Đức Phật và 45 năm Hoằng Pháp Độ Sinh (13) – Đức Thế Tôn bị vu khống nơi Đại tự Kỳ Viên

B- Đức Thế Tôn bị vu khống nơi Đại tự Kỳ Viên.

Nơi Đại tự Kỳ Viên này, ít ra Đức Thế Tôn đã hai lần bị vu khống, nhưng có hai sự kiện sau đây là nghiêm trọng nhất.

1- Nữ du sĩ Sundarī.

Khi Đức Thế Tôn tiếp nhận Đại tự Kỳ Viên do Trưởng giả Cấp Cô Độc kiến tạo cúng dường đến Đức Phật và Tăng chúng. Đức Thế Tôn cho bánh xe pháp lăn giữa thế gian để tế độ những người hữu duyên đạt Thánh quả nhiều vô số, bấy giờ danh tiếng, lợc đắc cùng cung kỉnh phát sinh dồi dào đến Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng. Các nhóm du sĩ ngoại giáo không còn được cung kỉnh, không còn được những lợi đắc như trước.

Chúng ngồi bàn luận cùng nhau rằng:

– Từ ngày Samôn Gotama đến đây. lợi đắc cùng sự cung kỉnh của đại chúng đối với chúng ta không còn sung mãn như trước. Chúng ta đã bị tổn hại, Samôn Gotama là người gây ra sự tổn thất cho chúng ta, chúng ta phải tìm cách triệt hạ uy tín của Samôn Gotama. Ai là người có thể giúp chúng ta được điều này.

Một du sĩ nói rằng:

– Này các hiền giả, có nữ du sĩ xinh đẹp là nàng Sundarī có thể giúp chúng ta được.

– Này hiền giả, nàng ấy giúp chúng ta được gì?

– Nàng sẽ vu khống Samôn Gotama hoan lạc cùng nàng, chúng ta sẽ giết chết nàng, vu khống Samôn Gotama cùng chúng đệ tử cưởng hiếp nàng rồi giết người diệt khẩu, chúng sẽ triệt hạ được uy tín của Samôn Gotama.

Chúng ngoại giáo đồng ý với phương án này, khi nữ du sĩ Sundarī đi đến đảnh lễ nhóm du sĩ ngoại giáo, chúng quay mặt đi, khi nàng chào hỏi chúng im lặng. Ngạc nhiên nữ du sĩ Sundarī hỏi:

– Bạch các Ngài, con đã phạm vào điều tội lỗi nào mà các Ngài lạnh nhạt với con như thế?.

– Này nàng, chúng ta đang bị tổn hại do Samôn Gotama, nhưng nàng vẫn dửng dưng như chẳng hề hay biết chi cả.

– Bạch các Ngài, con phải làm gì để giúp đỡ các Ngài?

– Này nàng, nàng có thể làm lợi ích đến thân tộc.

– Thưa các Tôn giả, các Ngài hãy chỉ dạy con. Đời sống của con sẵn sàng hy sinh (pariccattaṃ) cho thân tộc.

– Này nàng, nàng là một mỹ nhân xinh đẹp, hãy đi đến Đại tự Kỳ Viên, làm cho Samôn Gotama mất uy tín vì nàng.

– Thưa vâng, bạch các Ngài.

Thế là, hằng ngày nàng Sundarī mang hương hoa đi vào Đại tự Kỳ Viên để cúng dường. Vào ban ngày, nàng trang điểm thật xinh đẹp đợi đại chúng đi vào Đại tự đông đảo, nàng đi vào Đại tự.

Có người hỏi: “Nàng đi đâu thế?”, nữ du sĩ đáp rằng: “Tôi đến Hương thất của Đức Thế Tôn”.

Nữ du sĩ Sundarī chờ cho đại chúng ra về hết, khi vắng người nàng lẻn đến Tu viện của ngoại giáo ở gần Đại tự Kỳ Viên ngủ đêm nơi Tự viện ấy .

Vào sáng sớm nàng đi đến Đại tự Kỳ Viên thật sớm, ẩn trốn một nơi nào đó trong Đại tự, khi thấy Đại chúng cùng nhau đi đến Đại tự để cúng dường vào buổi sáng, nàng lại đi ra. Có người hỏi: “Nàng trú ngụ nơi nào mà đến đây sớm thế?”.

– Tôi ngụ trong Hương thất với Đức Thế Tôn.

Khi chúng ngoại giáo biết “nàng Sundarī có nhiều người trông thấy”, nhóm du sĩ ngoại giáo thuê người giết nàng Sundarī, rồi vùi xác nàng vào đống rác trong Đại tự Kỳ Viên.

Chúng đi đến Hoàng cung thưa với Đức vua Pasenadi rằng:

– Thưa Đại vương, nữ du sĩ của chúng tôi là Sundarī đã mất tích.

– Này các du sĩ, nữ du sĩ Sundarī thường đi đến nơi nào?

– Thưa Đại vương, nữ du sĩ Sundarī thường đi vào Đại tự Kỳ Viên

– Vậy các ngươi hãy vào Đại tự KỳViên tìm kiếm đi.

– Vâng, thưa Đại vương.

Chúng du sĩ đi vào Đại tự Kỳ Viên giả vờ tìm kiếm nàng Suindarī, rồi đi đến đống rác tìm thấy xác nàng Sundarī.

Chúng đặt thi hài nàng Sundarī trên cáng rồi đi khắp nơi trong thành Sāvatthi rêu rao rằng: “Samôn Gotama cùng chúng đệ tử cưởng bức nàng Sundarī, sau đó giết chết nàng để diệt khẩu”.

