Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (13) – Tế độ gia chủ Anāthapiṇḍika

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Alahán Chánh Đẵng Giác.

-0-0-0-

 

Chương XVIII. Mùa hạ thứ 2 (tt).

II- Tế độ gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Đức Thế Tôn an cư mùa mưa lần thứ hai nơi kinh thành Rājagaha (Vương xá), Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng những con sóc([1]). Số lượng Tỳkhưu an cư mùa mưa nơi thành Rājagaha (Vương xá) trong lần này rất đông, có khoảng 100 ngàn vị (80 ngàn vị dòng ThíchCa xuất gia trong lần Đức Thế Tôn trở lại kinh thành Kapilavatthu lần đầu tiên và 20 ngàn Tăng chúng có trước đó).

Vào thời điểm này. chỗ trú ngụ chưa được Đức Thế Tôn quy định cho các Tỳkhưu, các Tỳkhưu cư ngụ ở trong rừng rậm, ở gốc cây, nơi sườn núi, nơi thung lũng, trong hang núi, nơi bãi tha ma, trong khu rừng thưa, nơi đồng trống, đống rơm …

Vào buổi sáng, từ nơi trú ngụ như: Nơi rừng rậm, cội cây, sườn núi, thung lũng, bãi tha ma … các Ngài đấp y tề chỉnh, tay cầm y bát đi vào thành Rājagaha khất thực với nét mặt tươi tỉnh, các quyền được thu thúc, oai nghi tề chỉnh, không nhìn qua nhìn lại, chỉ nhìn phía trước với khoảng cách một tầm (# 2m). Có một Trưởng giả ở thành Rājagaha đã đi đến công viên vào lúc sáng sớm, nhìn thấy các Tỳkhưu từ nơi này, nơi nọ đi vào thành Rājagaha (Vương xá) khất thực với các gương mặt tươi tỉnh, các quyền được thu nhiếp, các oai nghi tề chỉnh, vi Trưởng giả phát sinh tâm ngưỡng mộ, đi đến gặp các vị Tỳkhưu, thưa rằng:

– Thưa các Ngài, tôi có thể xây dựng những trú xá cho các Ngài. Các Ngài có thể ngụ trong những trú xá của tôi được không?

– Này gia chủ, các trú xá chưa được Đức Thế Tôn cho phép.

– Thưa các Ngài, chính vì điều ấy các Ngài có thể bạch với Đức Thế Tôn rồi báo cho tôi hay.

– Này gia chủ, được rồi.

Các vị Tỳkhưu đi đến, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống nơi phải lẽ, đã bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn. một Trưởng giả trong thành Rājagaha (Vương xá), muốn xây dựng các trú xá cúng dường đến các Tỳkhưu. Bạch Thế Tôn, chúng con phải thực hành như thế nào?.

Do nhân ấy, thuyết lên Pháp thoại rồi dạy các vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhưu, ta cho phép năm loại chỗ trú ngụ là trú xá (vihāraṃ), nhà một mái (aḍḍhayogaṃ), tòa nhà dài (pāsādaṃ), khu nhà lớn (hammiyaṃ) và hang động (guhaṃ).

Các vị Tỳkhưu đi đến gặp vị Trưởng giả thành Rājagaha (Vương xá), nói rằng:

– Này gia chủ, các trú xá đã được đức Thế Tôn cho phép. Bây giờ, gia chủ hãy biết là thời điểm của việc gì.

Sau đó, vị Đại trưởng giả thành Rājagaha (Vương xá) đã cho dựng lên sáu mươi trú xá chỉ trong một ngày.

Khi hoàn tất 60 trú xá, vị Trưởng giả đi đến yết kiến Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngồi xuống một bên, bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Kính bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn cùng với hội chúng Tỳkhưu nhận lời thọ thực nơi tư gia của con vào ngày mai.

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời, vị Trưởng giả biết Đức Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi từ giả ra về.

Khi trải qua đêm ấy, vị Đại trưởng giả thành Rājagaha (Vương xá) đã bảo chuẩn bị thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm rồi cho thông báo giờ đến Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, vật thực đã chuẩn bị xong.

Vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, và đi đến tư gia của Đại trưởng giả thành Rājagaha (Vương xá), sau khi đến đã ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt cùng với hội chúng Tỳkhưu.

Sau đó, vị Trưởng giả thành Rājagaha đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỳkhưu có Đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm.

Khi Đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, vị Trưởng giả thành Rājagaha ngồi xuống ở một bên, bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, sáu mươi trú xá này đã được con cho xây dựng vì mục đích phước báu, vì mục đích cõi trời. Bạch Thế Tôn, con nên thực hành như thế nào về những trú xá này?

– Này gia chủ, chính vì điều ấy ngươi hãy cho thiết lập sáu mươi trú xá ấy dành cho hội chúng tứ phương hiện tại và vị lai ([2]).

– Thưa vâng, bạch Đức Thế Tôn.

Sau đó, Đức Thế Tôn đã tùy hỷ với vị Trưởng giả thành Rājagaha (Vương xá) bằng năm kệ ngôn.

1- Sītaṃ uṇhaṃ paṭihanti; tato vāḷamigāni ca.

Sarīsape ca makase; sisire cāpi vuṭṭhiyo.

Chúng ngăn ngừa nóng lạnh; và các loài thú dữ.

Các loài rắn, muỗi mòng; luôn các cơn mưa lạnh (từ nơi ấy)”.

2- Tato vātātapo ghore; sañjāto paṭihaññati.

Leṇatthañca sukhatthañca; jhāyituñca vipassituṃ.

Cơn gió nóng dữ dội; sanh lên bị dội lại (từ nơi ấy).

Sự bố thí trú xá đến hội chúng để hành; thiền định và minh sát”.

3-Vihāradānaṃ saṅghassa; aggaṃ buddhena vaṇṇitaṃ.

Tasmā hi paṇḍito; poso sampassaṃ atthamattano.

“Đem lại sự nương náu, đem lại sự an lạc;

đã được chư Phật Đà, ngợi khen là tối thắng”.

Vì thế người trí tuệ, thấy lợi ích cho mình”.

4- Vihāre kāraye ramme; vāsayettha bahussute.

Tesaṃ annañca pānañca; vatthasenāsanāni ca.

Dadeyya ujubhūtesu, vippasannena cetasā..

“Cho xây trú xá đẹp; để các bậc đa văn,

Có thể ngụ nơi ấy;

Nên cúng dường cơm nước, y áo, chỗ trú ngụ

đến các chân tu ấy, có tâm tư thanh tịnh.

5- Te tassa dhammaṃ desenti, sabbadukkhāpanūdanaṃ;

Yaṃ so dhammaṃ idhaññāya, parinibbāti anāsavo’’ti.”

Đến người, các vị thuyết pháp, xua mọi khổ đau;

Người thấy pháp đời này, không còn ô nhiễm nữa;

Và chứng ngộ Nípbàn”. (ĐĐ Indacanda d).

Sau khi tùy hỷ bằng những lời kệ ấy, Đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Đại chúng đã nghe rằng: “Nghe nói các trú xá đã được Đức Thế Tôn cho phép” rồi cho xây dựng các trú xá một cách hăng hái.

Các trú xá ấy không có cửa nên các con rắn, các con bọ cạp, và các con rết bò vào, các vị Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép (làm) cửa.

Sau khi đục lỗ ở tường, họ đã buộc cánh cửa bằng dây leo và dây thừng, các con chuột và các con mối đã gặm nhấm (dây buộc).

Các cánh cửa có dây buộc đã bị gặm nhấm rơi xuống, các vị Tỳkhưu đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép (làm) trụ cửa, rãnh xoay, và chốt xoay.

Các cánh cửa không sử dụng được. …(như trên)…

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép (làm) lỗ để luồn và dây thừng để luồn qua.

Các cánh cửa không đóng kín được. …(như trên)…

– Này các Tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt phụ.

Vào lúc bấy giờ, các Tỳkhưu không thể khóa cửa được, các vị đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép (làm) lỗ khóa. Có ba loại khóa: khóa bằng đồng, khóa bằng gỗ, khóa bằng sừng.

Khi các vị mở cửa đi vào trong, các trú xá không được an toàn, các vị đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép (làm) then cài, đinh khóa chốt.

Vào lúc bấy giờ, các trú xá được lợp cỏ nên lạnh lẽo vào mùa lạnh, nóng nực vào mùa nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép che kín mái, tô vữa bên trong và bên ngoài.

Vào lúc bấy giờ, các trú xá không có cửa sổ nên không tốt cho mắt và có mùi hôi, các vị đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép ba loại cửa sổ: cửa sổ chấn song ngang, cửa sổ gắn lưới, cửa sổ chấn song dọc.

Các con sóc và dơi đi vào do các khe hở ở cửa sổ, các vị đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép (làm) màn che cửa sổ.

Các con sóc và dơi đi vào do các khe hở của màn che. …(như trên)…

– Này các Tỳkhưu, Ta cho phép (làm) cánh cửa sổ, tấm chắn cửa sổ.…([3]).

Vị Trưởng giả thành Rājagaha (Vương xá) này, vốn là thân quyến của Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Vị Trưởng giả thành Rājagaha cưới em gái của Trưởng giả Cấp Cô Độc, ngược lại Trưởng giả Cấp Cô Độc cưới em gái vị Trưởng giả thành Rājagaha làm vợ.

Khi hàng hóa ở kinh thành Rājagaha (Vương xá) giá thấp hơn so với giá ở kinh thành Sāvatthi (XáVệ), Trưởng giả thành Rājagaha thu mua số hàng hóa ấy, chất đầy 500 cổ xe mang đến kinh thành Sāvatthi bán. Khi còn cách kinh thành Sāvatthi một dotuần, Trưởng giả thành Rājagaha báo tin cho Trưởng giả Cấp Cô Độc biết và Trưởng giả Cấp Cô Độc thu xếp chỗ trú ngụ cùng nơi chứa hàng hóa, tiếp rước người anh vợ cũng là em rễ của mình thật chu đáo. Nếu nơi kinh thành Sāvatthi có người mua hàng hóa, ông bán ngay số hàng hóa ấy, nếu chưa tìm được người mua, ông gửi số hàng hóa ở nhà người em gái mình rồi trở về kinh thành Rājagaha.

Tương tự như thế đối với Trưởng giả Cấp Cô Độc.

Khi mãn mùa an cư, Đức Thế Tôn làm lễ Tự tứ (Pavāraṇā) xong, Ngài đi đến Sītavana (rừng Mát) trú ngụ([4]).

Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) cho chất đầy hàng hóa trên 500 cổ xe, đi đến thành Rājagaha buôn bán. Khi còn cách kinh thành Rājagaha khoảng một dotuần, Trưởng giả Cấp Cô Độc gửi thư báo cho Trưởng giả thành Rājagaha biết (như những lần trước).

Cũng trong ngày hôm ấy, vị Trưởng giả thành Rājagaha đi đến yết kiến Đức Thế Tôn nơi rừng Sīta, sau khi nghe pháp thoại từ Đức Thế Tôn đã hoan hỷ với Pháp thoại, vị Trưởng giả thành Rājagaha thỉnh Đức Thế Tôn cùng hội chúng Tỳkhưu đến thọ thực nơi tư gia của ông vào ngày mai. Do vậy, vị Trưởng giả thành Rājagaha không quan tâm nhiều đến tin Trưởng giả Cấp Cô Độc đến thành Rājagaha.

