nàng Añjanadevī phân xử, nàng nói rằng:

– Con trai của người nữ thuộc dòng Bàlamôn, thì thuộc dòng Bàlamôn. Do vậy, chàng thanh niên này không thuộc giai cấp nô lệ (Caṇḍala) vì mẹ chàng không thuộc dòng nô lệ.

Nhưng thanh niên này hổ thẹn về nguồn gốc của mình, nên bỏ đi đến kinh thành Bheruva. Chàng kết hôn với một nàng con gái người thợ may nơi kinh thành Bheruva và sinh sống bằng nghề thợ may.

Trong kinh thành Bheruva có vị Đại trưởng giả Asayha là người hào phóng, Trưởng giả cho kiến tạo Bố thí đường để ban phát những vật thực cùng vật dụng đến người nghèo khổ, những người cô đơn, những kẻ lở đường, các Samôn, Bàlamôn …

Chàng thanh niên suy nghĩ: “Ta nên tạo phước riêng cho mình”. Chàng lập tiệm may nơi ngã tư đường, khi có người hỏi thăm phước xá, chàng vui vẻ đưa cánh tay phải chỉ đường và nói rằng:

– Hãy đến nơi ấy nhận vật thực và những gì cần dùng.

Thời gian sau, bất ngờ bị bạo bịnh chàng mệnh chung, tái sinh thành một Dạxoa trú ở vùng sa mạc, có cung điện là cây cổ thụ cao lớn có tàn nhánh vươn rộng cả một do tuần, từ cánh tay phải của Dạxoa tuôn ra những vật thực, y phục cùng những gì theo ý Dạxoa.

Đây là quả phước của sự chỉ đường đến phước xá.

Một người trông coi việc bố thí của Trưởng giả Asaya trong thành phố Bheruva lại có tâm keo kiệt, là người tà kiến lại không có lễ độ đối với người thọ thí. Mệnh chung người này tái sinh làm loài ma đói (peta) ở nơi sa mạc không xa cung điện của Dạxoa.

Trưởng giả Asaya khi mệnh chung được tái sinh về thiên giới Tāvatiṃsa.

Có lần Aṅkura cùng một Trưởng giả Bàlamôn đi buôn đến thành Kampoja. mỗi người có 500 cổ xe hàng hóa.

Khi đoàn thương buôn đi vào sa mạc để đến thành Kampoja, họ bị bảo cát nổi lên và họ đã bị lạc trong sa mạc hoang vu, sau nhiều ngày đoàn thương buôn cạn kiệt lương thực lẫn nước uống.

Dạxoa nhìn thấy Aṅkura suy nghĩ:

– Đây là người chủ cũ nhân hậu của ta, hiện đang bị lạc trong sa mạc. Ta hãy giúp đở vị ấy.

Dạxoa hóa thân thành người đi đến chỉ đường cho đoàn lữ hành đến nơi cây cổ thụ của mình, rồi Dạxoa đưa cánh tay phải của mình ra cung ứng mọi nhu cầu lương thực cùng nước uống cho đoàn lữ hành.

Sau khi giải trừ mệt nhọc cùng đói khát, người Trưởng giả Bàlamôn khỏi lên ý ác rằng:

– Chúng ta cần đi đến thành Kampoja để buôn bán; người này có năng lực kỳ diệu, từ cánh tay phải của mình có thể chu cấp lương thực cùng nước uống. Chúng ta hãy bắt người này theo, chúng ta sẽ không còn lo ngại về lương thực và nước uống.

Khi Trưởng giả Bàlamôn đưa ý kiến này đến Aṅkura, Aṅkura đã quyết liệt phản đối rằng:

– Chúng ta không thể bẻ gẫy cành cây mà trước đây chúng ta đã ngồi hay nằm dưới bóng tàn cây ấy. Gây tai hại đến một người ơn, đó là bất thiện pháp.

Trưởng giả Bàlamôn cố thuyết phục Aṅkura bắt Dạxoa làm nô lệ cho đoàn thương buôn, cả ba lần Aṅkura đều kiên quyết bác bỏ.

Dạxoa với đôi tai thính đã nghe được cuộc đàm luận ấy, đã cảnh cáo Bàlamôn độc ác. Sau đó Dạxoa đi đến gặp Aṅkura, cho Aṅkura biết lai lịch của mình cùng với phước thiện mà mình đã tạo nơi thành Bheruvam đồng thời nói về quả lành bố thí của Trưoởng giả Asaya.

Rồi Dạxoa đưa Aṅkura đfến gặp ma đói bỏn xẻn. Nghe ma đói bỏn xẻnnói lên tiền nghiệp bỏn xẻn của mình trong kiếp trước, tâm Aṅkura phát sinh kinh cảm, Aṅkura hứa sau khi trở về kinh thành Dvāravatī, ông sẽ thực hành bố thí hạnh.

Dạxoa với thần lực của mình đã đưa Aṅkura trở lại kinh thành Dvāravatī an toàn.

Và suốt 10 ngàn năm tuổi thọ, Aṅkura thực hành bố thí hạnh như đã trình bày ở trên.

Mệng chung Aṅkura tái sinh về cõi Tāvatiṃsa([122]), nhưng Thiên tử Aṅkura thua kém Thiên tử Indaka 10 phương diện hạnh phúc cõi trời là: Tuổi thọ (āyu), dung sắc (vaṇṇa), an lạc (sukha), danh tiếng (yasa), quyền lực (ādhipateyya), sắc tướng (rūpa), âm thanh (sadda), mùi hương (rasa) và sự xúc chạm (phoṭṭhabba).  .

*Thợ mộc Pañcakaṅga([123]).