Cư dân trong ngoài thành Sāvatthi (XáVệ) vì mê muội không suy xét, đã phẫn nộ, phỉ báng các Tỳkhưu không tiếc lời, các cận sự có chánh kiến suy nghĩ: “Đây là sự vu khống của ngoại giáo đối với Đức Thế Tôn”.

Các vị Tỳkhưu đi khất thực trong thành Sāvatthi đã bị cư dân phỉ báng nặng lời. Vào buổi chiều, nơi Giảng Pháp đường, các vị Tỳkhưu trình lên Đức Thế Tôn việc này.

Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, sau 7 ngày sự việc này sẽ chấm dứt.

Đức Thế Tôn dạy các vị Tỳkhưu rằng:

– Khi cư dân trong thành Sāvatthi phỉ báng các ngươi, các ngươi hãy nói lên kệ ngôn này:

306- Abhūtavādī nirayaṃ upeti; yo vāpi katvā na karomi cāha.

Ubhopi te pecca samā bhavanti; nihīnakammā manujā parattha.

“Dối trá đến địa ngục; có làm nói không làm.

Cả hai đều như nhau, kiếp sao nghiệp xấu đến”([1]).

Biết ác nghiệp đến hồi trả quả, nên Đức Thế Tôn trú ngụ trong Hương thất trọn 7 ngày.

Khi các cư dân thành Sāvatthi phỉ báng, mạ lỵ các vị Tỳkhưu, các Ngài đọc lên kệ ngôn trên, các cư dân ấy suy nghĩ rằng: “Các Samôn Thích tử này nói đúng pháp, như vậy chắc không có phạm tội (akārakā) rồi, ngay cả nói dối còn không nói thì làm sao có thể cưởng hiếp giết người được. Chúng ta không thấy những Samôn Thích tử làm những việc trên, lại nói những Samôn Thích tử này làm những việc ấy, như vậy chúng ta đã nói dối.

Lại nữa, các Samôn Thích tử này đã thề (sa panti) “có làm nói không làm sẽ đến địa ngục”như vậy, chắc là những Samôn Thích tử này không tạo ác nghiệp như thế”.

Và họ không còn mắng nhiếc, phỉ báng nữa.

Đức vua Pasenadi cho thám tử đi điều tra về cái chết của nàng Sundarī. Vào ngày thứ 7, nhóm côn đồ giết nàng Sundarī cùng nhau uống rượu, trong lúc quá chén chúng nóng nảy cự cãi với nhau, một tên trong bọn nói: “Ngươi là kẻ giết nàng Sundarī, ta sẽ tố cáo ngươi”.

Thám tử nghe được lời này, liền bắt hết cả nhóm côn đồ.

Đức vua Pasenadi tự thân xét hỏi:

– Ai đã xúi giục các ngươi giết nàng Sundarī?

– Thưa Đại vương, nhóm du sĩ thuê chúng tôi.

Đức vua cho bắt hết những du sĩ đang trú ngụ trong thành Sāvatthi để điều tra. Nhóm côn đồ chỉ ra những du sĩ đã thuê chúng giết nàng Sundarī, Đức vua Pasenadi hỏi những du sĩ ấy rằng:

– Này các du sĩ, vì sao các ngươi lại thuê người giết nàng Sundarī?

– Thưa Đại vương, để vu khống Samôn Gotama.

– Các ngươi làm như thế với mục đích gì?

– Thưa Đại vương, để triệt hạ uy tín của Samôn Gotama cùng chúng đệ tử.

Nhóm du sĩ này cùng với nhóm côn đồ đã bị Đức vua Pasenadi xử phạt theo Luật quốc độ Kosala.

Chư TỳKhưu hân hoan tán thán ân Đức Phật thật kỳ diệu, chỉ 7 ngày mọi việc yên lặng. Đức Thế Tôn sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, cảm hứng Ngài nói lên kệ ngôn:

Tudanti vācāya janā asaññatā;

Sarehi saṅgāmagataṃva kuñjaraṃ.

Sutvāna vākyaṃ pharusaṃ udīritaṃ;

Adhivāsaye bhikkhu aduṭṭhacitto’’ti.

“Người không biết chế ngự, với lời đâm([2]) người khác.

Giống như voi (bị đâm), khi tham gia chiến trận.

Nghe những lời thô bạo, Tỳkhưu hãy chịu đựng.

Giữ gìn không nói lên([3]), tâm không có hiềm hận” (HT. TMC d)([4]).

Do sự kiện này, Đức Thế Tôn thuyết lên bài kinh Duṭṭhaṭṭhaka với 8 kệ ngôn([5]) cùng với Bổn sự Maṇisūkara.

*Bổn sự Maṇisūkara (Heo rừng trong hang ngọc).

Từ khi việc sát hại nàng Sundarī được sáng tỏ, danh tiếng của Đức Thế Tôn cùng chư Tỳkhưu càng sáng rực.

Một hôm nay Giảng Pháp đường, các vị Tỳkhưu thảo luận cùng nhau rằng:

– Này chư Hiền, chúng ngoại giáo muốn bôi nhọ Đức Thế Tôn, không ngờ càng làm cho Đức Thế Tôn sáng rực hơn nữa.