Trưởng giả thành Rājagaha bận rộn sắp xếp vật thực và lễ vật để cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng vào ngày mai, sai bảo nhóm gia nhân và những người làm công rằng:

– Này các người, các người phải thức dậy thật sớm, nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn ngon.

Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đi vào thành Rājagaha với ý nghĩ rằng: “Một sự tiếp rước lớn đang chờ đợi ta như những lần trước”. Nhưng Trưởng giả Cấp Cô Độc không thấy có cuộc tiếp rước nào cả, ngay khi ông đến trước cửa tư gia của Trưởng giả thành Rājagaha, thậm chí ông vào bên trong nhà của Trưởng giả thành Rājagaha cũng không nhận được sự tiếp đón nồng hậu của gia chủ như: “Thưa Trưởng giả thành Sāvatthi (XáVệ), Ngài có được an lạc chăng? Gia tộc của Ngài có được an vui chăng?…”.

Trưởng giả Cấp Cô Độc chỉ nhận được những lời chào hỏi thường tình, rồi thấy vị Trưởng giả thành Rājagaha tất bật trong công việc, sai bảo nhóm gia nhân cùng với những người lảm công rằng: “Các người hãy làm điều này, hãy làm như vầy …”.

Khi ấy, Trưởng giả Anāthapiṇḍika đã khởi ý rằng:

Trước đây mỗi khi ta đến, gia chủ này bỏ hết mọi công việc và đã trò chuyện với mình ta thôi. Sao hôm nay ông ta có vẻ khẩn trương đã sai bảo nhóm gia nhân cùng với những người làm công rằng: “Này các người, chính vì việc ấy các người phải thức “dậy thật sớm, nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn ngon”.

Không lẽ vào ngày mai gia chủ này có đám rước dâu (āvāha), hay là có đám đưa dâu (virāha), hay là sắp xếp cho buổi đại lễ cúng tế, hay là có mời thỉnh Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cùng với đội quân binh?

Sau khi sắp xếp, sai bảo những gia nhân và các người làm công xong, vị Trưởng giả thành Rājagaha đi đến gặp Trưởng giả Cấp Cô Độc, sau khi chào hỏi Trưởng giả Cấp Cô Độc, Trưởng giả thành Rājagaha ngồi xuống một bên.

Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đã nói với Trưởng giả thành Rājagaha đang ngồi một bên rằng:

– Này gia chủ, trước đây mỗi khi ta đến, ông bỏ hết mọi công việc và đã trò chuyện với mình ta thôi. Sao hôm nay ông có vẻ khẩn trương đã sai bảo nhóm gia nhân và các người làm công rằng:

Này các người, các người phải thức dậy thật sớm, nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn ngon”.

Này gia chủ, không lẽ vào ngày mai ông có đám rước dâu, hay là có đám đưa dâu, hay là sắp xếp cho buổi đại lễ cúng tế, hay là có mời thỉnh Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cùng với đội quân binh?

– Này gia chủ, không phải tôi có đám rước dâu, cũng không có đám đưa dâu, cũng không có mời thỉnh Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cùng với đội quân binh, nhưng mà tôi sắp xếp cho buổi đại lễ cúng dường đến Hội chúng có Đức Phật đứng đầu vào ngày mai.

– Này gia chủ, có phải ngươi nói: “Đức Phật”?

– Này gia chủ, đúng vậy, tôi nói là: “Đức Phật.”

– Này gia chủ, có phải ngươi nói: “Đức Phật”?

– Này gia chủ, đúng vậy, tôi nói là: “Đức Phật.”

– Này gia chủ, có phải ngươi nói: “Đức Phật”?

– Này gia chủ, đúng vậy, tôi nói là: “Đức Phật.”

– Này gia chủ, cái âm này thật khó được nghe ở thế gian, đó là từ: “Đức Phật”. Này gia chủ, vào giờ này ta có thể đi đến để diện kiến Đức Thế Tôn, bậc ALaHán Chánh Đẳng Giác không vậy?.

– Này gia chủ, không phải lúc rồi; giờ này không thể đi đến diện kiến Đức Thế Tôn, bậc ALaHán Chánh Đẳng Giác đâu. Để đến sáng sớm ngày mai, gia chủ sẽ đi đến để diện kiến Ngài vậy.

Giải thích.

Trưởng giả Cấp Cô Độc được nghe âm vận “Buddho” thốt ra từ tâm thành kính của Trưởng giả thành Rājagaha, toàn thân Trưởng giả Anāthapinḍika phát sinh năm loại hỷ (pīti) là: Tiểu hỷ (khuddakapīti), Sátna hỷ (khaṇikapīti), quang hỷ ( okkantipīt), hải triều hỷ (ubbegāpīti)([5]) và sung mãn hỷ (pharanāpīti).

Năm loại hỷ này phát sinh từ đầu lan tỏa đến chân, rồi từ chân lan tỏa lân đến đầu, nên Trưởng giả Cấp Cô Độc đã hỏi ba lần như vậy và cả ba lần ông đều được trả lời là “ Buddho (Đức Phật)”.

Khi Trưởng giả Cấp Cô Độc ngỏ ý muốn đến yết kiến và đảnh lễ Đức Thế Tôn, Trưởng giả thành Rājagaha suy nghĩ:

“Nơi Đức Thế Tôn trú ngụ rất thanh vắng, nằm gần tha ma mộ địa. Giờ này đã chiều tối, thật khó có thể đến yết kiến Đức Thế Tôn vào giờ này, tựa như khó có thể đến gần con rắn độc”.

Do vậy, Trưởng giả thành Rājagaha khuyên Trưởng giả Cấp Cô Độc hãy đợi sáng mai, vì đi trong đêm nơi bãi tha ma có rất nhiều nguy hiểm đến tính mạng.

Nghe vậy, Trưởng giả Cấp Cô Độc suy nghĩ: “Ta chỉ có thể đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc ALaHán Chánh Đẵng Giác vào ngày mai”. Và Trưởng giả Cấp Cô Độc đi ngủ, không nghĩ ngợi gì khác ngoài Hồng danh Buddho.

Từ lúc nghe được danh từ Buddho, tâm tư Trưởng giả Cấp Cô Độc không còn vui thích với bất cứ điều gì, không nghĩ đến số hàng hóa mà ông mang đến thành Rājagaha để bán, cũng không lưu tâm đến những người phục vụ, không màng đến buổi ăn tối đầy những loại vật thực thượng vi.

Trưởng giả đi đến lầu 7, nằm vào chiếc giường sang trọng lộng lẫy, tâm tư cứ niệm tưởng danh hiệu Buddho, Buddho cho đến khi ngủ thiếp.

Khi canh đầu của đêm trôi qua, Trưởng giả Cấp Cô Độc thức giấc. Trưởng giả lại niệm tưởng Hồng danh Buddho, Buddho, niềm tịnh tín với Ân đức Phật của Trưởng giả Cấp Cô Độc trở nên vững mạnh (balavasaddhā), khiến thân Trưởng giả phát hào quang do phỉ lạc sinh ra, tựa như có ngàn cây đèn được thắp sang, hay như mặt trời hoặc mặt trăng rực sáng giữa không trung, xua tan mọi bóng tối. Trưởng giả Cấp Cô Độc suy nghĩ: “Ta đã lơ đãng, không chú ý đến thời gian. Mặt trời đã mọc, bình minh đã đến rồi”. Trưởng giả thì thầm như vậy rồi bước ra khỏi giường.

Khi mở cửa lầu 7 đi ra, Trưởng giả thấy mặt trăng vẫn treo lơ lửng giữa hư không, Trưởng giả nhận ra rằng: “Ồ ! mới trải qua canh đầu của đêm thôi. Còn hai canh nữa”.

Trưởng giả quay trở lại giường ngủ, nằm trên giường niệm tưởng ân Đức Phật rồi ngủ thiếp.

Vào cuối canh hai của đêm, Trưởng giả Cấp Cô Độc lại thức giấc, diễn tiến giống như lần trước.

Gần cuối canh ba của đêm, trước khi bình minh ló dạng, Trưởng giả Cấp Cô Độc thức giấc. Khi bước ra cửa phòng ngủ của lầu 7, Trưởng giả đi dọc theo hành lang, đến cửa chính của lầu 7 ông thấy cửa chính đã mở, lần theo xuống lầu sáu, cửa chính cũng đã mở sẵn, cứ thế Trưởng giả đến tầng cuối rồi ra khỏi lâu đài đi dọc theo đường chính của kinh thành Rājagaha.

Khi Trưởng giả Anāthapiṇḍika đi đển cổng thành Rājagaha, cổng thành có tên là Sīvaka, các vị Thánh chư thiên bảo vệ cổng thành suy nghĩ: “Trưởng giả này muốn đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và nghe từ Đức Thế Tôn. Sau khi nghe Pháp, Trưởng giả này sẽ chứng Thánh quả Dự Lưu và sẽ trở thành nam cư sĩ tối thắng của Đức Thế Tôn về hạnh phục vụ Tam Bảo, Trưởng giả Cấp Cô Độc này sẽ xây dựng Jetavanavihāra (Đại tự Kỳ Viên), đó là nơi tiếp đón chư Thánh Tăng từ bốn phương hội về. Thật không thích hợp để cổng thành đóng lại, ngăn cản bước tiến của vị Trưởng giả này”.

Các vị Thánh chư thiên đã mở cổng thành Rājagaha (Vương xá) và Trưởng giả Cấp Cô Độc thong dong ra khỏi thành Rājagaha.

Khi ra khỏi thành Rājagaha, hào quang từ thân của Trưởng giả đang chiếu sáng rực chợt biến mất, bóng tối hiện ra bao trùm cảnh vật, sự sợ hãi phát sinh trong tâm của Trưởng giả, ông muốn quay trở lại lâu đài của mình.

Vì sao vậy? Vì rằng: Kinh thành Rājagaha là nơi có rất nhiều bộ tộc sinh sống, nội thành có 90 triệu dân, ngoại thành có 9o triệu dân sinh sống, tổng cộng kinh thành Rājagaha có 180 triệu dân.

Các cổng thành được đóng lại khi hoàng hôn buông xuống, trong đêm có những người mệnh chung vào giờ xấu theo quan điểm của bộ tộc, thân quyến của người này sẽ mang xác người chết đến những bờ tường thành, ném xác chết ra khỏi tường thành ở quanh cổng thành.

Khi Trưởng giả Cấp Cô Độc ra khỏi cổng thành Rājagaha, ông vô tình đạp phải một xác chết còn tươi, rồi lại đạp phải một xác chết khác; khi ấy những loài ruồi nhặng đang bám vào xác chết bay lên, tạo ra một âm thanh ghê rợn trong đêm, đồng thời mùi tử khí bốc lên từ những xác chết xông vào mũi Trưởng giả.