Một thời Ngài Anuruddha trú ngụ nơi Jetavanavihāra (Đại tự KỳViên), thợ mộc Pañcakaṅga cho đến gặp Ngài Anuruddha, nhân danh ông đảnh lễ Ngài Anuruddha cùng ba vị Tỳkhưu đến tư gia ông thọ thực vào ngày mai.

Hôm sau, Ngài Anuruddha cùng ba vị Tỳkhưu đến thọ thực nơi nhà của thợ mộc Pañcakaṅga.

Thợ mộc Pañcakaṅga tự tay làm thỏa mãn Tôn giả Anuruddha với những vật thực thượng vị loại cứng loại mềm.

Sau khi Tôn giả Anuruddha thọ thực xong, thợ mộc Pañcakaṅga lấy chiếc ghế thấp ngồi xuống kế bên, hỏi pháp nơi Tôn giả Anuruddha rằng:

– Thưa Tôn giả, ở đây một số vị Trưởng lão Tỳkhưu đến nói như sau: “Này gia chủ, hãy tu tập vô lượng tâm giải thoát (appamāṇā cetovimutti), Có một số vị Trưởng lão Tỳkhưu lại nói: “Này gia chủ, hãy tu tập đại hành tâm giải thoát ( mahaggatā cetovimutti)”.

Bạch Tôn giả, vô lượng tâm giải thoátđại hành tâm giải thoát. Các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn, hay đồng nghĩa chỉ khác biệt về văn?

– Này gia chủ, hãy nói lên những điều ngươi suy nghĩ về vấn đề này; nhờ vậy, vấn đề này sẽ trở nên xác thật cho ngươi.

Bạch Tôn giả, con nghĩ như sau: “Vô lượng tâm giải thoát đại hành tâm giải thoát; các pháp này đồng nghĩa nhưng khác văn.

– Này gia chủ, các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn.

Tiếp theo, Ngài Anuruddha giảng giải.

*Thế nào là vô lượng tâm giải thoát? Vị Tỳkhưu tu tập bốn tâm vô lượng ( Từ, Bi, Hỷ, Xả) biến mãn khắp bốn phương, trên dưới, bề ngang không có biên giới. Như vậy gọi là vô lượng tâm giải thoát.

*Thế nào là đại hành tâm giải thoát? Vị Tỳkhưu tu tập thiền tịnh, làm biến mãn (ấn tướng) lớn như một gốc cây, hai gốc cây… một mảnh vườn… một vương quốc … bao trùm cả trái đất… Gọi là đại hành tâm giải thoát([124]).

Rồi Tôn giả Anuruddha giảng cho thợ mộc Pañcakaṅga về bốn sinh hữu (bhayuppattiyo) của vị tu tập thiền tịnh.

*Vị tu tập thiền tịnh, an trú thấm nhuần, biến mãn với hào quang có hạn lượng (parittābhā). Khi mạng chung, được sinh cộng trú với chư Thiểu Quang thiên (Parittābhānaṃ devānaṃ).

*Vị tu tập thiền tịnh, an trú, thấm nhuần, biến mãn với hào quang vô lượng (appamāṇābhā). Khi mạng chung, được sinh cộng trú với chư Vô Lượng Quang thiên (Appamāṇābhānaṃ devānaṃ),

*Vị tu tập thiền tịnh, an trú, thấm nhuần, biến mãn với hào quang thấp kém (saṃkiliṭṭhābhā). Khi mạng chung, được sinh cộng trú với chư Tạp Nhiễm Quang thiên (saṃkiliṭṭhābhānaṃ devānaṃ).

*Vị tu tập thiền tịnh, an trú, thấm nhuần, biến mãn với hào quang thanh tịnh (parisuddhābhā). Khi mạng chung, được sinh cộng trú với chư Biến Tịnh Quang thiên (parisuddhābhānaṃ devānaṃ),

Tôn giả Anuruddha tiếp tục giảng về màu sắc và hào quang.

*Có thời khi các chư thiên tập hợp lại một chỗ, có sự sai khác về màu sắc, không có sự sai khác về hào quang. Ví như có người mang nhiều cây đèn dầu vào căn nhà, những cây đèn dầu ấy có sự sai khác về ngọn lửa, nhưng không có sự sai khác về hào quang.

(Nghĩa là: Khi tái sinh về cõi ấy, hào quang có thể có nhiều màu khác nhau, nhưng hào quang ít hay hào quang vô lượng, hay hào quang thấp kém hay hào quang thanh tịnh thì không khác nhau).

*Có thời khi các chư thiên ra khỏi chỗ ấy, có sự sai khác về màu sắc, có sự sai khác về hào quang. Ví như có người mang ra khỏi căn nhà nhiều cây đèn dầu, khi các cây đèn được mang ra khỏi nhà, có sự sai khác về màu sắc, có sự sai khác về hào quang.

(Nghĩa là, Khi mệnh chung từ cõi ấy, tái sinh về  cõi khác, có thể có sai khác về màu sắc hào quang cũng như sai khác về loại hào quang).

Nghe vậy, Tôn giả Abhiya Kaccāna([125]) đã thưa với Ngài Anuruddha rằng:

– Tốt đẹp thay, thưa Tôn giả Anuruddha, ở đây tôi có câu hỏi cần phải hỏi thêm. Thưa Tôn giả, chư Thiên có hào quang, tất cả đều có hào quang có hạn lượng? Hay là ở đây có một số chư Thiên có hào quang vô lượng

– Này Hiền giả Kaccāna, tùy theo trường hợp (tadangena)([126]), ở đây một số chư Thiên có hào quang hạn lượng, nhưng ở đây cũng có một số chư Thiên có hào quang vô lượng.