Với Thiên nhĩ thuần tịnh, Đức Thế Tôn nghe được những lời bàn luận của các Tỳkhưu, Ngài đi đến Giảng pháp đường, thuyết lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī của Vương quốc Kāsi. Bồtát sinh vào một gia tộc Bàlamôn danh tiếng, khi trưởng thành Ngài cảm thấy tham dục là khổ, nên xuất gia làm ẩn sĩ, đi đến Tuyết sơn trú ngụ và tu tập.

Gần am thất của Ngài có môt cái hang bằng bằng ngọc quý, trong hang có 30 con heo rừng đang trú ngụ. Một con sư tử thường lai vãng quanh hang ngọc, bóng con sư tử được phản chiếu vào hang khiến những con heo rừng kinh sợ, nên gầy ốm xanh xao.

Chúng suy nghĩ: Chúng ta vì thấy bóng Sư tử phản chiếu vào hang nên sinh kinh sợ, vậy chúng ta hãy bôi bẩn cái hang đi, bóng Sư tử không còn phản chiếu vào hang nữa”.

Chúng lấy bùn đất ở một vũng nước gần đó, chà xát vào hang, nhưng càng chà xát hang ngọc càng bóng sáng lên.

Không biết phải làm sao, nhóm heo rừng đi đến hỏi vị ẩn sĩ “làm cách nào bôi bẩn hang ngọc”.

Bồtát dạy rằng:

– Không thể bôi bẩn ngọc trong sáng được, càng cọ xát vào ngọc, càng làm cho ngọc sáng hơn lên.

Bồtát khuyên bọn heo rừng nên dời chỗ trú ngụ, đi nơi khác sinh sống, còn Bồtát chuyên tâm tu tập, mệnh chung tái sinh về Phạm thiên giới([6]).

Tương truyền, trong một tiền kiếp Bồtát tái sinh làm người có tên gọi là Munāli, là người đánh bạc (dhutta) hư hỏng. Có lần thấy vị Phật Độc giác Surabhi đang đi khất thực trong thành; Munāli thấy Đức Phật được cư dân thành phố cung kỉnh cúng dường, phát sinh ganh tỵ, vu khống rằng:”Ông Samôn này đã từng cưỡng hiếp một nữ nhân, rồi giết chết nàng vùi xác và0 đống rác”. Mệnh chung Munāli rơi vào địa ngục ATỳ([7]), quả còn dư sót nên hôm nay Đức Thế Tôn bị nhóm ngoại giáo vu khống như thế

2-Nữ du sĩ Ciñcāmāṇavikā.

Sau sự kiện nàng Sundarī danh tiếng, cung kỉnh cùng lợi đắc càng phát sinh đến Đức Thế Tôn và các vị Tỳkhưu, trong khi chúng ngoại gíao tổn thất trầm trọng. Các Tôn chủ ngoại giáo trước đây không tự cho mình là Bậc Chánh Giác([8]), nhưng giờ đây cũng tự xưng mình là Bậc Chánh Giác để vãn hồi tình trạng lợi đắc bị tổn giảm.

Tuy các Tôn chủ tự xưng như thế, nhưng lợi đắc vẫn không phát sinh đến họ. Các du sĩ hội với nhau bàn luận rằng:

– Chúng ta nên công khai tội trạng của Samôn Gotama trước đại chúng, để triệt hạ uy tín của Samôn Gotama. Có như thế danh tiếng, sự cung kỉnh cùng lợi đắc của Samôn Gotama mới bị tổn giảm. Nhưng chúng ta làm cách nào đây?

Khi ấy trong thành Sāvatthi có nữ du sĩ tên là Ciñcāmāṇavikā rất xinh đẹp kiều diễm. Tương truyền nàng thấp sinh nơi cây me, người giữ vườn đã mang cô bé gái về nuôi, đặt tên là Ciñcā (trái me), càng lớn lên nàng càng xinh đẹp nên được gọi là Ciñcāmāṇavikā (thiếu nữ Ciñcā). Khi cha mẹ nuôi qua đời, nàng xuất gia theo ngoại giáo, trở thành một nữ du sĩ.

Một du sĩ nói:

– Chúng tahãy nhờ nữ du sĩ Ciñcāmāṇavika vu khống Samôn Gotama hành lạc với nàng giữa đại chúng. Như thế sẽ làm tổn giảm uy tín, lợc đắc của Samôn Gotama cùng chúng đệ tử.

– Thật là diệu kế.

Khi nàng Ciñcāmāṇavikā đi đến Tự viện của các ngoại giáo, đảnh lễ chúng ngoại giáo xong rồi đứng yên một chỗ, nhóm ngoại giáo không ngó nàng cũng không nói năng chi cả. Ngạc nhiên, nữ du sĩ Ciñcā thưa rằng:

– Bạch các Ngài, có phải con đã phạm lỗi cùng quý Ngài?

Nhóm ngoại giáo vẫn im lặng, nữ du sĩ bạch hỏi đến ba lần như vậy, khi ấy một du sĩ nói rằng:

– Này cô, cô có biết Samôn Gotama làm chúng ta bị tổn thất danh tiếng, cung kỉnh cùng lợi đắc chăng?

– Bạch các Ngài, con nào biết việc ấy đâu. Như vậy con phải làm sao?

– Này cô, nếu cô muốn giúp chúng ta, cô hãy hài tội Samôn Gotama trước đại chúng, có như thế mới khiến lợi đắc của Samôn Gotama bị tổn giảm được.

– Bạch các Ngài, được thôi, con sẽ làm điều ấy. Các Ngài chớ bận tâm suy nghĩ chi cả.