Do vậy, tâm Trưởng giả phát sinh kinh sợ, niềm tịnh tín từ ân đức Phật bị lui sụt, nên hào quang từ thân của Trưởng giả phát sinh từ hỷ lạc chợt biến mất. Khi hào quang biến mất, bóng tối ập đến khiến tâm Trưởng giả càng kinh sợ khiến lông tóc dựng ngược, vì thế ông muốn quay về tòa lâu đài.

Vị Dạxoa thiên là Sīvaka muốn động viên Trưởng giả Cấp Cô Độc can đảm lên, tiếp tục đi đến Sītavana đảnh lễ Đức Thế Tôn, nên đi đến gần Trưởng giả Cấp Cô Độc nhưng không hiện hình, nói lên kệ ngôn rằng:

Sataṃ hatthī sataṃ assā; sataṃ assatarīrathā.

Sataṃ kaññāsahassāni; āmukkamaṇikuṇḍalā.

Ekassa padavītihārassa, kalaṃ nāgghanti soḷasiṃ.

Trăm voi (và) trăm ngựa;trăm xe kéo bởi lừa.

Trăm ngàn cô thiếu nữ; điểm trang ngọc, hoa tai.

Mười sáu lần như thế; không bằng một bước đi.

Abhikkama gahapati abhikkama gahapati;

Abhikkantaṃ te seyyo no paṭikkanta’’nti.

Này gia chủ hãy bước tới, này gia chủ hãy bước tới.

Việc bước tới thì tốt đẹp cho người;

không có việc quay lui”(ĐĐ Indacanda d).

Nghe tiếng Dạxoa Sīvaka sách tấn, Trưởng giả Cấp Cô Độc suy nghĩ:

“Ta nghĩ nơi đây ta cô độc một mình, nhưng rõ ràng ta có những bạn đồng hành là những vị Thiên nhân. Vậy tại sao ta phải sợ hãi?”.

Tâm Trưởng giả Cấp Cô Độc trở nên can đảm và tự tin, ông niệm tưởng đến ân đức Phật và hào quang lại tỏa ra từ thân xua ta bóng tối, nỗi kinh hoàng được xua tan và ông tiếp tục tiến về Sītavana (rừng Mát).

Khi Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) bước đi trên đường xuyên qua bãi tha ma, con đường này có nhiều kinh hãi tạo ra từ những dạxoa hay những con chó rừng, chó nhà… chúng đang tìm ăn những thây ma. Trên con đường này những thây ma đủ dạng đang nằm ngổn ngang, có nhiều thây ma mất đầu, mất tay, mất chân, mất gan ruột …

Những tiếng hú của những con chó rừng, tiếng sủa những con chó nhà, tiếng rít của loài chim ăm đêm, tiếng gió hú … quyện vào nhau, tạo thành những âm thanh ghê rợn, khiến tâm Trưởng giả Cấp Cô Độc chợt rúng động, hào quang từ thân của ông chợt biến mất, bóng tối tràn đến và Trưởng giả Cấp Cô Độc lại rủn chí muốn quay về. Dạxoa Sīvaka lại đi đến gần ông nói lên kệ ngôn trên để khích lệ sách tấn Trưởng giả Cấp Cô Độc.

Và Trưởng giả lấy lại can đảm, niệm tưởng ân đức Phật, hào quang lại xuất hiện, Trưởng giả tiếp tục tiến bước.

Khi vượt qua bãi tha ma đi vào rừng Sīta, cảnh vật âm u ghê rợn của khhu rừng cùng với những tiếng kêu, gầm của những loài thú dữ khiến tâm của Trưởng giả dao động, hào quang lại mất.

Dạxoa Sīvaka lại đi đến gần Trưởng giả, không hiện hình, nói lên lời kệ rằng:

Sataṃ hatthī sataṃ assā; sataṃ assatarīrathā.

Sataṃ kaññāsahassāni; āmukkamaṇikuṇḍalā.

Ekassa padavītihārassa, kalaṃ nāgghanti soḷasiṃ.

Trăm voi( và) trăm ngựa; trăm xe kéo bởi lừa.

Trăm ngàn cô thiếu nữ; điểm trang ngọc, hoa tai.

Mười sáu lần như thế; không bằng một bước đi.

Abhikkama gahapati abhikkama gahapati;

Abhikkantaṃ te seyyo no paṭikkanta’’nti.

Này gia chủ hãy bước tới, này gia chủ hãy bước tới.

Việc bước tới thì tốt đẹp cho người;

không có việc quay lui”(ĐĐ Indacanda dịch).

Thế là Trưởng giả Cấp Cô Độc lại vững tâm tiến bước đi đến nơi Đức Thế Tôn trú ngụ.

Khi trên đường tiến đến nơi cư ngụ của Đức Thế Tôn, một tư tưởng sau đây nảy sinh trong tâm Trưởng giả Cấp Cô Độc như sau: “Trong thế gian này, những tôn chủ như Purāna Kassapa… tự cho mình là Bậc Toàn Giác, làm sao ta có thể biết Đức Thế Tôn mà ta sắp diện kiến là Bậc Toàn giác đây?”.

Rồi một ý nghĩ khác phát sinh đến cho Trưởng giả Cấp Cô Độc rằng: “Mọi người đều gọi ta là Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) do tính hào sảng của ta, thường giúp đỡ, cứ trợ những người nghèo khổ, đơn chiếc. Nhưng tên do cha mẹ đặt cho ta là Sudatta không ai biết ngoại trừ chính ta. Nếu Đức Thế Tôn là Bậc Chánh Giác, Ngài sẽ không gọi ta là Anāthapiṇḍika, Ngài sẽ gọi ta là Sudatta”.

Vào lúc bấy giờ, sau khi thức dậy vào canh cuối của đêm, Đức Thế Tôn đi kinh hành ở ngoài trời. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy gia chủ Cấp Cô Độc ấy từ xa đang đi lại, với tâm mình Đức Thế Tôn thấu rõ những gì đang khởi lên trong tâm của Trưởng giả Cấp Cô Độc.

Đức Thế Tôn rời khỏi con đường kinh hành đi đến ngồi ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, Đức Thế Tôn gọi Trưởng giả Cấp Cô Độc rằng: “Này Sudatta, hãy đến đây”.

Nghe Đức Thế Tôn gọi, Trưởng giả Cấp Cô Độc suy nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đã gọi ta bằng tên” nên đã mừng rỡ, phấn chấn đi đến gần Đức Thế Tôn.

Sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch Thế Tôn, chắc hẳn rằng Đức Thế Tôn đã nghỉ ngơi được an lạc?

Đức Thế Tôn dạy rằng:

Sabbadā ve sukhaṃ seti; brāhmaṇo parinibbuto.

Yo na limpati kāmesu; sītibhūto nirūpadhi.

“Luôn nghỉ ngơi an lạc, Bậc Phạm hạnh diệt tất cả.

Người không vướng dục lạc; an tịnh không chấp thủ”.

Sabbā āsattiyo chetvā; vineyya hadaye daraṃ.

Upasanto sukhaṃ seti, santiṃ pappuyya cetasā’’ti.

Đã điều phục tất cả; các nổi khổ nơi tâm.

Nằm an lạc, tỉnh lặng; tâm chứng đạt tịch tịnh”([6]).

Sau đó, Đức Thế Tôn thuyết Pháp theo thứ lớp đến Trưởng giả Cấp Cô Độc. Tức là Ngài giảng giải về bố thí (dānakathā), về giới cấm (sīlakathā), về cõi trời (saggakathā), sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục (kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ) và lợi ích của việc xuất ly (nekkhamme ānisaṃsaṃ).

Khi Đức Thế Tôn biết được tâm của Trưởng Cấp Cô Độc đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tỉnh lặng, Ngài thuyết lên bài Pháp được Chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo([7]).

Giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách trọn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sinh khởi đến Trưởng giả Cấp Cô Độc: “Điều gì có bản tính được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tính hoại diệt”.

Trưởng giả Cấp Cô Độc chứng Thánh quả Dự Lưu.

Trưởng giả Cấp Cô Độc bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, thật là tuyệt vời! Bạch Đức Thế Tôn, thật là tuyệt vời! Bạch Thế Tôn, như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, mang ánh sáng vào bóng tối để “Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng”. Tương tự như thế, Pháp đã được Đức Thế Tôn giảng rõ bằng nhiều phương tiện.

Bạch Thế Tôn, con xin quy ngưỡng Đức Thế Tôn, Giáo Pháp và Tăng chúng. Xin Đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã quy ngưỡng Tam Bảo kể từ hôm nay cho đến trọn đời.

Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn và hội chúng Tỳkhưu nhận lời thọ thực nơi nhà con vào ngày mai.

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Trưởng giả Cấp Cô Độc hiểu được sự nhận lời của Đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh Đức Thế Tôn, rồi ra đi.

1- Từ chối trợ giúp tài chánh.

Tin Trưởng giả Cấp Cô Độc thỉnh được Đức Thế Tôn cùng hội chúng Tỳkhưu thọ thực vào ngày mai nhanh chóng lan rộng khắp kinh thành Rājagaha, vị Trưởng giả thành Rājagaha đã nói với Trưởng giả Anāthapiṇdika rằng:

– Thưa Trưởng giả Anāthapiṇḍi, được nghe Trưởng giả thỉnh được Đức Thế Tôn cùng Hội chúng Tỳkhưu thọ thực vào ngày mai. Trưởng giả hiện là khách vãng lai của kinh thành Rājagaha, tôi sẽ giúp tài chánh đến Trưởng giả để thực hiện buổi lễ cúng dường vật thực vào ngày mai vậy.

– Này Trưởng giả, tôi có đủ tài chánh; với số tài chánh ấy tôi sẽ thực hiện buổi cúng dường vật thực đến Đức Phật cùng Tăng chúng vào ngày mai.

Các thương nhân trong kinh thành Rājagaha được tin: “Trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường vật thực đến Đức Phật và Tăng chúng vào ngày mai”, các thương nhân ấy đi đến gặp Trưởng giả Cấp Cô Độc, nói rằng:

– Thưa Trưởng giả, được biết Trưởng giả có cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn cùng Hội chúng Tăng vào ngày mai. Trưởng giả là khách vãng lai của kinh thành này, chúng tôi xin được hùn phước tài chánh với Trưởng giả vậy.

– Thưa các vị Thương nhân, tôi có đủ tài chánh; với số tài chánh ấy tôi sẽ thực hiện buổi cúng dường vật thực đến Đức Phật cùng Tăng chúng vào ngày mai.

Vị Đại thần cai quản kinh thành Rājagaha đã nghe rằng: “Nghe nói gia chủ Cấp Cô Độc đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai”. Vị Đại thần ấy đã nói vớiTrưởng giả Cấp Cô Độc rằng:

– Này Trưởng giả, nghe nói ông đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai và ông lại là khách vãng lai. Này Trưởng giả, ta sẽ cho ông tài chánh; nhờ đó ông có thể thực hiện buổi cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng vào ngày mai.

– Thưa Ngài, tôi có đủ tài chánh; với số tài chánh ấy tôi sẽ thực hiện buổi cúng dường vật thực đến Đức Phật cùng Tăng chúng vào ngày mai.