– Thưa Hiền giả Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì, dầu cho chư Thiên ấy được sinh khởi trong một Thiên chúng, lại có một số chư thiên có hào quang hạn lượng và có một số chư thiên có hào quang vô lượng?

Ngài Anuruddha trả lời là: “Do đại hành tâm khác nhau”.

Và Ngài Anuruddha cho ví dụ như sau: Có vị Tỳkhưu tu tập thiền định, an trú, thấm nhuần, biến mãn (ấn tướng) lớn rộng một gốc cây; có  vị Tỳkhưu tu tập thiền định, an trú, thấm nhuần, biến mãn (ấn tướng) lớn rộng hai gốc cây … Hai đại hành tâm của hai vị Tỳkhưu này khác nhau, đó là nhân, là duyên khiến hào quang có ạhn lượng hoặc vô hạn lượng.

Rồi Tôn giả Abhiya Kaccāna hỏi tiếp:

– Lành thay, này Tôn giả Anuruddha, tôi có một câu cần phải hỏi thêm nữa. Thưa Tôn giả Anuruddha, về hào quang của chư Thiên, có phải tất cả hào quang là tạp nhiễm, hay có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh?

– Này Hiền giả Kaccāna, tùy theo tyrường hợp, ở đây một số chư Thiên có hào quang tạp nhiễm; ở đây có một số chư thiên có hào quang thanh tịnh.

– Thưa Tôn giả Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì, trong chư Thiên ấy được sinh khởi trong một Thiên chúng, có một số có hào quang tạp nhiễm; có một số có hào quang thanh tịnh?

Ngài Anuruddha đáp:

* Vị Tỳkhưu an trú, thấm nhuần với hào quang tạp nhiễm, do vị ấy chưa đoạn trừ hay áp chế trọn vẹn 5 pháp chướng ngại (nīvaraṇā), mệnh chung tái sinh thành vị chư Thiên có hào quang tạp nhiễm. Ví như cây đèn cháy sáng với dầu không sạch sẽ, tim đèn không sạch sẽ, nên ánh sáng lu mơ.

 *Vị Tỳkhưu an trú, thấm nhuần, biến mãn với hào quang trong sạch; do vị ấy đoạn trừ hay áp chế hoàn toàn 5 pháp chướng ngại, mệnh chung tái sinh thành vị chư Thiên có hào quang thanh tịnh.

Sau cùng trước lời thử thách của Tôn giả Abhiya Kaccāna, Ngài Anuruddha tuyên bố: Ngài đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy([127]).

*Sadi Sumana.

Khi Ngài Anuruddha thành tựu Thánh quả ALaHán cùng với  những pháp thần thông, Ngài nhớ lại kiếp là người nông dân Annabhāra có kết bạn với Trưởng giả Sumana. Đưa thiên nhãn quán xét, Ngài thấy hậu thân Trưởng giả Sumana hiện tái sinh về nhân giới là con trai thứ hai của gia chủ Mahāmuṇḍa ở nơi làng Muṇḍanigama thuộc vùng núi Vindhyā.

Gia chủ Mahāmuṇḍa vừa là bạn thuở trước cũng là người hộ độ Tôn giả Anuruddha.

Ngài Anuruddha đi đến làng Muṇḍanigām để an cư mùa mưa, gia chủ Mahāmuṇḍa thấy Ngài Anuruddha đến tư gia của mình, liền đứng dậy tiếp rước Ngài, dạy người con lớn là Mahāsumana rằng:

– Này con, Trưởng lão ngự đến nơi nhà của ta. Con hãy tiếp rước y bát của Ngài.

Rồi gia chủ Mahāmuṇḍa thỉnh Ngài Anuruddha đến ngự nơi phòng khách, sau đó cung thỉnh Ngài an cư mùa mưa nơi là Muṇḍanigama.

Gia chủ Mahāmuṇḍa hộ độ Ngài trọn ba tháng mùa mưa, dễ dàng như chỉ cúng dường Ngài một ngày.

Khi mãn mùa an cư, vào ngày lễ Pavāraṇā (Tự Tứ), gia chủ Mahāmuṇḍa cúng dường đến Ngài Anuruddha bộ Tam y quý cùng những tứ sự trọng hậu.

Đặt lễ vật dưới chân Ngài Anuruddha, gia chủ Mahāmuṇḍa bạch rằng:

– Bạch Ngài, xin Ngài hoan hỷ thọ dụng những lễ vật này.

– Này gia chủ, những vật dụng này ta không cần dùng đến.

– Bạch Ngài, lễ vật này được gọi là vassāvāsikalābha (lợi đắc phát sinh đến người an cư mùa mưa), xin Ngài hãy nhận lấy.

– Thôi vừa đủ rồi, này gia chủ, Vì ta không có Sadi để làm việc thích hợp với những lễ vật này.

– Bạch Ngài, nếu thế thì Mahāsumana sẽ là Sadi theo hầu Ngài.

– Này gia chủ, Ta không cần đến Mahāsumana.

– Bạch Ngài, nếu thế thì Cūḷasumana sẽ là Sadi theo hầu Ngài.

– Này gia chủ, nếu thế thì được.

Trước khi cho Cūḷasumana xuất gia, Ngài Anuruddha cạo tóc cho Giới tử và dạy Giới tử quán tưởng các thể trược như: Tóc (kesā), lông (lomā), móng (nakhā), răng (dantā), da (taco) …

 Giới tử Cūḷasumana quán tưởng các thể trược theo lời dạy của Thầy, khi cạo tóc vừa xong, Ngài chứng Thánh quả ALaHán cùng năng lực thần thông([128]).