Nữ du sĩ Ciñcāmāṇavikā với y phục vàng xinh đẹp, trang điểm nhan sắc thật kiều diễm, tay cầm hương hoa đi đến Đại tự Kỳ Viên cúng dường.

Nàng giả như người nữ ngoan đạo, ngồi trong Đại chúng nghe Pháp từ Đức Thế Tôn. Khi đại chúng quen dần, nàng chờ đợi đại chúng nghe pháp ra về , nàng đi vào Đại tự Kỳ Viên. Khi có người hỏi:

– Này nàng Ciñcāmāṇavikā, vì sao nàng đến Tự viện vào giờ này?

Nàng xảo quyệt đáp rằng: “Tôi đi đâu mặc tôi, các người hỏi làm gì?”.

Khi vắng người, nàng lẽn về Tự viện của ngoại giáo trú đêm nơi ấy. Khi hừng sáng nàng đi vào Đại tự Kỳ Viên, đợi các cận sự đến Đại tự đảnh lễ Đức Thế Tôn, cúng dường đến Tăng chúng, nàng từ Đại tự đi ra. Có người hỏi:

– Này cô, cô ở đâu mà trở về vậy?

– Tôi ở đâu mặc tôi, các người hỏi để làm gì?

Hai tháng sau, khi có người hỏi, nàng giả vờ thành thật trả lời rằng:

– Tôi ngụ nơi Hương thất của Đức Thế Tôn.

Những phàm nhân phát sinh nghi hoặc rằng: “Nàng này nói có thật như vậy chăng nhỉ?”.

Đến ba bốn tháng sau, nàng lấy vải độn vào bụng giả như người có mang, gieo nghi hoặc đến người thiếu trí rằng: “Thai bào này của ai? Có phải Samôn Gotama tạo ra chăng?”.

Đến 8- 9 tháng nàng dùng khúc gỗ, đẽo gọt cho nhẵn, giả thai nhi độn vào bụng, dùng gỗ đập vào tay chân, thân thể cho sưng lên, như người nữ đến thời sắp sinh nở.

Một hôm vào buổi chiều, khi Đức Thế Tôn ngự đến Gỉảng Pháp đường, giảng pháp đến hàng tứ chúng. Nàng Ciñcāmāṇavikā đi vào Giảng Pháp đường, đứng giữa thính chúng , trước Đức Thế Tôn nói lớn rằng:

– Này ông Đại Samôn, ông chỉ giỏi nói Pháp đến thính chúng thôi, tiếng của ông du dương, giọng nói của ông ngọt ngào, lời của ông thật êm dịu. Tôi cũng vì giọng nói ấy mà thân tôi phải như vầy.

Vì sao ông không biết tôi đến thời sinh nở rồi? Nếu ông không thể tự làm, ông cũng nên bảo những cư sĩ tín thành của ông là Trưởng giả Cấp Cô Độc, hay nàng Visākhā, hoặc một cận sự nào lo cho tôi chứ.

Ông là người chỉ biết hưởng thụ khoái lạc, không biết lo thai bào của chính mình đã tạo ra.

Đức Thế Tôn an tịnh nói rằng:

– Này Ciñcāmāṇavika, điều ngươi vừa nói, chỉ có ngươi và Như Lai biết rõ mà thôi.

Trân tráo, nàng Ciñcāmāṇavika nói rằng:

– Này ông Đại Samôn, đúng như vậy, điều này phát sinh lên chỉ có tôi và ông hiểu rõ thôi.

Đức Thế Tôn im lặng, bấy giờ ngai vàng của Thiên vương Sakka (ĐếThích) chợt nóng ran lên, ngạc nhiên vua Trờ8i Sakka suy nghĩ: “Ai muốn chiếm đạt ngôi vị của ta?”.

Đưa Thiên nhãn xem xét, vua Trời Sakka thấy nàng Ciñcāmāṇavikā đang vu khống, phỉ báng Đức Thế Tôn, làm sinh khởi nghi hoặc trong đại chúng. Vua Trời Sakka suy nghĩ: “Ta sẽ làm sáng tỏ vấn đề này giữa hội chúng, làm thanh tịnh Giới hạnh của Đức Thế Tôn”.

Thiên vương Sakka sai bốn vị Thiên tử tùy tùng rằng:

– Các ngươi hãy đến Đại tự Kỳ Viên, làm Giới hạnh của Đức Thế Tôn chiếu rạng.

Bốn vị Thiên tử đi đến Đại tự Kỳ Viên, hóa thân thành bốn con chuột cắn đứt những vải buộc khúc gỗ tròn, rồi nổi gió lên thổi tung vạt y, khiến khúc gỗ rơi xuống chạm vào chân của nàng Ciñcāmāṇavikā, khiến nàng đau đớn vô cùng.

Đại chúng thấy khúc gỗ giả thai bào rơi xuống, hiểu ngay nàng Ciñcāmāṇavikā đã vu khống Đức Thế Tôn, phẫn nộ nói rằng:

– Này ác nữ, vì sao ngươi vu khống Đức Thế Tôn? Vì sao ngươi phỉ báng Đức Thế Tôn với những lời ác ngữ như thế?

Nàng Ciñcāmāṇavikā kinh sợ bỏ chạy ra khỏi Đại tự Kỳ Viên, khi ra đến cổng Đại tự vừa khuất mắt Đức Thế Tôn, nàng bị đất nứt ra rút nàng xuống địa ngục Avīci (Atỳ).