Đức vua Seniya Bimbisāra (BìnhSa) vị lãnh tự xứ Magadha (MaKiệtĐà) được nghe rằng: “Nghe nói Trưởng giả Cấp Cô Độc đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai.” Khi ấy, Đức vua Seniya Bimbisāra, vị lãnh tụ xứ Magadha cho mời Trưởng giả Cấp Cô Độc đến Hoàng cung, nói rằng:

– Này Trưởng giả, nghe nói ngươi đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai và ngươi lại là khách vãng lai. Này Trưởng giả, Ta sẽ giúp ngươi tài chánh; nhờ đó ngươi có thể thực hiện buổi cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng vào ngày mai.

– Thưa Đại vương, con có đủ tài chánh; với số tài chánh ấy con sẽ thực hiện buổi buổi cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng vào ngày mai.

Sau đó, khi trải qua đêm ấy gia chủ Cấp Cô Độc đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm tại tư gia vị Trưởng giả thành Rājagaha, rồi cho thông báo giờ đến Đức Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.

Khi ấy vào buổi sáng, Đức Thế Tôn vận mặc y phục chỉnh tề, tay cầm y bát, đi đến tư gia của vị Trưởng giả thành Rājagaha, sau khi đến Đức Thế Tôn ngồi vào chỗ được soạn sẵn cùng với hội chúng Tỳkhưu.

Sau đó, Trưởng giả Cấp Cô Độc đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỳkhưu có Đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm.

Khi Đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, Trưởng giả Cấp Cô Độc đã ngồi xuống ở một bên, bạch với Đức Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn nhận lời con về việc an cư mùa mưa tại thành Sāvatthi (XáVệ) cùng với hội chúng Tỳkhưu.

– Này gia chủ, các Đấng Như Lai chỉ thỏa thích ở trú xứ thanh vắng.

– Bạch Thế Tôn, con đã biết rõ. Bạch Thiện Thệ, con đã biết rõ.

Sau đó, Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Cấp Cô Độc bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

2-Xây dựng những tự viện tạm thời.

Vào lúc bấy giờ, Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) có nhiều bạn bè, có nhiều cộng sự, có lời nói uy tín. Khi Trưởng giả Cấp Cô Độc hoàn tất công việc cần làm ở thành Rājagaha đã ra đi trở về thành Sāvatthi.

Trên đường đi gia chủ Cấp Cô Độc đã bảo với dân chúng rằng:

– Quý vị ơi, hãy xây dựng các tu viện, hãy cho thiết lập các trú xá, hãy chuẩn bị các vật cúng dường. Giờ đây, đức Phật đã xuất hiện ở trên đời. Và Đức Thế Tôn ấy được tôi thỉnh mời sẽ ngự đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ) bằng con đường này.

Đáp lại lời kêu gọi của Trưởng giả Cấp Cô Độc (Cấp Cô Độc), các thương nhân trong đoàn, những người ban cùng nhau xây dựng những trú xá tạm thời để cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng. Mọi chi phí xây dựng trú xá là từ tiền riêng của những người này, không nhận tiền từ Trưởng giả Anāthapiṇḍika, những người có thu nhập kém thì đóng góp bằng công sức xây dựng.

Từ thành Rājagaha đến kinh thành Sāvatthi dài 45 dotuần, cứ mỗi do tuần là một trú xá. Trưởng giả Anāthapiṇḍika để lại 10 ngàn đồng vàng cho mỗi trú xá để bố thí lương thực, như vậy Trưởng giả Anāthapiṇḍika đã bỏ ra 450 ngàn tiền vàng để chu cấp lương thực cho 45 trú xá nhằm vào mục đích bố thí, cúng dường.

A- Trưởng giả Anāthapiṇḍika tìm đất xây dựng Tự viện.

1- Đấu trí để mua đất.

Khi về đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ), Trưởng giả Cấp Cô Độc đi xem xét quanh thành Sāvatthi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn nên ngụ ở nơi nào đây? Đối với Ngài, chỗ ấy không nên xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít tiếng động, không nhiều gió, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh”.

(Tức là khu đất để kiến tạo một Đại tự ấy phải có đủ 5 điều kiện:

– Không quá xa thành phố.

– Không quá gần thành phố.

– Có đường giao thông thuận tiện.

– Mọi người có thể đến bất cứ lúc nào, khi có hữu sự.

– Không bị ảnh hưởng tiếng náo động từ phố chợ hay những thú vui náo nhiệt từ năm loại dục lạc).

Trưởng giả Cấp Cô Độc nhìn thấy khu rừng của Vương tử Jeta không xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít tiếng động, không nhiều gió, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh.

Trưởng giả Cấp Cô Độc đi đến gặp Vương tử Jeta, thưa với Vương tử Jeta rằng:

– Thưa Vương tử, hãy cho tôi khu rừng để xây dựng một Đại tự.

– Này gia chủ, khu rừng không thể cho mặc dù với việc trải ra những đồng vàng lấp đầy khu vườn.

– Như vậy, thưa Vương tử Jeta, khu rừng đã được bán.

– Này gia chủ, khu rừng chưa được bán.

Sự việc đưa đến các vị Đại thần xử án rằng:

– (Khu rừng) đã được bán hay chưa được bán?

Các viên quan đại thần xử án đã nói như vầy:

– Thưa Vương tử, bởi vì giá cả đã được Ngài quy định nên khu rừng đã được bán.

(Lưu ý. Nếu Vương tử Jeta nói rằng: “Ta không thể bán khu rừng, cho dù ngươi có trải vàng lấp đầy cả mặt đất”, xem như khu rừng chưa định giá.

Nhưng vì Vương tử Jeta nói rằng: “Ta không thể cho mặc dù với việc trải ra những đồng vàng lấp đầy khu rừng”, xem như khu rừng đã được bán với giá cắt cổ là trải vàng khắp cả mặt đất của khu rừng.

Hàm ý là: Vương tử Jeta muốn nói: “Ta không thể cho khu rừng, chỉ có thể bán khu rừng với giá trải vàng khắp mặt đất”.

Đây là sự lắt léo trong ngôn từ, rất tinh tế, phải có nhiều trí suy gẫm mới hiểu thấu đáo.

Thật ra Vương tử Jeta không có ý định bán khu rừng, chỉ có lời thách thức mà thôi, nên vô tình nói rằng: “Ta không thể cho mặc dù … đã không cho thì chỉ bán với giá như thế.

Vì rằng: “Nếu đã cho thì bên nhận không phải tốn kém chi cả; nhưng đã có sự tốn kém thì sự nhận trở thành sự muavật cho trở thành vật bán; người cho trở thành người bán, người nhận trở thành người mua).

2- Mua đất.

Sau khi thắng kiện, Trưởng giả Cấp Cô Độc cho chở tiền vàng lại bằng các xe kéo và cho trải tiền vàng ra ở Jetavana (khu rừng (của) Jeta), đối với những chỗ không thể lấp tiền vàng lên được như những gốc cây, ao hồ … người ta đo diện tích những khoảng ấy rồi trải tiền vàng chồng lên nơi có diện tích bằng với diện tích những khoảng không thể trải viềng vàng ấy([8]).

Tổng cộng Trưởng giả Cấp Cô Độc cho trải hết 180 triệu tiền vàng.

Tiền vàng chở lại một lần mang đến khu rừng Jeta trên những cổ xe, còn thiếu cho khoảng trống, nơi dự kiến là cổng ra vào Đại tự.

Trưởng giả Cấp Cô Độc đã bảo những người hầu rằng:

– Này các người, hãy đi, hãy đem tiền vàng lại. Chúng ta sẽ trải lên khoảng trống này, khoảng trống này được xây dựng làm lối đi có cổng vòm.

Vương tử Jeta thấy nét mặt Trưởng giả Cấp Cô Độc càng rạng rỡ khi thấy những cổ xe tải vàng đến, số lượng tiền vàng lớn đã trải lên mặt đất không làm Trưởng giả xót xa, trái lại càng khiến tâm Trưởng giả hân hoan.

Vương tử Jeta đã khởi ý nghĩ rằng: “Theo như cách của Trưởng giả này hy sinh nhiều tiền vàng đến như vầy thì việc này sẽ không là tầm thường”, nên đi đến nói với Trưởng giả Cấp Cô Độc rằng:

– Này Trưởng giả, thôi được rồi, ông không cần phải trải lên khoảng trống này nữa. Hãy cho ta khoảng trống đó, việc bố thí ấy sẽ là của ta.

Trưởng giả Cấp Cô Độc suy nghĩ: “Vương tử Jeta này thông minh, nhiều người biết tiếng, niềm tin trong Pháp và Luật này của những người có danh tiếng như thế quả là điều kỳ diệu lớn lao!”, nên đồng ý nhường khoảng trống đó cho Vương tử Jeta.

Theo Bản Sớ giải kinh Trường bộ, Bản Sớ giải kinh Bổn sự và Bản Sớ giải Phật Tông (Buddhavaṃsa), có 7 Đại Trưởng giả đã từng trải vàng mua đất, xây dựng một Đại tự hoành tráng cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

1’- Vào thời Đức Phật Vipassī (cách trái đất này 91 kiếp trái đất), có Đại trưởng giả Punabbasumitta, trải những viên gạch bằng vàng giáp mí với nhau lên vùng đất rộng một dotuần (# 16km) để mua đất, xây dựng một Đại tự hoàng tráng cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

2’- Vào thời Đức Phật Sikhī (cách trái đất này trở về trước 31 kiếp trái đất), có Đại trưởng giả Sirivaḍḍha đã trải trên đất những lưỡi cày bằng vàng giáp mí với nhau để mua đất rộng 3 gāvuta (# 12km). Xây dựng trên vùng đất này một Đại tự hoành tráng cúng dường đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng.

3’- Vào thời Đức Phật Vessabhū (cách trái đất này trở về trước 31 kiếp trái đất), cùng địa điểm trên, có Đại trưởng giả Sotthika đã trải trên đất những khối vàng như chân voi sát mí với nhau để mua khuôn viên đất rộng nửa dotuần (# 8km) xây dựng nơi đó một Đại tự hoành tráng cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

Trong hiền kiếp này (bhaddakappa), cùng địa điểm trên, có ba vị Đại trưởng giả dùng vàng trải trên đất để mua đất. Đó là:

4’- Vào thời Đức Phật Kakusandha, có Đại trưởng giả Accuta, trải những viên gạch bằng vàng sát mí vào nhau để mua đất, khuôn viên có kích thước là 1 dotuần (#16 km), xây dựng nơi đó một đại tự hoành tráng cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

5’- Vào thời Đức Thế Tôn Konāgamana, có Đại trưởng giả Ugga đã trải những con rùa đúc bằng vàng trên mảnh đất đó để mua đất, khuôn viên đất rộng nửa gāvuta (# 2km), xây dựng một Đại tự hoành tráng, cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

6’- Và0 thời Đức Phật Kassapa, có Đại trưởng giả Sumaṅgala trải những viên gạch đúc bằng vàng sát mí vào nhau để mua khuôn viên đất rộng 16 karīsa([9]). Xây dựng một Đại tự hoành tráng cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

7’- Vào thời Đức Phật Gotama, có Đại trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) trải tiền vàng sát mí vào nhau để mua khuôn viên đất rộng 8 karīsa. Xây dựng trên đó Đại tự Kỳ Viên hoành tráng cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng([10]).