Sau khi trú lại nơi ấy nửa tháng, Ngài cùng Sadi Cūḷasumana lên đường đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ) để yết kiến Đức Thế Tôn.

Trên đường đi hai thầy trò ngụ đêm nơi chòi tranh trong rừng của vùng HyMãLạpSơn. Trong đêm Ngài Anuruddha tinh cần trong thiền tịnh, vào canh cuối Ngài bị chứng đau dạ dày tái phát, khiến Ngài đau bụng khốc liệt.

SadiSumana bạch hỏi rằng:

– Bạch Thầy, thầy có thường bị đau bụng như thế này chăng?

– Này Sadi, ta thường bị chứng bịnh này tái phát.

– Thưa thầy, khi bịnh tái phát Thầy dùng thuộc chi để chữa bịnh.

– Này Sadi, ta phải dùng nước ở hồ Anotatta mới trị dứt.

– Nếu vậy, con sẽ đi lấy nước ở hồ Anotatta về cho Thầy.

– Này Sadi, có con Rắn chúa Paṇṇaka rất hung dữ canh giữ hồ, con nên cẩn thận.

– Vâng, thưa Thầy.

Sadi Simana ôm chiếc bát của thầy trên tay, dùng thần thông đi đến hồ Anotatta cách đó 500 dotuần.

Khi ấy Rắn chúa Paṇṇaka đang vui đùa cùng các rắn nữ và rắn tùy tùng, trông thấy Sadi Sumana đang theo đường hư không đến hồ Anotatta, Rắn chúa Paṇṇaka phẫn nộ:

– Sadi này đang hướng đến hồ Anotatta hẳn là lấy nước đây. Sadi đi trên hư không, bụi dưới chân y rơi trên đầu cùng vật thực của ta, ta sẽ không cho Sadi này lấy nước ở hồ Anotatta.

Rắn chúa dùng thần lực phùn mang trở nên to lớn che cả hồ Anitatta rộng 50 dotuần, tựa như người dùng nắp nồi úp lên miệng nồi.

Thấy Rắn chúa Paṇṇaka làm như vậy, Sadi Sumana suy nghĩ: “Rắn chúa này đang phẫn nộ”. Ngài nói với Rắn chúa rằng:

Suṇohi me nāgarāja; uggateja mahabbala.

Dehi me pānīyaghaṭaṃ; bhesajjatthamhi āgato’’ti.

“Này Rắn chúa, ngươi có uy lực; có đại sức mạnh mãnh liệt.

Hãy cho ta bát nước; làm thuốc trị bịnh Thầy ta”.

Rắn chúa Paṇṇaka nói rằng:

Puratthimasmiṃ disābhāge; gaṅgā nāma mahānadī,

Mahāsamuddamappeti; tato tvaṃ pānīyaṃ harā’’ti.

“Nước ở phương Đông; gọi Gaṅgā là con sông lớn.

Thường chảy vào biển lớn; ngươi hãy lấy nước nơi ấy”.

Sadi Sumana suy nghĩ: “Rắn chúa này không chịu cho ta nước theo lời xin của ta, ta sẽ dùng thần lực nhiếp phục nó”.

Sadi Sumana nói rằng:

 – Này Rắn chúa, Thầy ta cần dùng nước ở hồ Anotatta để trị bịnh, do vậy ta chỉ có thể lấy nước hồ này mang về. Này Rắn chúa, ngươi đừng nên ngăn cản ta.

Sadi Sumana nói lên kệ ngôn:

Itova pānīyaṃ hāssaṃ; imināvamhi atthiko.

Yadi te thāmabalaṃ atthi; nāgarāja nivārayā’’ti.

“Đây là nước ta cần; là nước ta phải có..

Nếu ngươi có sức mạnh; này Rắn chúa hãy giữ lấy”.

Rắn chúa đáp rằng:

– Này Sadi, nếu ngươi là bậc có thần lực, ngươi hãy dùng thần lực lấy nước của ta đi.

– Này Rắn chúa, ngươi nói như thế nào?

– Này Sadi, nếu ngươi là bậc có thần lực, ngươi hãy dùng thần lực lấy nước của ta đi.

Sau khi xác định lời nói của Rắn chúa Paṇṇaka ba lần, Sadi Sumana suy nghĩ: “Giờ là thời hợp lẽ ta dùng thần lực để nhiếp phục Rắn chúa này, lấy nước này hợp pháp vậy”.

Trong chốc lát, Sadi Sumana đi mời tất cả địa cư thiên cùng không cư thiên hội đến. Chư thiên đảnh lễ Sadi Sumana, bạch hỏi rằng:

– Bạch Ngài, có chuyện chi vậy?

– Này các chư Thiên, ta sẽ dùng thần lực nhiếp phục Rắn chúa hung dữ nơi hồ Anotatta, các vị hãy đến chứng minh.

Rồi Sadi Sumana đi đến Tứ Đại vương, vua Sakka, vua Suyāma (DạMa), vua Santusita ( ĐẩuSuất), vua Sunimmitta (Hóa lạc), vua Vasavatti (Tha Hóa Tự Tại) mời chư thiên các cõi ấy đến hồ Anotatta; rồi Sadi Sumana đi đến Phạm thiên giới mời chư Phạm thiên đến hồ Anotatta (trừ cõi Vô Tưởng cùng 4 cõi Trời Vô sắc).

Chư Thiên, Phạm Thiên tụ hội nơi hồ Anotatta trên hư không dày đặc không có kẻ hở, ví như bột bánh mà người ta chứa đầy trong nia đỏ.