Sau việc này, danh tiếng, cung kỉnh và lợi đắc phát sinh đến Đức Thế Tôn cùng các vị Tỳkhưu càng tăng bội, trái lại chúng ngoại giáo càng bị giảm thiểu về danh tiếng, sự cung kỉnh cùng lợi đắc.

Ngày hôm sau, nơi Giảng Pháp đường các vị Tỳkhưu đàm luận cùng nhau rằng:

– Này chư hiền, nàng Ciñcāmāṇavikā đã vu khống Đức Thế Tôn với lời không thật. Nàng đã bị tổn hại nặng nề, đã bị đất rút như vậy.

Đức Thế Tôn ngự đến Giảng Pháp đường, dạy các vị Tỳkhưu rằng:

– Này các Tỳkhưu, chẳng phải chỉ trong hiện kiếp nàng Ciñcāmāṇavikā vu khống, phỉ báng Như Lai. Trong quá khứ cũng đã từng như thế và cũng bị tổn hại như thế.

Theo lời thỉnh cầu của các vị Tỳkhưu , Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự Mahāpaduma.

Rồi Đức Thế Tôn dạy rằng:

– Này các Tỳkhưu, gọi là ác nghiệp do từ bỏ pháp chân thật, thực hành pháp hư ngụy, người ấy đã làm mất gốc hướng thượng cho chính mình. Ngài thường nói lời dối trá thì không ác nào không làm.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn.

176- Ekaṃ dhammaṃ atītassa; musāvādissa jantuno.

Vitiṇṇaparalokassa; natthi pāpaṃ akāriyaṃ.

Ai vi phạm một pháp; ai nói lời vọng ngữ.

Ai bác bỏ đời sau; không ác nào không làm” (HT. TMC d).

Dứt kệ ngôn nhiều chúng sinh an trú vào Thánh quả Dự Lưu([9]).

Được biết, do tiền nghiệp vu khống Đức Phật Độc giác Surābhi đã nói ở trên, nên Đức Thế Tôn gặp nạn này.

Trong thời Đức Phật tại tiền, có 5 người bị đất rút đó là: Dạxoa Nanda, nàng Ciñcāmāṇavikā, thanh niên Nanda, vua Suppabuddha (Thiện Giác) và Tôn giả Devadatta (ĐềBàĐạtĐa),

*Bổn sự Mahāpaduma.

Duyên khởi.

Nàng Ciñcāmāṇavikā vu khống Đức Thế Tôn và nàng bị đất rút vào địa ngục ATỳ.

Bổn sự.

Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại) của Vương quốc Kāsi. Bồtát tái sinh vào Hoàng tộc này, Ngài là con của Chánh hậu, khi Chánh hậu sinh ra hài tử, nhìn thấy dung mạo hài tử sinh đẹp như đóa sen vừa hé nở (do có nhiều phước lành), nên Thái tử được đặt tên là Paduma (Liên Hoa).

Khi lớn lên Thái tử theo học nơi kinh thành Takkasilā đầy đủ mọi môn nghệ thuật.

Bà Chánh hậu mệnh chung, Đức vua lập một Chánh hậu khác và phong cho Thái tử Paduma là Phó vương (uparāja).

Bấy giờ nơi biên cương có loạn, vua Brahmadatta thân chinh tảo trừ giặc loạn, nói với Chánh hậu rằng:

– Nàng hãy ở lại Hoàng cung, còn ta sẽ ra biên cương để dẹp loạn. Ta sẽ giao Phó vương Paduma trọng trách phục vụ mọi việc cần thiết cho nàng.

Vua Brahmadatta ra biên cương dẹp loạn, thời gian sau vua đánh tan giặc loạn, trở về kinh thành Bārāṇasī (Balanại).

Được tin Đức vua hồi kinh, Phó vương Paduma cho trang điểm kinh thành Bārāṇasī lộng lẫy, xinh đẹp như kinh thành chư thiên, rồi Ngài lên đường đi đón vua cha.

Trước khi lên đường, Phó vương Paduma đến vấn an Chánh hậu. Từ lâu nhìn thấy diện mạo xinh đẹp của Phó vương Paduma, nàng Chánh hậu đem lòng say mê, khi nghe Phó vương thưa rằng:

– Thưa mẹ, con có thể làm gì giúp cho mẹ được?

Chánh hậu nói rằng:

– Này Phó vương, hãy nằm trên chiếc vương sàng này đi.

– Thưa mẹ, để làm gì?

– Chúng ta sẽ hưởng lạc thú cho đến khi Đức vua trở về.

– Không thể được, bà là mẹ kế của ta, một kế mẫu không được phá vỡ đạo lý để chạy theo dục lạc. Làm sao ta có thể đi vào con đường tội lỗi như thế.

Nàng Chánh hậu nài nỉ ba lần, nhưng cả ba lần đều bị Phó vương Paduma khiển trách. Nàng hỏi rằng:

– Thế ngươi không làm theo lời ta ư?

– Ta không thể làm như thế được.

– Ta sẽ bảo Đức vua chém đầu ngươi.

– Tùy ý bà.

Rồi Phó vương ra khỏi hậu cung của nàng Chánh hậu, mặc cho nàng ở lại với lòng ngập tràn sự hổ thẹn nhục nhã. Nàng Chánh hậu suy nghĩ: “Phó vương Paduma sẽ trình lên với Đức vua việc này, ta sẽ không sống nổi. Vậy chính ta phải ra tay trước”.