Trong Bản Sớ giải kinh Pháp cú (Dhammapāda-atthakathā) có đề cập đến Trưởng giả Sumaṅgala([11]).

*Vương tử Jeta.

Vị Vương tử này thường được biết với tên gọi Jetakumāra (Vương tử Jetata). Theo Kinh điển Saṅkrit (Bắc Truyền) thì Vương tử Jeta là con vua Pasenadi (PaTưNặc) và Công nương Vasrṣikā([12]).

Tên Jeta được giải thích theo nhiều cách:

a- Jeta không phải là tên, mà là tước hiệu vì vị Vương tử này có công chiến thắng giặc loạn.

b- Là tên tộc, vì khi vua cha vừa diệt xong giặc loạn thì vị Vương tử này chào đời.

c- Vì khi sinh hài tử ra, có điềm lành xuất hiện (maṅgalakāyatāya)([13]).

Vương tử Jeta là chủ nhân khu rừng nhỏ (vana), do vậy khu rừng nhỏ này có tên là Jetavana.

Do lời nói sơ suất nên Vương tử buộc lòng phải bán khu rừng nhỏ Jeta cho Trưởng giả Anāthapiṇḍika bằng cách trải vàng trên mặt đất.

Truyền thuyết nói rằng số vàng trong chuyến đầu tiên còn thiếu, còn trống một khoảnh nơi xây dựng cổng Đại tự Kỳ Viên, nên Trưởng giả Cấp Cô Độc phải cho gia nhân về chở thêm nhiều xe vàng đến để lót khoảng trống ấy.

Thấy sự tha thiết của Trưởng giả Cấp Cô Độc, Vương tử Jeta xin khoảng trống ấy để xây dựng cổng Đại tự Kỳ Viên.

Ghi chú.

Chữ Jetavanavihāra thường được dịch là Đại tự Kỳ Viên. Chữ này nên dịch là Đại tự rừng Jeta.

Vì chữ vana ở đây không phải là khu vườn, mà là khu rừng nhỏ (# 8 mẫu đất), nên chữ viên (là vườn) không hợp, nên dùng chữ lâm (là rừng).

Lại nữa chữ Kỳ là gọi tắt của Kỳđà, âm từ chữ Jeta; vừa âm vừa dịch là không hợp lý.

Tuy nhiên, từ lâu đại chúng vẫn quen gọi Jetavana là Kỳ Viên, do vậy, chữ Jetavanavihāra chúng tôi tạm dùng là Đại tự Kỳ Viên, để những độc giả chưa am tường cách đọc Pāli ngữ dễ đọc (Ns).

* Cổng Đại tự Kỳ Viên.

Vương tử dùng số tiền vàng trải trên đất là 180 triệu, xây dựng cổng Đại tự Kỳ Viên (Jetavanavihāra) rất hoàng tráng, cửa đi vào Đại tự rất uy nghi tráng lệ, trên cổng có một lầu tháp rất lớn với kinh phí là 90 triệu tiền vàng.

Một du sĩ ngoại đạo có tên gọi là Palāyi đi khắp nơi trong cõi Ấn cổ, chưa gặp ai có khả năng biện luận thắng được. Du sĩ Palāyi rất tự hào về khả năng này của mình, khi du sĩ Palāyi đi đến kinh thành Sāvatthi (XáVệ), hỏi nhưng cư dân trong thành rằng:

– Nơi đây có ai có khả năng biện luận với ta chăng?.

– Có một người, đó là Đức Thế Tôn Gotama, Ngài là Bậc Chánh Giác với trí tuệ siêu việt, cho dù có ngàn người như ông đều bị Đức Thế Tôn nhiếp phục. Tất cả mọi chủ thuyết ngoại giáo như ông đều rơi rụng dưới chân Đức Thế Tôn, ví như hằng ngàn cơn sóng lớn của Đại dương đều bị ngăn lại bởi bờ biển.

Rồi các cư sĩ thành Sāvatthi (XáVệ) tán thán ân đức vô lượng của Đức Thế Tôn. Du sĩ Palāyi hỏi:

– Vị ấy đang trú ngụ ở đâu?

– Này du sĩ, Đức Thế Tôn đang trú ngụ nơi Đại tự Kỳ Viên.

– Hôm nay ta sẽ luận chiến với Samôn Gotama.

Rồi được vây quanh với đại chúng (cả ngoại giáo lẫn hàng tại gia cư sĩ), trong đại chúng có hai tư tưởng, nhóm du sĩ ngoại giáo suy nghĩ:

– Hôm nay chúng ta sẽ được chứng kiến Samôn Gotama bị bại trước du sĩ Palāyi này.

Nhóm cư sĩ đệ tử Đức Thế Tôn suy nghĩ:

– Hôm nay chúng ta sẽ chứng kiến oai lực của Bậc Đạo sư vô song.

Khi đi đến cổng Đại tự Kỳ Viên được Vương tử Jeta xây dựng với kinh phí là 90 triệu tiền vàng, du sĩ Palāyi hỏi:

– Đây có phải là lâu đài trú xứ của Samôn Gotama?

– Không, đây chỉ cổng Đại tự Kỳ Viên.

– Ồ! Chỉ là cổng Đại tự mà như thế này, thì còn nói gì nơi trú ngụ của Samôn Gotama.

Khi nghe các cư sĩ mô tả Hương thất (Gandhakuṭi) của Đức Thế Tôn, du sĩ Palāyi kinh hoàng rằng:

– Với một Samôn như vậy, ai biện luận có thể hy vọng thắng được chứ?.

Nói xong du sĩ Palāyi liền bỏ trốn. Đại chúng sỉ vả du sĩ Palāyi không tiếc lời, rồi đi vào Đại tự Kỳ Viên trình lên Đức Thế Tôn việc này.

Đức Thế Tôn dạy rằng: “Này các cư sĩ, chẳng phải hôm nay du sĩ Palāyi chỉ nhìn thấy cổng ở bên ngoài trú xứ của ta đã bỏ chạy, trong quá khứ cũng có lần như thế rồi.

Theo lời tỉnh cầu của đại chúng Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Palāyi.

*Bổn sự Palāyi.

Thuở xưa Bồtát là vua xứ Gandhāra, trị vì nơi kinh thành Takkasilā. Vua Brahmadatta trị vì xứ Kāsi có kinh thành là Bārāṇasī (Balanại).

Vua Brahmadatta muốn đánh chiếm Vương quốc Gandhāra, kéo quân đến kinh thành Takkasilā, vua Brahmadatta bố trí đội hình cho bốn đạo binh chủng: Tượng binh, Mã binh, Xa binh và Bộ binh, cùng tấn công vào kinh thành Takkasilā.

Khi kéo quân đến kinh thành Takkasilā, vuaBrahmadata thấy cổng thành cùng những tháp canh, hỏi rằng:

– Đây có phải là lâu đài của vua Takkasilā?

– Thưa Đại vương, đây chỉ là cổng thành Takkasilā và tháp canh thôi.

– Cổng và tháp canh ở cửa thành như vậy, thì lâu đài của vua Takkasilā như thế nào?

– Cung điện của vua Takkasilā như cung điện Vejayanta (Chiến Thắng) của vua Trời Sakka ở cõi Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba).

-Nếu là như vậy, ta không thể chiến thắng vua Takkasilā được.

Và vua Brahmadatta cho kéo quân về, không dám chiến đấu với vua Takkasilā.

Nhận diện Bổn sự,

Vua Brahmadatta nay là du sĩ Palāyi([14]).

*Xây dựng vòng thành Đại tự.

Với 90 triệu tiền vàng còn lại Vương tử Jeta cho xây một vòng thành để bảo vệ Đại tự Kỳ Viên, vòng thành này tách biệt những tiếng động từ những trục giao thông bên ngoài xâm nhập vào khu Đại tự, đồng thời ấn định ranh giới Đại tự Kỳ Viên với phần đất bên ngoài.

Chung quanh vòng thành là những luống hoa với nhiều thứ hoa nở quanh năm, lối đi quanh vòng thành được lát loại gạch tốt mát lạnh.

Ngoài ra, Vương tử Jeta còn cúng dường đến Đại tự rất nhiều cây gỗ quý.

Về sau, Vương tử Jeta bị người em khác mẹ là Thái tử Viḍuḍabha giết chết vì không chịu hợp tác trong việc tru diệt dòng ThíchCa([15]).

3- Jetavanavihāra (Đại tự Kỳ Viên).

Jetavana là khu rừng nhỏ ở ngoài thành Sāvatthi (XáVệ), về phía Nam kinh thành Sāvatthi ([16]).

Trưởng giả Cấp Cô Độc mua khu rừng nhỏ này với giá 180 triệu tiền vàng, xây dựng ở Jetavana các trú xá, xây dựng các căn phòng, xây dựng các cổng ra vào, xây dựng các phòng hội họp, xây dựng các nhà để đốt lửa, xây dựng các nhà vệ sinh, xây dựng các đường kinh hành, xây dựng các gian nhà ở các đường kinh hành, xây dựng các giếng nước, xây dựng các gian nhà ở các giếng nước, xây dựng các phòng tắm hơi, xây dựng các gian nhà ở các phòng tắm hơi, xây dựng các hồ trữ nước, xây dựng các mái che([17]).

Kinh phí xây dựng Đại tự Kỳ Viên là 180 triệu tiền vàng.

Vì cổng Đại tự Kỳ Viên do Vương tử Jeta cúng dường, nên Tự viện có tên gọi là Jetavanavihāra (Đại tự Kỳ Viên), nhưng kinh sách luôn luôn được dẫn là: “Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme: Tự viện trong rừng Jeta của ông Cấp Cô Độc”.

Bản Sớ giải([18]) có giải thích rằng: “Việc làm này có cân nhắc, ý muốn nêu tên chủ nhân khu rừng là Vương tử Jeta và chủ nhân ngôi Tự viện là Trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) để mọi người biết và ghi nhớ.

Và đó cũng chính là lời dạy của Đức Thế Tôn”([19]).

Đại tự (vihāra) đôi khi cũng được gọi là Jetārāma (Tự Viện Kỳ Viên)([20])

Theo Mahāvastu (Đại sự) của Bắc Truyền, trong quá trình xây dựng Đại tự Kỳ Viên, Trưởng giả Anāthapiṇḍika có thỉnh Trưởng Lão Sāriputta (XáLợiPhất) tư vấn những vị trí thích hợp trong khu vực Đại tự.

Sách Dulva của Tây Tạng nói rằng: “Đại tự này được xây dựng theo sơ đồ trên cõi Tusita (ĐẩuSuất) gởi xuống, gồm có 60 phòng lớn và 60 phòng nhỏ” đồng thời có mô tả chi tiết trang trí của Đại tự([21]).

Bên trong Đại tự Kỳ Viên có bốn kiến trúc độc đáo, mỗi kiến trúc xây dựng với kinh phí là 100 ngàn tiền vàng, đó là: Gandhakuṭi, Candanasālā, Kosambakuṭi và Salaḷāgāra([22]), ngoài ra còn có khu vực Karerimaṇḍamāla, Ambalakoṭṭhaka-āsanasāla([23]).

a- Gandhakuṭi (Hương thất).