Khi chư Thiên, Phạm Thiên tụ hội đầy đủ, Sadi Sumana đứng giữa hư không nói lớn rằng:

– Này Rắn chúa có đại uy lực, có sức mạnh mãnh liệt. Ngươi hãy cho ta nước hồ Anotatta để trị bịnh cho thầy ta đi.

– Này Sadi, nếu ngươi có thần lực thì hãy lấy nước hồ của ta đi.

Sau khi xác nhận lời nói của Rắn chúa ba lần, Sadi Sumana hóa thân thành vị Phạm thiên có thân hình cao to 12 dotuần, từ trên hư không đi xuống đạp chân lên đầu Rắn chúa Paṇṇaka nhận xuống hồ. Bị Sadi Sumana đè đầu xuống đáy hồ, Rắn chúa thu hình nhỏ lại như cái muổng để thoát ra, khi ấy cột nước như cây Thốtnốt bắn vọt từ hồ lên không trung. Sadi Sumana đưa bát ra hứng đầy nước hồ ở giữa hư không, chư Thiên, Phạm Thiên tán thán “sādhu, sādhu” vang dội.

Sadi Sumana theo đường hư không trở về dâng nước cho Thầy trị bịnh.

Rắn chúa Paṇṇaka thua trận trước sự chứng kiến đông đảo của chư Thiên cùng Phạm Thiên, vô cùng hổ thẹn, Rắn chúa phẫn nộ rằng:

– Samôn trọc đầu ấy đã mời chư Thiên cùng Phạm Thiên đến chứng kiến, khiến ta phải hổ thẹn. Ta sẽ rượt theo Sadi ấy, bắt được y ta sẽ moi tim hắn, hay nắm chân hắn quăng qua bên kia sông Hằng”.

Rắn chúa dùng thần lực rượt theo Sadi Sumana, nhưng không thể nào kịp. Sadi Sumana dâng nước đến Ngài Anuruddha, bạch rằng:

– Bạch Thầy, đây là nước ở hồ Anotatta, xin Thầy hãy dùng nước này trị bịnh.

Rắn chúa Paṇṇaka vừa theo kịp đến, nói rằng:

– Bạch Ngài Anuruddha, Sadi ấy lấy nước mà tôi chưa cho, xin Ngài đừng dùng nước ấy.

– Này Sadi, thế này là thế nào?

– Bạch Thầy, xin Thầy cứ dùng nước ấy, Rắn chúa đã cho nước này rồi.

Ngài Anuruddha biết rằng: “Bậc không còn ô nhiễm chẳng bao giờ nói dối”, nên Ngài dùng nước hồ Anotatta trị bịnh đau dạ dày của mình.

Rắn chúa Paṇṇaka bạch rằng:

– Bạch Ngài, Sadi này này đã mời chư Thiên cùng Phạm Thiên đến chứng kiến cuộc tranh tài, Sadi này đã làm tôi phải hổ thẹn trước chư Thiên cùng Phạm Thiên. Tôi sẽ tóm lấy Sadi rồi bóp nát trái tim của y, hay ném y qua bên kia bờ sông Hằng.

Ngài Anuruddha dạy rằng:

– Này Rắn chúa, Sadi này là bậc có đại uy lực, đại thần lực, Ngươi không thể thắng được đâu, ngươi nên sám hối vị ấy để tạo thiện nghiệp, nhờ đó ngươi có thể thoát khỏi kiếp súc sinh.

Thật ra, Rắn chúa chỉ vì hổ thẹn với chư Thiên và Phạm Thiên nên phẫn nộ đuổi theo Sadi Sumana để chữa thẹn, thâm tâm Rắn chúa Paṇṇaka hiểu rằng: “Ta không thể thắng được vị Samôn nhỏ tuổi này”.

Khi nghe lời dạy của Ngài Anuruddha, như là cơ hội giúp Rắn chúa Paṇṇaka giải trừ hổ thẹn, xoa dịu tự ái bị tổn thương, nên Rắn chúa hoan hỷ thưa với Sadi Sumana rằng:

– Thưa Ngài, kể từ nay khi nào Ngài cần nước hồ Anottata, xin Ngài hãy cho tôi biết, tôi sẽ mang đến hầu Ngài.

Khi lành bịnh, Ngài Anuruddha cùng Sadi Sumana lên đường đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ) đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Bấy giờ Đức Thế Tôn ngụ trú nơi Migāramātupasāda (Giảng đường mẹ Migāra) nhìn ra đường, chư Tỳkhưu thấy Ngài Anuruddha về đến, vô cùng hoan hỷ ra khỏi Giảng đường đảnh lễ, tiếp rước y bát của Ngài thỉnh vào Giảng đường.

Những vị Tỳkhưu phàm nhìn thấy Ngài Sadi Sumana xinh đẹp thật dễ thương, nên nô đùa, vò đầu, bẹo má, vuốt mũi, kéo tay … hỏi rằng: “Này Sadi, ngươi không có cảm dục ư?”.

Đức Thế Tôn nhìn thấy sự đùa cợt lố lăng của các vị Tỳkhưu phàm, Ngài suy nghĩ: “Những Tỳkhưu này đang đùa giỡn với con rắn độc mà không biết, những Tỳkhưu này không thấu rõ uy lực của Sadi Sumana.

Hôm nay Như Lai sẽ làm sáng tỏ uy lực của Sadi Sumana.

Ngài Anuruddha đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên,   Đức Thế Tôn niềm nở với những câu hỏi thân tình với Ngài Anuruddha. Rồi Đức Thế Tôn cho gọi Ngài Ānanda  đến dạy rằng:

– Này Ānanda, Như Lai cần nước ở hồ Anotatta để rửa chân, Hãy đưa bát cho các Sadi bảo lấy nước hồ Anotatta về cho Như Lai.