Nàng Chánh hậu không dùng vật thực cả mấy ngày, không trang điểm , dùng móng tay nhọn của mình cào vào mặt, mình mẩy cho xước lên, nhổ bức tóc rối lên, mặc y phục nhầu bẩn, bảo các cung nữ rằng:

– Khi Đức vua hỏi ta đâu? Các ngươi nói rằng: “Ta đang bị bịnh nằm trong hậu cung”.

Nàng nằm trên vương sàng, giả vờ lâm trọng bịnh.

Khi trở về kinh thành Bārāṇasī, vua Brahmadatta đi diễu hành quanh kinh thành ba vòng, rồi trở về Hoàng cung. Không thấy Chánh hậu ra đón chào, Ngài hỏi các cung nhân rằng:

– Chánh hậu đâu rồi?

– Thưa Đại vương, Chánh hậu đang bị bệnh.

Nghe vậy, Đức vua đi vào hậu cung, thấy Chánh hậu đang nằm trên vương sàng, hỏi rằng:

– Này nàng, có gì bất ổn chăng?

Nàng giả vờ như không nghe, vua Brahmadatta hỏi ba lần, nàng thưa rằng:

– Thưa Đại vương, xin Ngài đừng hỏi nữa. Những người nữ xinh đẹp như tôi đều phải chịu những cảnh như vầy.

– Này nàng, ai đã làm phiền khổ đến nàng vậy?

– Là người được Đại vương giao phó trách nhiệm trông coi Hoàng thành khi Đại vương ra biên cương dẹp loạn.

– Là Phó vương Paduma sao?

– Thưa Đại vương, đúng vậy, chính Phó vương Paduma đã đi vào hậu cung, nài ép tôi phải cùng Phó vương hưởng lạc thú. Tôi kháng cự bị Phó vương nhổ tóc, đánh đập như thế này, may các cung nữ đến kịp và Phó vương đã bỏ đi.

Vua Brahmadatta không suy xét, phẫn nộ ra lịnh cho các cận tướng rằng:

– Hãy bắt Paduma đem đến đây cho ta. Ta sẽ hành hình Paduma.

Các cận tường đến cung của Thái tử Paduma, mang theo lịnh của vua Brahmadatta “bắt Paduma đến Hoàng cung”.

Biết rõ việc này do Chánh hậu làm ra, Paduma hỏi rằng:

– Này các người, ta phạm tội gì? Ta không chống lại Đức vua, ta vô tội.

Mặc cho Paduma nói, các cận tướng cứ bắt Paduma, trói chặt hai tay về phía sau, vừa dẫn đi vừa đánh đập Ngài.

Nghe tin Phó vương Paduma bị bắt và sẽ bị tử hình, cả kinh thành Bārāṇasī náo động hẳn lên, chúng dân cùng nhau đi đến Hoàng cung.

Vừa trông thấy mặt Thái tử Paduma, vua Brahmadatta không kềm được lửa giận, nói với chúng thần dân đang van xin tha tội cho Thái tử Paduma, rằng:

– Này các thần dân, kẻ này không phải là Đức vua, tuy làm tròn phận sự của vị vua rất hoàn hảo. Nhưng kẻ này đã xúc phạm đến mẹ kế của mình, hãy mang kẻ này ra ngoài thành ném xuống vực sâu cho ta.

Thái tử Paduma la lên rằng:

– Thưa cha, con không hề phạm vào tội ấy. Cha đừng nghe lời nữ nhân mà giết con.

Mặc cho Thái tử Paduma nói như vậy, vua Brahmadatta cương quyết ra lịnh mang Thái tử ra ngoài thành ném xuống vực sâu.

Các Đại thần thưa rằng:

– Thưa Đại vương, Thái tử là người hiền đức, giữ đúng truyền thống Hoàng tộc, là người thừa kế Vương quyền của Đại vương. Đại vương chớ nghe lời nữ nhân mà không suy xét kỹ. Là một minh quân cần phải hành động thật cẩn trọng.

Cho dù các Đại thần nói hết lời vẫn không chuyển được tâm của vua Brahmadatta. Và Thái tử Paduma bị ném xuống vực sâu.

Một thiên nhân trú ngụ gần đó, dùng thần lực, đưa Ngài xuống cõi rắn. Rắn chúa tiếp đã Thái tử Paduma thật niềm nở, chia đôi giang san cõi rắn để Ngài cai trị.

Được một năm, Ngài xin Rắn chúa trở về nhân giới. Rắn chúa hỏi:

– Ngài muốn đến nơi nào? Và sẽ làm gì?

– Hãy cho ta đến núi Tuyết, ta sẽ xuất gia làm ẩn sĩ.

– Lành thay, lành thay.

Với thần lực của mình, Rắn chúa đưa Bồtát đến vùng núi Tuyết, cung cấp cho Bồtát mọi vật dụng cần thiết của vị Samôn, kiến tạo trú xứ cho Bồtát, rồi trở về cõi rắn của mình.

Bồtát ở nơi núi Tuyết tu tập thiền tịnh chứng được 8 thiền cùng 5 pháp thần thông.

Thời gian sau có người thợ rừng lạc lối đi đến am thất của Bồtát, nhìn ra Bồtát là vị Phó vương hiền đức của mình trước đây, hỏi rằng:

– Thưa Ngài ẩn sĩ, Ngài có phải là Phó vương Paduma trước đây chăng?

– Này người thợ rừng, ta chính là Phó vương Paduma.