Đôi khi cũng được viết là Mahāgandhakuṭi (Đại Hương thất) để phân biệt với những Hương thất khác, đây là chỗ ngụ của Đức Thế Tôn ở trong Đại tự Kỳ Viên (sđd).

Khu vực kiến trúc có Gandhakuṭi (Hương thất) được gọi là Gandhakuṭiparivena (Khu vực Hương thất).

Trước Hương thất là một Giảng đường lớn, nơi đây chư Tỳkhưu thường tụ họp để nghe Đức Thế Tôn giảng pháp([24]) (có thể đó là Koṭisanthāra).

Nơi đặt giường ngủ của Đức Thế Tôn được xem là một trong bốn điểm bất di dịch (avijahitaṭṭhānāsni) trong kiếp trái đất này([25]) (ba điểm kia là: Địa điểm Bảo tọa chiến thắng (bodhi pallaṅka) nơi Bodhigayā BồĐề đạo tràng), nơi Đức Thế Tôn Chuyển Pháp luân trong rừng Nai ở Isipatana gần thành Bārāṇasī, chân thành Saṅkassa điểm Đức Thế Tôn đặt chân xuống đầu tiên khi Ngài từ cung trời Tāvatiṃsa trở về nhân giới và bốn điểm đặt chân giường trong Hương thất của Đức Thế Tôn. Giường của chư Phật có chung một cỡ nhưng có thể đặt bên Đông hay bên Tây trong Hương Thất[26].

Nơi Bồtát Siddhattha (SĩĐạtTa) ngồi thiền, chứng đạt Vô thượng Chánh giác, ở Bodhigayā (BồĐề đạo tràng), nơi Đức Thế Tôn ngồi thuyết giảng bài pháp đầu tiên là kinh Chuyển Pháp Luân, ở Isipatana Migadāya (rừng Nai) thuộc xứ Bārāṇasī (Balanại), chân thành Saṅkassa nơi Đức Thế Tôn từ cung Trời Tāvatiṃsa ngự về nhân giới sau khi an cư mùa mưa ba tháng ở Cung trời Tāvatiṃsa).

Về sau chữ Gandhakuṭi dùng để chỉ nơi Đức Thế Tôn cư ngụ, nên Gandhakuṭi nơi Đại tự Kỳ Viên được gọi là Mahāgandhakuṭi.

Đại nữ cư sĩ là bà Visākhā có kiến tạo một Gandhakuṭi (Hương thất) cho Đức Thế Tôn trong Pubbārāma (Đông Phương tự)([27]).

b- Koṭisanthāra.

Nhiều Bổn sự (jātaka) có ghi nhận rằng: “Đức Thế Tôn dạy Ngài Ānanda triệu tập Tăng chúng nơi Đại tự Kỳ Viên đến Koṭisanthāra” để Đức Thế Tôn Giáo giới … Đức Thế Tôn cũng dạy Ngài Ānanda soạn sẵn chỗ ngồi cho Ngài ngay trước cửa Hương thất.

Koṭisanthāra có thể là tên gọi của phần sân trong Jetavana ngay trước cửa Hương Thất. Được gọi là Koṭisanthāra vì khi mua phần đất này, Trưởng giả Cấp Cô Độc phải trải trên mặt đất là 10 triệu (koṭi) tiền vàng([28]), có khả năng vùng đất này có rất nhiều cây cổ thụ lớn.

Hoặc Koṭisanthāra là tên gọi phần đất được trải vàng, vì được biết lúc bấy giờ vàng chưa đủ để phủ kín khu rừng nhỏ này([29]).

  Trong Koṭisanthāra có nhiều kiến trúc mà chúng Tăng dùng để an trú và được gọi là “Antokoṭisanthārevasantā”([30]). Koṭisanthāra thường bị dịch sai là Thảm Vàng (Golden Pavement)([31]).

c- Candanasālā (Giảng đường gỗ Trầm Hương).

Là Giảng đường rộng, trong có Hương thất là nơi cư ngụ của Đức Thế Tôn. Toàn bộ được làm bằng gỗ trầm hương đỏ, nên có tên gọi là Candanasālā (hay Candanamālā).

d- Kosambakuṭi.

Cũng là một Hương thất của Đức Thế Tôn, ban ngày Đức Thế Tôn trú ngụ nơi đây.

*Salaḷaghara (Salaḷāgāra).

Đây cũng là một Hương thất của Đức Thế Tôn, là nơi Ngài tọa thiền vào ban đêm, nên có lần Thiên vương Sakka đến viếng Đức Thế Tôn và thấy Đức Thế Tôn đang an trú tâm trong định nhập.

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) có giải thích: Salaḷamayagandhakuṭi (Hương thất làm bằng cây Salaḷa)([32]).

Bản Sớ giải kinh Tương Ưng lại ghi nhận: Salaḷarukkhamaya (am thất làm bằng cây Salaḷa) hay am thất có cây Salaḷa ở trước cửa([33]).

Phải chăng trong Đại tự Kỳ Viên ngoài Hương thất của Đức Thế Tôn làm bằng gỗ Salaḷa, còn có một am thất khác cũng làm bằng gỗ Salaḷa?.

Salaḷagāra được vua Pasenadi kiến tạo cúng dường đến Đức Thế Tôn([34]), ba kiến trúc kia do Trưởng giả Cấp Cô Độc kiến tạo.

*Karerimaṇḍalamālā.

Giảng đường Kareri nằm gần Kerarikuṭikā, Kerarikuṭikā là những ngôi nhà mát như chiếc dù lớn, có một cột bằng cây Kareri ở giữa, nóc lợp bằng cỏ tranh, không có tường([35]), các vị Tỳkhưu thường ngồi nghỉ trưa ở những ngôi nhà mát này.

Ngài Buddhaghosa giải thích: Karerimaṇḍasālā là một Tọa đường (nisīdanasālā), là nơi các Tỳkhưu bàn luận với nhau về những đề tài khác nhau, chung quanh Tọa đường có trồng nhiều loại hoa Hồng.

Giữa Tọa đường và Gandhakuṭi là những nhà mát Kareri, khu vực này được gọi là Karerimaṇḍapa.

Từ ngữ Karerimaṇḍamālā có thể dùng chỉ toàn bộ Gandhakuṭi, tức là chỉ cho Karerikuṭikā, Hương thất cùng với Giảng đường (Gandhakuṭi pi Kerarikuṭikā pi sālā pi Karerimaṇḍalamālo ti vuccati: Hương thất với những ngôi nhà Kareri cùng Giảng đường, được gọi là Karerimaṇḍalamālā)([36]).

Nhưng Ngài Dhammapāla cho rằng: “Gọi là Karerimaṇḍamālā là chỉ cho maṇḍapa (nhà mát) và sālā (giảng đường)”([37]) .

Các vị Tỳkhưu thường đến đây vào buổi chiều và thảo luận nhiều đề tài khác nhau.

Trong tập Udāna (Cảm hứng ngữ) có ghi nhận: “Một đề tài được các vị Tỳkhưu thảo luận ở nơi đây, đã bị Đức Thế Tôn khiển trách.

Có lần các vị Tỳkhưu sau khi thọ thực vào buổi trưa, cùng nhau tụ hội nơi Karerimaṇḍamāla, nói với nhau rằng:

“Tỳkhưu đi khất thực thỉnh thoảng thấy được sắc khả ái, nghe được âm thanh khả ái, mũi ngửi được mùi hương khả ái … Tỳkhưu đi khất thực được cung kỉnh, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường. Này các chư Hiền, hãy đi khất thực sống”.

Đức Thế Tôn nghe được sự bàn luận này, Ngài ngự đến Karerimaṇḍasālā, khiển trách các vị Tỳkhưu rằng:

“Này các Tỳkhưu, thật không xứng đáng cho các ngươi, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, khi các ngươi nói lên câu chuyện như vậy. Khi các ngươi ngồi hội họp với nhau, này các Tỳkhưu, có hai công việc cần phải làm: Nói pháp hay giữ im lặng của bậc Thánh”.

Và Đức Thế Tôn nói lên Cảm hứng ngữ (Udāna)như sau:

Piṇḍapātikassa bhikkhuno; attabharassa anaññaposino.

Devā pihayanti tādino; no ce saddasilokanissito’’ti.

“Tỳkhưu đi khất thực; tự sống không nhờ người.

Chư thiên thương vị ấy;

Nương tựa vào danh vọng, chư thiên không mến mộ”([38]).

1’- Ambalakoṭṭhaka (Trai đường Ambala).

(Chữ Koṭṭhaka là một căn phòng chứa vật dụng)

Ambalakoṭṭhaka là một Trai đường trong Đại tự Kỳ Viên, chữ Ambala có thể đó là tên nóc tháp của Trai đường này.

Trong duyên khởi Bổn sự Sunakha có đề cập đến Ambalakoṭṭhaka này.

*Bổn sự Sunakha (chuyện con chó).

Có con chó khi sinh ra được những người gánh nước của Trai đường, mang về nuôi dưỡng nơi Trai đường Ambalakoṭṭhaka.

Nhờ được nuôi dưỡng bằng tàn thực của các vị Tỳkhưu, thời gian sau con chó trở nên to lớn khỏe mạnh. Một hôm có người làng bên đi đến Đại tự Kỳ Viên, thấy con chó khỏe mạnh, liền cho những người gánh nước một xấp vải y cùng một đồng tiền vàng, rồi xích cổ chó dắt đi.

Con chó bị dắt đi không cưỡng lại, cũng không sủa, nó ăn vật thực được cho và đi theo người ấy.

Người ấy nghĩ: “Con chó đã mến ta”, nên tháo dây xích ra khỏi cổ chó, vừa được cởi tháo dây trói, con chó nhanh chóng chạy trở về Đại tự Kỳ Viên, đi đến nơi sống cũ của mình.

Chư Tỳkhưu bàn luận về câu chuyện này nơi Giảng Pháp đường. Nhân đó Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Sunakha([39]).

Trước cổng Đại tự Kỳ Viên có cây Rājayatana (Vương xứ), là trú xứ của vị Thiên nhân Samiddhisumana([40]).

Theo Mahāvaṃsa (Đại sử), vị chư thiên Samiddhiumana có tháp tùng theo Đức Thế Tôn sang Tích Lan lần thứ II.

Kiếp trước vị Thiên nhân này là người ở Nāgadīpa (đảo Rồng), từng dâng lên các vị Đức Phật Độc Giác lá cây rājayatana (vương xứ) để các Ngài lau bát. Cây Rājayatana lơ lửng trên không để che mát cho Đức Thế Tôn trong chuyến du hành sang Tích Lan của Đức Thế Tôn.

Theo lời Rắn chúa ở đảo Kalyāni, Thiên nhân Samiddhisumana để lại cây Rājayatana để loài Nāga tôn thờ([41]).

2’- Hồ Jetavana.

Bên trong cổng Đại tự Kỳ Viên có một hồ nước lớn trồng nhiều loại hoa sen, có tên gọi là Jetavanapokkharaṇī (hồ Jetavana), Đức Thế Tôn thường tắm nơi đây([42]).