Trưởng lão Ānanda cho triệu tập các vị Sadi lại, có đến 500 vị Sadi, trong đó Sadi Sumana là nhỏ nhất. Trưởng lão dạy rằng:

– Này các Sadi, Đức Thế Tôn cần nước ở hồ Anotatta để rửa chân, các ngươi hãy nhận bát này.

Các vị Sadi lần lượt trả lời rằng:

– Bạch Ngài Trưởng lão, con không có khả năng. Hoặc: “Bạch Trưởng lão, con không thể làm việc này …”

Hỏi. Trong 500 vị Sadi, ngoại trừ Sadi Sumana không có vị Sadi nào chứng đạt Thánh quả ALaHán sao?

Đáp. Có, nhưng các vị Sadi Thánh ALaHán ấy biết: “Vòng hoa này Đức Thế Tôn không ban cho ta, Ngài ban cho Sadi Sumana”, nên các Ngài từ chối rằng: “Bạch Trưởng lão, con không thể làm việc này”.

Những vị Sadi phàm thì không có năng lực thần thông, nên bạch với Ngài Ānanda rằng: “Bạch Trưởng lão, con không có khả năng”.

Cuối cùng đến Sadi Sumana, Trưởng lão Ānanda dạy:

– Này Sadi, con có thể đến hồ Anotatta lấy nước về cho Đức Thế Tôn rửa chân chăng?

– Bạch Ngài, nếu Bậc Đạo Sư dạy thì con sẽ đi.

– Này Sadi, đây là lời dạy của Bậc Đạo sư.

Rồi Sadi Sumana đến đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn, được nghe rằng: “Ngài dạy con đến hồ Anotatta lấy ngước mang về cho Ngài rửa chân phải chăng?”.

– Đúng vậy, này Sadi.

Sadi Sumana mang chiếc bát lớn sức chứa bằng sáu bát thường, những chiếc bát này được bà Visākhā làm để chứa nước trong Giảng đường, cầm bát trên tay Ngài Sadi Sumana theo đường hư không đến hồ Anotatta.

Thấy Ngài Sumana từ xa, Rắn chúa Paṇṇaka đi đến tiếp rước Ngài, nói rằng:

– Thưa Ngài, khi Ngài có người phục vụ như tôi, vì sao Ngài phải đến hồ Anotatta để lấy nước, Ngài cần nước sao không cho tôi biết?

– Này Rắn chúa, đây không phải là phận sự của ngươi, là phận sự của ta. Đức Thế Tôn dạy ta đến hồ Anotatta để lấy nước về cho Ngài rửa chân.

Rắn chúa múc đầy bát nước mang trên vai nói rằng:

– Thưa Ngài, xin Ngài hãy về trước tôi sẽ mang bát nước theo sau Ngài.

– Này Rắn chúa, không cần đâu, ngươi hãy trở về, vì Bậc Đạo sư dạy ta lấy nước về cho Ngài, không dạy ngươi.

Ngài Sadi Sumana cầm lấy bát nước đầy, theo đường hư không trở lại kinh thành Sāvatthi. Trông thấy Sadi Sumana trở về, Bậc Đạo sư dạy các Tỳkhưu rằng:

Này các Tỳkhưu, các ngươi hãy nhìn đường đi của Sadi Sumana, đẹp như chim thiên nga trong hư không vậy.

Từ hư không Ngài Sumana hạ thân xuống Migāramātupasāda, đi đến đặt bát nước dưới chân Đức Thế Tôn và đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên.

Đức Thế Tôn hỏi rằng:

– Này Sadi, con được bao nhiêu tuổi?

– Bạch Thế Tôn, con vừa được 7 tuổi.

– Này Sumana, kể từ hôm nay Như Lai ban cho con địa vị Thera (Trưởng lão) trong Giáo pháp này.

Được biết: Trong thời Đức Phật hiện tại chỉ có hai vị Sadi 7 tuổi được Đức Thế Tôn ban cho địa vị Thera (là vị Tỳkhưu được 10 hạ trở lên), đó là Ngài Sopāka và Ngài Sumana.

Vào buổi chiều, nơi Giảng pháp đường chư Tỳkhưu bàn luận cùng nhau về sự kiện hy hữu này.

– Này chư Hiền, đây là sự kiện hy hữu, từ trước đến giờ chúng ta chưa từng chứng kiến vị Sadi 7 tuổi có năng lực thần thông như thế.

Đức Thế Tôn ngự đến Giảng pháp đường, Ngài ngồi vào nơi được soạn sẵn, hỏi các vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhưu, các ngươi đang bàn luận về vấn đề gì? Vấn đề gì được khởi lên nơi đây?

Chư Tỳkhưu bạch trình lên Đức Thế Tôn về đề tài đang bàn luận, Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, trong Giáo pháp của Đấng Như Lai, cho dù tuổi trẻ nhưng thực hành đúng theo Chánh pháp sẽ nhận được đại tài sản như thế.

Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn.

382- Yo have daharo bhikkhu; yuñjati buddhasāsane.

Somaṃ lokaṃ pabhāseti; abbhā muttova candimā.

“Tỳkhưu tuy tuổi nhỏ; siêng tu Giáo pháp Phật.

 Soi sáng thế gian này; như trăng thoát khỏi mây” (HT.TMC d).

Kệ ngôn mang Thánh quả Dự Lưu đến cho nhiều vị Tỳkhưu([129]).

*Dãy núi Vindhya.

Còn được viết là Viñjha hay Viñjhāṭavi. Viñjhāṭavi được mô tả như vùng sơn cước (agāmakaṃ araññaṃ) nằm trong dãy Vindhya.