Sau khi ở lại am thất của Bồtát vài ngày, người thợ rừng trở lại kinh thành Bārāṇasī. Vua Brahmadatta không có con trai (ngoại trừ Thái tử Paduma), người thợ rừng đi vào Hoàng cung trình đến vua Brahmadatta rằng:

– Thưa Đại vương, Thái tử Paduma vẫn còn sống.

– Này người thợ rừng, việc ấy là sự thật sao?

Người thợ rừng trình lên vua Brahmadatta cuộc hội ngộ kỳ diệu với ẩn sĩ Paduma. Nghe vậy, vua Brahmadatta ra lịnh cho người thợ rừng dẫn đường, cùng với các vị Đại thần lên đường đến núi Tuyết, rước Thái tử Paduma trở về kinh thành để lên ngôi cai quản quốc độ Kāsi.

Bồtát tiếp đãi vua cha cùng các vị Đại thần rất chu đáo và trọng hậu. Ngài đi vào rừng sâu, tìm những trái cây quý ngon ngọt về đãi khách.

Vua Brahmadatta hỏi:

– Này con, con bị rơi xuống vực sâu, làm thế nào con sống sót được?

Bồtát thưa lên vua Brahmadatta mọi việc. Khi vua Brahmadatta mời Bồtát trở về kinh thành Bārāṇasī để trị vì thiên hạ, Bồtát khước từ vương vị, rồi giáo giới vua Brahmadatta về 10 pháp trị nước của bậc minh quân.

Vua Brahmadatta cùng các Đại tthần trở về kinh thành Bārāṇasī. Khi trở về Hoàng cung, vua Brahmadatta hỏi các vị Đại thần rằng:

– Vì ai ta mất đi đứa con tài đức là Paduma?

– Do Chánh hậu làm ra.

VuaBrahmadatat ra lịnh ném Chánh hậu xuống vực sâu dành cho bọn trộm cướp.

Nhận diện tiền thân.

Vua Brahmadatta nay là Tôn giả Devadatta, Chánh hậu (sau) nay là nàng Ciñcāmāṇavikā, vị Thiên nhân nay là Trưởng lão Sāriputta (XáLợiPhất), Rắn chúa nay là Ngài Ānanda. Thái tử Paduma nay là Đức Thế Tôn([10]).

*Bổn sự Bandhanamokkha (Giải thoát trói buộc).

Duyên khởi.

Vào một lần khác, các Tỳkhưu cùng nhau tụ hội nơi Giảng Pháp đường, đàm luận cùang nhau rằng:

– Này chư Hiền, nàng Ciñcāmāṇavikā vu khống Đức Thế Tôn, nàng đã bị tổn hại nặng nề.

Nhân đó, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại). Bồtát sinh vào một gia tộc Bàlamôn, cha Ngài là vị Đại thần Tế lễ sư của Đức vua Brahmadatta. Khi cha Ngài mệnh chung, Bồtát kế nghiệp cha ở chức vụ Đại thần Tế lễ sư.

Vua Brahmadatta có nàng Chánh hậu thật xinh đẹp, trong một lúc cao hứng Đức vua nói với Chánh hậu rằng:

– Này Chánh hậu, ta ban cho nàng một điều ước. Hãy ước nguyện đi.

– Thưa Đại vương, lời ước nguyện của em không khó thực hiện lắm. Từ nay trở đi Đại vương không được nhìn nữ nhân nào khác ngoài em với con mắt ái luyến.

Ban đầu Đức vua từ khước ước vọng này, nhưng sau cùng vua Brahmadatta đành phải chấp nhận điều kiện trên. Đức vua Brahmadatta có 16 ngàn cung phi xinh đẹp, nhưng kể từ hôn ấy, Đức vua không hề nhìn một ai trong số 16 ngàn cung phi ấy.

Rồi nơi biên cương có giặc loạn, vị quan vùng biên cương không thể dẹp loạn được, nên vua Brahmadatta thân chinh ra biên thùy dẹp loạn.

Đức vua nói với Chánh hậu rằng:

– Này Chánh hậu, ta phải ra biên thùy dẹp loạn, nơi chiến trận có nhiều bất ổn, không thích hợp với nữ nhân. Này hãy ở lại Hoàng cung.

– Thưa Đại vương, em không thể ở lại Hoàng cung. Đại vương hãy cho em theo ra biên cương với Đại vương.

Khi bị Đức vua từ chối nhiều lần, Chánh hậu nói:

– Nếu vậy, cứ mỗi dotuần, Đại vương hãy cử một Đại thần về Hoàng cung báo tin sức khỏe của Đại vương.

– Được rồi, này Chánh hậu.

Từ kinh thành ra biên cương dài 32 dotuần, cứ mỗi do tuần Đức vua cử một đại thần về Hoàng cung báo tin cho Chánh hậu. và Chánh hậu đã thông gian với vị Đại thần về báo tin ấy.

Sau khi bình định giặc loạn nơi biên cương xong, trên đường về, cứ mỗi do tuần Đức vua cũng gửi về Hoàng cung một Đại thần để báo tin đến Chánh hậu và Chánh hậu đã thông gian với các vị Đại thần ấy. Tổng cộng bà đã thông gian với 64 vị Đại thần.

Khi về đến Kinh thành, Đức vua cho dừng quân ngoài thành, thông báo cho Bồtát trang hoàng kinh thành thật xinh đẹp như thành phố chư thiên để tổ chức lễ thắng trận.