Bổn sự Maccha (chuyện con cá) được thuyết lên do duyên sự: “Đức Thế Tôn tắm trong khi trời hạn hán, và trận mưa lớn đã trút xuống kinh thành Sāvatthi (XáVệ)”([43]).

Tôn giả Devadatta (ĐềBàĐạtĐa) bị đất rút vào địa ngục Avīci (Atỳ) tại nơi bờ hồ này([44]).

Về phía Đông của hồ sen có bến tắm, gọi là Pubbakoṭṭhaka.

Người Ấn cổ thường chọn bến tắm nằm về hướng Đông, theo phong tục Bàlamôn giáo, vào buổi sáng giáo dân thường xuống sông tắm, khi trời sáng thì rời bến tắm, ánh sáng mặt trời từ hướng Đông rọi đến sưởi ấm.

Lại nữa, khi tắm ở bến về hướng Đông, khi mặt trời vừa ló dạng xem như báo giờ rời bến tắm.

Ở bến tắm Pubbakoṭṭhika nơi Đại tự Kỳ Viên, vào buổi sáng các vị Tỳkhưu hay các cận sự nữ cũng thường đến đây rửa mặt, súc miệng.

Cận sự nam Mahākāla bị đánh chết nơi bến tắm này, cận sự nam Cūḷakāḷa cũng suýt bị đánh chết như thế.

a’-Cận sự nam Mahākāḷa (Đại Hắc).

Cận sự nam Mahākāḷa là cư dân trong thành Sāvatthi (XáVệ), Ngài là bậc Thánh Dự Lưu.

Cận sự nam Mahākāḷa thường thọ trì ngày Bốtát (uposatha) mỗi tháng 8 ngày rất tốt đẹp. Vào những ngày Bốtát, Ngài Mahākāḷa thường đến Đại tự Kỳ Viên thọ trì giới rồi trú ngụ trong Đại tự nghe pháp suốt đêm.

Vào một ngày Bốtát nọ, trong đêm có bọn trộm đánh cắp tài sản một gia chủ gần Đại tự Kỳ Viên. Trong khi chúng chuyển vật trộm đã bị gia chủ phác giác liền báo động, dân chúng cùng nhau rượt theo bọn trộm, chúng quăng bỏ tang vật rồi tháo chạy thoát thân, một tên chạy về hướng Đại tự Kỳ Viên, vị gia chủ cùng đại chúng vẫn rượt theo để bắt tên trộm

Vào hừng sáng, sau khi nghe Pháp trọn đêm cận sự nam Mahākāḷa ra bờ hồ Jetavanapokkharaṇī để rửa mặt, súc miệng, tên trộm chạy đến hồ sen, ném bỏ tang vật trước mặt Mahākāḷa rồi chạy trốn.

Đại chúng rượt đến thấy tang vật ở trước mặt cận sự nam Mahākāḷa, liền tóm lấy Mahākāḷa mắng rằng:

“Ngươi là tên trộm đạo, đã đánh cắp tài sản chạy đến đây, giả vờ vừa đi nghe pháp xong trở ra đây”.

Họ không để cho cận sự nam phân trần, cùng nhau xông đến đánh đá cận sự nam Mahākāḷa cho cho đến chết, vứt xác sang một bên rồi bỏ đi.

Khi trời sáng các Sadi, Tỳkhưu đến hồ lấy nước, nhìn thấy xác cận sự nam Mahākāḷa, bảo nhau rằng:

– Cận sự nam này là người thuần đạo, nay bị chết như vầy thật là oan uổng.

Các vị Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn sự kiện này, Đức Thế Tôn dạy:

– Này các Tỳkhưu, đúng vậy, cái chết của cận sự nam Mahākāḷa trong hiện tại thật bất xứng. Nhưng rất xứng với việc làm tội lỗi của Mahākāḷa trong quá khứ.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳkhưu, Đức Thế Tôn dẫn ra tiền nghiệp của cận sự nam Mahākāḷa như sau.

Tiền nghiệp.

Thuở quá khứ có một bọn cướp trú trong khu rừng gần vùng biên địa của Vương quốc Bārāṇasī (Balanại), thường chận đường cướp tài vật những đoàn thương buôn khi đi xuyên qua khu rừng rậm, đánh cướp tài sản của những làng sơn cước sống ven khu rừng.

Để giữ an toàn cho cư dân quanh vùng cùng những đoàn thương buôn qua lại khu rừng, vua Brahmadatta cử một vị quan trấn giữ nơi bìa rừng, có phận sự đưa người từ bên này sang bên kia rừng.

Một hôm có một thanh niên cùng người vợ xinh đẹp khả ái, đánh xe đi đến bìa rừng ấy, yêu cầu vị quan giữ rừng đưa vợ chồng mình sang qua bên kia rừng.

Nhìn thấy sắc đẹp diễm kiều của vợ chàng thanh niên, vị quan giữ rừng khởi lên tà ý, muốn chiếm đoạt vợ chàng thanh niên, nên nói rằng:

– Bây giờ không hợp thời, vì trời đã chiều. Thôi đợi sáng mai, ta sẽ đưa hai người đi sớm.

– Thưa Ngài, hiện vẫn còn sớm, xin Ngài đưa giúp chúng tôi sang bên kia rừng đi.

– Này hai vị ơi, không được đâu. Hai vị hãy đến tư dinh của ta dùng cơm rồi nghỉ lại qua đêm, sáng mai hãy đi sớm.

Tuy không muốn, nhưng vợ chồng chàng thanh niên không biết phải làm sao, đành đi đến chỗ vị quan giữ rừng tạm nghỉ qua đêm.

Vị quan giữ rừng có viên ngọc quý, y bảo gia nhân lén bỏ vào xe của chàng thanh niên ở góc kín đáo, vào lúc hừng sáng y tri hô lên: “Có trộm đạo lẽn vào đây đánh cắp viên ngọc quý của ta. Hãy cho tra xét khắp nơi”.

Và họ đã tìm thấy viên ngọc quý trong xe của chàng thanh niên, vị quan trấn giữ rừng ra lịnh đánh chết chàng thanh niên, sau đó chiếm lấy vợ chàng thanh niên.

Do ác nghiệp này, khi mệnh chung y tái sinh vào địa ngục Atỳ (avīci) bị lửa thiêu đốt với thời gian đếm năm không kể xiết. Khi thoát khỏi địa ngục Atỳ, quả còn dư sót của ác nghiệp ấy, hậu thân của y đã bị đánh chết hằng trăm kiếp do người khác vu oan là trộm cắp.

Sau khi thuật lại tiền nghiệp của cận sự nam Mahākāḷa xong rồi, Đức Thế Tôn dạy:

– Này các Tỳkhưu, những chúng sinh tạo ác nghiệp, sẽ bị ác nghiệp ấy nghiền nát trong bốn ác đạo như thế.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn.

161- Attanā hi kataṃ pāpaṃ; attajaṃ attasambhavaṃ.

Abhimatthati dummedhaṃ; vajiraṃ vasmamayaṃ maṇiṃ.

“Điều ác tự mình làm; tự mình sinh, mình tạo.

Nghiền nát kẻ ngu si; như kim cương ngọc báu” (HT. TMC d)([45]).

b’- Cận sự nam Cūḷakāḷa (Tiểu Hắc).

Câu chuyện cũng diễn tiến tương tự như chuyện cận sự nam Mahākāḷa.

Khi bọn trộm chạy trốn, đến hồ sen trong Đại tự Kỳ Viên, ném bỏ tang vật cạnh bờ hồ rồi chạy trốn.

Bấy giờ cận sự nam Cūḷakāḷa sau khi nghe pháp suốt đêm, ông ra bờ hồ để súc miệng, rửa mặt. Khi ông vừa đến bờ hồ thì nhóm người rượt đuổi bọn trộm cũng vùa chạy đến, nhìn thấy gói tang vật nơi bờ hồ và cận sự nam Cūḷakāḷa đang đứng cạnh đó, nhóm người này la lên rằng:

– Đây là tên trộm.

Họ tóm lấy cận sự nam Cūḷakāḷa và đánh đập ông. Khi ấy có nhóm nữ tỳ đi đến bờ hồ lấy nước, thấy được việc ấy đã can ngăn rằng:

– Này ông chủ ơi! Đứng có đánh đập nữa, người này không phải kẻ trộm đâu, ông ấy là một cận sự nam tốt, không có làm những việc trộm cắp đâu.

Nhóm nữ tỳ đã can ngăn, rồi giải thích rõ về giới hạnh của cận sự nam Cūḷakāḷa và cận sự nam này được thả ra.

Cận sự nam Cūḷakāḷa đi đến Giảng đường trong Đại tự, trình lên các vị Tỳkhưu sự kiện này.

Các vị Tỳkhưu mang câu chuyện bạch lên Đức Thế Tôn. Ngài dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, vì cận sự nam Cūḷakāḷa không tạo ác trọng nghiệp, nên nhờ những nàng nữ hầu biện hộ. Thật vậy, tự mình làm ác, tự mình rơi vào khổ cảnh, cũng tự mình làm thiện, tự mình được sinh lên nhàn cảnh.

Rồi Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn.

165- Attanā hi kataṃ pāpaṃ; attanā saṃkilissati.

Attanā akataṃ pāpaṃ; attanāva visujjhati.

Suddhī asuddhi paccattaṃ; nāñño aññaṃ visodhaye.

“Tự mình điều ác làm; tự mình làm nhiễm ô.

Tự mình ác không làm; tự mình làm thanh tịnh.

Tịnh, không tịnh tự mình; không ai thanh tịnh ai” (HT. TMC d)([46]).

*Pubbakoṭṭhaka (ngôi nhà hướng Đông).

Như đã nói ở trên, các bến tắm thường được gọi là Pubbakoṭṭhaka. Koṭṭhaka nghĩa là “ngôi nhà”, vì các bến tắm thường có căn nhà trống, căn nhà này dùng để thay y phục.

Một bến tắm nằm về hướng Đông kinh thành Sāvatthi, gần Migāramātupāsāda (Giảng đường mẹ Migāra) cũng có tên gọi là Pubbakoṭṭhaka([47]) (các bến tắm của thành phố lớn hay kinh thành thường gần các cổng thành).

Bến tắm này rất lớn, vì vương tượng Seta của vua Pasenadi (PaTưNặc) đến tắm nơi bến tắm này với nhiều tiếng trống nhạc phụ họa, Đức Thế Tôn có đến tắm nơi đây, và có thuyết lên bài kinh liên quan đến con vương tượng Seta này([48]). Được gọi là Seta vì voi có lông màu trắng([49])

Bản Sớ giải giải thích: “Bến tắm này nằm trên dòng sông (nadī)”([50]).

Cũng nơi bến tắm này, Đức Thế Tôn hỏi Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) rằng: “Này Sāriputta, ngươi có tin rằng: “Các quyền nếu được tu tập, làm cho sung mãn, đưa đến Bất tử”, hay không?”.

Ngài Sāriputta đáp rằng “Ngài đã chứng tri, đã đạt đến với trí tuệ, nên không còn nghi ngờ”([51]).

Gần bến tắm có liêu thất của Bàlamôn Rammaka, nơi đây Đức Thế Tôn thuyết lên Ariyapariyasena sutta (kinh Thánh cầu)([52]).