Đây là dãy núi có rừng bao quanh, trong rừng có con đường đi từ cảngTāmalitti ở Ấn độ đến kinh thành Pāṭaliputta (Hoa Thị Thành) của vương quốc Magadha (MaKiệtĐà).

Truyền thuyết nói rằng([130]). Vua Asoka (ADục) dùng con đường này thỉnh nhánh BồĐề đưa sang Tích Lan, vua Asoka dùng thuyền theo sông Hằng đi ngang qua dãy Vindhya rồi đến cảng Tāmalitti. Từ cảng Tāmalitti, nhánh BồĐề được đưa sang Tích Lan. Từ Tích Lan đến Pāṭaliputta cũng đi theo con đường này([131]).

Cảng Tāmalitti là cảng Tāmluk hiện nay, trước nằm trên cửa sông Hằng, nay nằm trên bờ Tây của Rūpnārayana.

Khi Ngài Pháp Hiển từ Ấn Độ sang Tích Lan, Ngài cũng lên thuyền từ bến cảng này([132])

Gầnrừng có ngôi Đại tự, Trưởng lão Uttara hướng dẫn 60 ngàn vị Tỳkhưu trú trong Đại tự sang Tích Lan, tham dự lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Mahā Thūpa (Đại tháp)([133]).

Nơi chân núi Vindhya có thị trấn Muṇḍa, rừng là trú xứ của những ma đói (peta)([134]).


([1])–  Mtu. i. 75; iii. 117. xem Beal, Records of Western World, ii. 38 n. (thiếu số) về ý nghĩa chữ Anuruddha.

([2])– ĐĐ Indacanda (d). Luật Tiểu phẩm II (Cullavagga II), số 338.

([3])– Thag. 893. Anuruddhattheragāthā.

([4])-ĐĐ Indacanda (d). Luật Tiểu phẩm II (Cullavagga II), số 338; xem thên DhpA. Câu số 17; DhpA. Câu số 382.

([5])– DhpA. câu số 382. ThagA.ii. 65.

([6])– ThagA. 910.

([7])– Xerm Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp (tập 3).

([8])– Thag. 893. Anuruddhattheragāthā.

([9])– ĐĐ Indacanda (d). Luật Tiểu phẩm II (Cullavagga II), số 339 – 340.

([10])– Xem ĐĐ Indacanda (d). Luật Đại phẩm I (Mahāvagga I), số 34.

([11])– ĐĐ Indacanda (d). Luật Tiểu phẩm II (Cullavagga II), số 344. Có sách ghi rằng: “Ngài chứng đạt Thánh quả Bất Lai cùng với thiên nhãn thông”.

([12])– A.i. 281.

([13])–  SnA. ii. 494; DA. iii. 1061, nhưng trong AA. i. 263 Ngài được gọi là Majjhantika-Tissa.

([14])– AA. i. 43; MA. i. 350.

([15])– Mhv. v. 207; Sp. i. 51; Dpv. vii. 24.

([16])– Mhv. xii. 3, 9 ; Sp. i. 64 ; Dpv. viii. 4; Mbv. 113; bản Tây Tạng xem Rockhill, op. cit. 167.

([17])– JA. v. 142.

([18])– S.iv. 172,

([19])– A.ii. 110.

([20])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 4) – xứ Bhagga.

([21])– Papañca. Đây là một thuật ngữ, chỉ cho những gì trừu tượng, không có thực tính rõ ràng, tuy hình thức giống như thật mà không phải thật, Ví như bóng trăng dưới đáy hồ, tuy hình thức như mặt trăng nhưng không thật sự là mặt trăng.

([22])– A.iv. 228.

([23])– AA. iv. 108-9.

([24])– Papañca.

([25])– Thag. 898 – 903. Anuruddhattheragāthā (Kệ ngôn Trưởng lão Anuruddha).

([26])– Bu. v. 60.

([27])– Chữ Anuruddha được viết với số nhiều (Anuruddhā) là chỉ cho các Tỳkhưu, trong đó Ngài Anuruddha là người đứng đầu

([28])– M.ii. Naḷakapānasuttaṃ (Kinh Naḷakapāna).

([29])– Attakāmanīpā. Nghĩa đen là “hoan hỷ với cái tôi”, nghĩa bóng là: “Ưa thích yên tịnh”.

([30])– M.iii. Upakkilesasuttam. (Kinh Tùy phiền não).

([31])– M.i. Kinh số 31.

([32])– Thag. 904. Anuruddhattheragāthā.

([33])– ThagA, ii. 72.

([34])– Thag. 892,  894, 895. Anuruddhattheragāthā.

([35])– Asana là tên một loại gỗ rất cứng rắn.

([36])– 1 usabha # 140 cubit; 1 cubit #

([37])– BuA. Sớ giải Lịch sử Đức Phật Gotama (Gotanmbuddhavaṃsa Atthakathā).

([38])– Xem S,v. 294, 295.

([39])– S.v. 297.

([40])– Xem S.v. 300.

([41])– Xem S.v.  174 – 175.

([42])– Xem S.v. 298.

([43])– Xem S.v. 299.

([44])– Xem A.iii. 169.

([45])– Xem S.v. 302.

([46])– DhpA, iv. 129.

([47])– Xem S. v. 301. Ambapālivanasuttam.

([48])– DA. ii. 545.

([49])– Vin. i. 231-3.

([50])– Theo D. ii. 94. (Mahāparinibbānasuttaṃ), Đức Phật ở trong khu rừng xoài trước khi bà Ambapālī đến viếng.

([51])– Xem S.v. 141 và S.v. 142.

([52])– Xem A.iv. 100.

([53])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 3).