Trước cổng Đại tự Kỳ Viên có cây Giác ngộ Ānanda (Ānandabodhi) do Trưởng giả Macch (Cấp Cô Độc) trồng([53]).

Không xa cổng Đại tự Kỳ Viên lắm là Kapallapūvapabbhāra (Dốc Bánh) nổi tiếng với câu chuyện: “Trưởng lão Moggallāna tế độ Trưởng giả bỏn xẻn Macchariya Kosiya”([54]).

Có một sân chơi dành cho trẻ em, có nhiều trẻ khát nước đi vào Đại tự Kỳ Viên xin nước uống.

*Nhóm trẻ, con của ngoại giáo.

Tương truyền, những môn đồ ngoại giáo thấy con của mình chơi đùa cùng với những đứa bé con của những người có chánh kiến, tôn sùng Tam bảo, đã ngăn cấm con rằng:

– Không được đảnh lễ các Samôn ThíchTử và không được đến gần chùa của Samôn Gotama.

Tuy vậy, với tuổi thơ chúng vẫn vui chơi với nhau.

Có lần chúng vui đùa với nhau trước cổng Đại tự Kỳ Viên, chúng khát nước nên bảo những đứa trẻ con những cận sự vào chùa xin nước uống.

Khi vào chùa các đứa bé kia đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi thuật chuyện đến Đức Thế Tôn. Ngài dạy rằng:

– Các con hãy gọi những người bạn của con vào đây.

Đức Thế Tôn cho chúng uống nước, rồi Ngài Giảng pháp thích hợp đến sự hiểu biết của chúng. Chúng phát sinh tâm thành kính xin nương nhờ Tam Bảo. Chúng trở về thuật chuyện đến cha mẹ chúng, cha mẹ chúng không hài lòng, đã rầy rằng:

– Các con đã sai lầm nghiêm trọng rồi.

Đứa trẻ thông minh nhất trong bọn, đã thuật lại cho cha mẹ nghe bài Pháp Đức Thế Tôn vừa giảng cho chúng nghe. Cha mẹ chúng nghe xong, hoan hỷ rằng:

– Chúng ta sẽ giao những đứa bé này cho Samôn Gotama giáo dục.

Rồi họ cùng con mình đi vào Đại tự Kỳ Viên viếng Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn quán xét thấy được duyên lành Đạo quả của nhóm người này. Sau khi thuyết giảng Pháp thoạt thích hợp với cơ tánh của họ, Đức Thế Tôn thuyết lên hai kệ ngôn.

318- Avajje vajjamatino; vajje cāvajjadassino.

Micchādiṭṭhisamādānā; sattā gacchanti duggatiṃ.

“Không lỗi, lại thấy lỗi; có lỗi lại thấy không.

Do chấp nhận tà kiến; chúng sinh đi khổ cảnh”.

319- Vajjañca vajjato ñatvā; avajjañca avajjato.

Sammādiṭṭhisamādānā; sattā gacchanti suggatiṃ.

“Có lỗi, biết có lỗi; không lỗi biết là không.

Do chấp nhận chánh kiến; chúng sinh đi cõi lành” (HT. TMC d).

Nghe kệ ngôn này, cha mẹ của những đứa bé hoan hỷ xin quy ngưỡng Tam bảo đến trọn đời.([55])

Chung quanh khuôn viên Đại tự Kỳ Viên là những cây cao lớn rậm rạp, giúp cho khu vực này trở thành một rừng cây (arañña) rợp bóng([56]).

Bên ngoài Đại tự Kỳ Viên có một vườn xoài([57]), không xa Đại tự Kỳ Viên lắm có một tu viện của ngoại giáo, nàng Ciñcāmāṇavikā thường đến đây trú qua đêm để thực hiện âm mưu vu khống Đức Thế Tôn([58]).

Phía sau Đại tự Kỳ Viên có một chỗ là nơi các tà mạng ngoại giáo (Ājivaka) thực hành khổ hạnh([59]), các du sĩ ngoại đạo này có lần hối lộ vua Pasenadi (PaTưNặc) để xây một Tự viện cạnh tranh với Đại tự Kỳ Viên, nhưng Đức Thế Tôn đã vô hiệu hóa toan tính của họ, bằng cách nói vua Pasenadi rút lại sự cho phép([60]).

Vua Pasenadi hối hận, dùng số tiền ngoại giáo hối lộ, xây dựng một Tự viện gần Đại tự Kỳ Viên cúng dường đến các Tỳkhưu ni theo lời dạy của Đức Thế Tôn. Tự viện này có tên là Rājakārāma([61]), nằm về phía Đông Nam của kinh thành Sāvatthi([62]).

Con đường dẫn vào kinh thành Sāvatthi (XáVệ) chạy sát Đại tự Kỳ Viên, nên nhiều khách lữ hành đến khuôn viên Đại tự Kỳ Viên nghỉ chân([63]).

Theo Divyāvadāna (Thiện Nghiệp thí dụ kinh), tháp của hai Ngài Sāriputta (XáLợiPhất) và Moggallāna (MụcKiềnLiên) còn thấy trong Đại tự Kỳ Viên vào thời vua Asoka (ADục)([64]).

Đức Thế Tôn an cư mùa mưa 19 lần nơi Đại tự Kỳ Viên([65]), được biết sau khi Migāramātupāsāda (Giảng đường mẹ Migāra) được bà Visākhā xây dựng cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng. Đức Thế Tôn có khi trú nơi Migāramātupāsāda, có lúc nơi Đại tự Kỳ Viên, có khi ban ngày trú nơi Migāramātupāsāda ban đêm trú nơi Đại tự Kỳ Viên([66]) và Đức Thế Tôn an cư mùa mưa nơi Pubbārāma là 6 lần.

Như vậy, nơi kinh thành Sāvatthi (XáVệ), Đức Thế Tôn an cư mùa mưa 25 lần trong 45 lần an cư mùa mưa của Ngài.

Ngài Pháp Hiển có cho biết, Đại tự Kỳ Viên nguyên thủy gồm 7 khu, được trang hoàng bằng đủ mọi thứ vật dụng như màn, trướng, cờ, lộng …và được thắp sáng đêm. Một hôm cả 7 khu đều bị phát hỏa và bị thiêu rụi; nguyên nhân do chuột chạy làm ngã cây đèn đang cháy đỏ rồi lửa cháy lan khắp nơi, không thể dập tắt ngọn lửa được. Tự viện mới được xây lại với hai khu, có hai cổng vào bên Đông và bên Tây, có nhiều tháp thờ ở khắp nơi, tất cả đều có liên quan đến Đức Thế Tôn, có bảng ghi rõ ràng([67]).

Trong vùng Saheṭh-Mabeṭh, Sabeṭh được xem là Đại tự Kỳ Viên([68]), còn Saheṭh-Mabeṭh là Sāvatthi (XáVệ).

([1])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 3).

([2])Āgatānāgata = āgata + anāgata: đã đi đến và chưa đi đến, được dịch thoát nghĩa là hiện tại và vị lai.

([3])– Xem ĐĐ Indacanda (d). Luật Tiểu phẩm II. Số 198 – 207.

([4])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 3).

([5]) Ubbegāpīti. Là loại hỷ như sóng biển đánh tạt vào bờ, khiến hành giả có cảm giác thân không được vững, lắc lư giống như đang bị sóng biển đánh vào. Loại hỷ này được dịch là ba hỷ.

([6])– S.i. 210.

([7])Dukkhaṃ, samudayaṃ, nirodhaṃ, maggaṃ tức là Khổ, Nguyên nhân sanh khởi, NípBàn, Đạo Lộ dẫn đến Nípbàn.

([8])– Chuyện này được ghi lại trên phù điêu ở Bharhut Tope; xem Cunningham—the Stupa of Bharhut, Pl. lvii., pp. 84-6.

([9])– Một Karīsa khoảng một mẫu tây.

([10])– BuA. 2, 47; JA.i. 94; DA. ii. 424.

([11])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 8). Chuyện Ma đói mình trăn.

([12])– Rockhill; 48, n. 1.

([13])– MA. i. 50; UdA. 56; KhpA. 111.

([14])– JA. Palāyijātaka (Bổn sự Palāyi) (chuyện số 229).

([15])– Rockhill; 121.

([16])– MA. i. 471.

([17])– ĐĐ Indacanda (d). Luật Tiểu Phẩm II. Số 256.

([18])– MA. ii. 50; UdA. 56 .

([19])– Beal: Records of the Western Word, ii. 5 và Rockhill: p. 49.

([20])– Ap. i. 400.

([21])– Rockhill: op. cit. 48 và n. 2.

([22])– SnA. ii. 403.

([23])– JA. ii. 246.

([24])– JA. i. 501; JA. iii. 67.

([25])-BuA. 247.

([26])– DA. ii. 424; BuA. 247.

([27])– AA. i. 226.

([28])JA. i. 94

([29])– Vin. ii. 159.

([30])JA. iv. 113.

([31])Jāt. Trs. iii. 12; iv. 71.

([32])– DA. ii. 705.

([33])– SA. iii. 205.

([34])– DA. ii. 407.

([35])– D. ii. 1.

([36])– DA. ii. 407. S

([37])– Ud., p. 30 .

([38])– Ud. 8.

([39])– JA. ii. Sunakhajātaka (chuyện con chó). Chuyện số 242.

([40])– Mhv. i. 52; MṬ. 105; nhưng DhpA. i. 41 nói rằng: Vị chư thiên giữ cổng Đại tự Kỳ Viên là Sumana.

([41])– Mhv. i. 52.

([42])– AA. i. 264.

([43])– JA. ii, Macchajātaka (Bổn sự con cá). Chuyện số 75.

([44])– DhA. i. Câu số 12; JA. iv. 158.

([45])– DhpA, Câu số 161.

([46])– DhpA. Câu số 165.

([47])– Giảng đường này do Đại tín nữ Visākhā kiến tạo cúng dường đến Đức Thế Tôn vả Tăng chúng. Giảng đường này còn được gọi là Pubbārāma (Tự viện Đông Phương), vì nằm ở phía Đông kinh thành Sāvatthi (XáVệ).

([48])– A.iii. 345.

([49])– AA. ii. 669; ThagA. ii. 7.

([50])– AA. ii. 668.

([51])– S.v. 220.

([52])– M.i. Kinh số 26.

([53])– JA. iv. 228.

([54])– Xem Đức Phật và 45 năm Hoằng pháp độ sinh (tập 7).

([55])– DhpA. Kệ ngôn số 318-319.

([56])– Sp. iii. 532.

([57])– JA. i. 348.

([58])– DhpA. iii. 179.

([59])– JA. Chuyện số 144.

([60])– JA. ii. 170.

([61])– JA. ii. 15.

([62])– MA. ii. 1021.

([63])– JA. ii. 203, 341; xem thêm JA. vi. 70 nói rằng có hai con đường.

([64])– Dvy. 395.

([65])– DhpA. i. 3; BuA. 3; AA. i. 314.

([66])– SnA. i. 336

([67])– Giles, pp. 31, 33.

([68])Arch. Survey of India, 1907-8, pp. 81-131.

trang trướctrang sau

Advertisements