([54])– S.v. 300. Salaḷāgārasuttaṃ.

([55])– DA. ii. 407.

([56])–  D.ii. 1.

([57])– S.v. 303 . Kiếp (kappa) ở đây chỉ cho kiếp trái đất.

([58])– SA. iii. 183.

([59])– Xem S,v. 304, 305.

([60])– A,i. 24.

([61])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 3).

([62])– DhpA. Kệ ngôn số 181.

([63])– S.i. 144.

([64])– Loka (thế giới) ở đây chỉ cho 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới (theo MA.ii. 29).

([65])– Indriya (quyền) ở đây chỉ cho 5 quyền là: Tín, tấn, niệm, định, tuệ.

([66])– M.i. Mahāsīhanādasuttaṃ (Sư tử hống Đại kinh).

([67])– Về địa danh Gosiṅgavana (rừng Sừng bò), xem giải thích ở Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 8).

([68])– M.i.Mahāgosingasuttaṃ (Rừng Sừng bò đại kinh).

([69])– S. ii.155.

([70])– S.ii. 203.

([71])–  Yo yuñjati ( can thiệp, hòa giải người). Nguyên bản Tích Lan, tập sớ đều chép vo yuñjati = anuyuñjati, anuyogaṃ āpajjati.

([72])– A.ii. 239; KhA. 215.

([73])– S.iv. 63.

([74])– S,v. 163.

([75])– Theo tập  Ap. ii. 476 nói Ngài sinh ra ở Bhārukaccha.

([76])– MA. i. 340.

([77])–  Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 3).

([78])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 9).

([79])– UdA. 77.

([80])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập  5).

([81])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 3).

([82])– DhpA. Kệ ngôn số 66.

([83])– Sukkā. Chỉ cho tinh tú.

([84])– Ud.10, Bāhiyasuttaṃ (kinh Bāhiya).

([85])– DhpA. kệ ngôn số 101.

([86])– A.i. 24.; Ud.i. 10.

([87])– A.iv. 262. Pháp 8 chi. Kinh Anuruddha.

([88])– Chỉ cho cõi Atula.

([89])– Chỉ cho cõi Peta (ma đói).

([90])– Vào buổi thiếu niên (buổi sáng), các thiếu nữ thường mơ được được như thế nầy… như thế nầy …

([91])– Vào thời trung niên (buổi trưa) , các nữ nhân thường so sánh, thấy sự thành đạt của mình thua sút nữ nhân khác, nảy sinh ganh tỵ.

([92])– Vào buổi xế niên, các nữ nhân thường hoài vọng về quá khứ.

([93])– A.i. 281; S. iv. 240.

([94])– S.iv. 240.

([95])– S,iv. 243.

([96])– S.iv. 243.

([97])– Thag. Aunuruddhattheragāthā (Kệ ngô Trưởng lão Anuruddha), số 896- 897.

([98])– DhpA. Kệ ngôn số 93.

([99])– S.i.200; SA.i. 226.

([100])– Chỉ Thiên nữ Jālinī.

([101])– Thag. Anuruddhattheragāthā (Kệ ngôn Trưởng lão Anuruddha), số 908; ThagA. ii. 73.

([102])– DhA. ii. 266; A. iii. 40; JA. vi. 240.

([103])– J. v. 158.

([104])– JA. ii. 392.

([105])– S.v, 342,

([106])– JA. 50.

([107])– JA. ii. 189.

([108])- MT. 568.

([109])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 9).

([110])– Luật Phân tích Giới Tỳkhưu II. Phẩm Pācittiya (Ưngđối trị). Phần nói dối; điều học thứ 6.

([111])– AA.ii. 482; Xem thêm Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 9). Tự viện Kāḷaka.

([112])– AA. i. 146, 148; ThagA. i. 65 .

([113])– DhpA. Kệ ngôn số 304.

([114])–  ThagA. i. 174.

([115])– ThaA. i. 339. Kệ ngôn Trưởng lão Aṅganika Bhāradvāja; Brethren, 1157, n. 4.

([116])– Saṃyamāmasa

([117])– S.i. 2o9. Piyaṅkarasuttaṃ (kinh Piyaṅkara).

([118])– DA. ii. 509; PSA. 79.

([119])– Chữ Yakkha (Dạxoa) ở đây chỉ cho uy lực . Vì Indaka là vị Thiên tử, không phải là Dạxoa.

([120])– DhpA, Câu số  356-359; Xem thêm DhpA. câu số 181.

([121])– JA. Ghatajātaka (Bổn sự Ghata). Chuyện số 454.

([122])- PvA, Aṅkurapetavatthu (chuyện ma đói Aṅkura).

([123])– Về người thợ mộc đệ nhất thời ấy của vua Pasenadi này, xin xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 4).

([124])– Nghĩa là làm biến mãn ấn tướng đề mục thiền trở nên rộng lớn.

([125])– Còn được viết là Sabhiya Kaccāna.

([126])– Tadangena. Tập Sớ giải thích: Tassābhayuppattiyā angena: “Tùy theo tính cách sinh khởi thành đời sống mới của họ” (MA.iv. 202).

([127])– M.iii. Anuruddhasuttaṃ (Kinh Anuruddha). Kinh số 127.

([128])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 3). Đây là chi tiết câu chuyện này.

([129])– DhpA. Kệ ngôn số 382.

([130])– Mhv. xix. 6; Dpv. xvi. 2; Sp. i. 90 .

([131])– Mhv. xv. 87.

([132])– Giles: op. cit. p. 65.

([133])– Mhv. xxix. 40.

([134])–   Xem PvA. 43, 192, 244.

trang trướctrang sau

Advertisements