Sau khi cho trang hoàng thành phố để rước Đức vua vào kinh thành, Bồtát đi đến Hoàng cung, báo tin cho Chánh hậu biết. Nhìn thấy thân hình tuyệt đẹp cùng sắc diện khôi ngô của Bồtát, Chánh hậu nói:

– Này Bàlamôn Đại thần, hãy cùng ta hưởng lạc thú đi.

– Thưa Chánh hậu, không thể được. Hãy kính trọng Đức vua, chớ có làm điều bất thiện.

– Đã có 64 đại thần không kính trọng vua, không sợ điều bất thiện rồi, chỉ có ngươi kính trọng Đức vua, sợ điều bất thiện sao?

– Vâng, thưa Chánh hậu, nếu họ kính trọng Đức vua, sợ điều bất thiện thì đã không làm như thế.

– Này Bàlamôn, đừng có nói nhiều như thế, nếu ngươi không làm theo lời ta. Ta sẽ khiến Đức vua chém đầu ngươi đấy.

– Được thôi, thưa Chánh hậu cho dù chém dầu tôi một lần hay trăm ngàn lần, tôi cũng không thể làm việc ấy.

– Được rồi, này Bàlamôn, ngươi sẽ biết tay ta.

Đe dọa Bồtát rồi, Chánh hậu đi vào hậu cung dùng móng tay cào lên mặt, lên người cho trầy xước, mặc y bẩn, nằm trên giường với tóc rối lên, bảo các cung nữ rằng:

– Khi Đại vương hỏi, hãy nói ta đang lâm trọng bịnh.

Bồtát đi đómn Đức vua vào kinh thành, sau khi đi quanh kinh thành ba vòng, Đức vua về Hoàng cung. Không thấy Chánh hậu ra tiếp đón mình, Đức vua hỏi các cung nữ, các cung nữ thưa rằng:

– Thưa Đại vương, Chánh hậu đang lâm trọng bịnh.

Nghe vậy, Đức vua liền đi vào hậu cung, nhìn thấy Chánh hậu đang nằm trên giường, Đức vua đi đến lấy tay xoa lưng Chánh hậu, hỏi rằng:

– Này Chánh hậu, nàng bịnh gì thế?

Đức vua hỏi đến ba lần, Chánh hậu nói rằng:

– Thưa Đại vương, Ngài còn sống hồi kinh thành là điều hạnh phúc rồi. Nhưng nữ nhân như em cần phải có người chồng bên cạnh.

– Này Chánh hậu, có chuyện gì thế?

– Thưa Đại vương, vị Bàlamôn Đại thần Tế lễ đi vào nội cung với cớ là trang hoàng cung điện cho xinh đẹp để tiếp rước Đại vương. Y nhìn thấy em, buộc em phải cùng y hưởng lạc thú, do em không đồng ý, y đã đánh đập em như thế này rồi bỏ đi.

Vua Brahmadatta phẫn nộ như muối ném vào lửa nổ lốp bốp, ra lịnh các cận tướng rằng:

– Hãy bắt trói Đại thần Tế lễ sư ngay lập tức. Hãy chém đầu hắn cho ta.

Những cận tướng đi thật nhanh đến bắt Bồtát trói lại, đồng thời đánh đập Bồtát. Ngài hiểu ngay “Chánh hậu đã vu khống cho ta. Ta phải tự mình cứu lấy mình”. Bồtát nói với những người ấy rằng:

– Trước khi các ngươi giết ta, hãy đưa ta đến gặp Đức vua.

– Ngươi gặp Đức vua để làm gì?

– Vì ta là người phục vụ cho Đức vua, đã làm được nhiều việc. Ta biết những tài sản của Đức vua được chôn dấu rất nhiều nơi nào. Chính ta là người quản lý đất ruộng của Đức vua, nếu không gặp Đức vua thì rất nhiều tài sản bị thất thoát. Sau khi nói rõ cho Đức vua biết rõ tài sản được chôn dấu, các ngươi hành hình ta chẳng muộn.

Họ đưa Bồtát đến gặp Đức vua, cơn phẫn nộ của Đức vua khi ấy cũng dịu hẳn. Đức vua hỏi:

– Này Bàlamôn, ngươi không cảm thấy hổ thẹn khi nhìn ta ư? Vì sao ngươi thực hành ác hạnh như thế chứ?

– Thưa Đại vương, tôi hoàn toàn vô tội với Đại vương, làm thế nào tôi có sự hổ thẹn đối với Đại vương được chứ? Tôi sinh ra trong giòng Bàlamôn thượng lưu, từ trước đến nay tôi không hề sát sinh, cho dù đó là một con kiến. Từ trước đến nay tôi không hề lấy của không cho, cho dù đó là một cọng cỏ. Từ trước đến nay tôi không hề nhìn nữ nhân của người khác với ánh mắt ái luyến, cho dù là một cái liếc tình cũng không hề có. Từ trước đến nay tôi không hề nói dối, cho dù đó là lời đùa vui. Từ trước đến nay tôi không hề uống rượu nấu, rượu men cho dù chỉ một giọt trên đầu cọng cỏ Kusa.

Thưa Đại vương, tôi hoàn toàn vô tội với Đại vương. Chính bà Hoàng ác độc kia, đã cầm tay tôi nài ép tôi cùng bà hưởng lạc thú, tôi từ chối và bà đã không ngần ngại cho biết” có 64 vị Đại thần đã cùng bà hưởng lạc thú”, tôi không chấp nhận việc bất thiện này, nên bà đã vu khống cho tôi.

Thưa Đại vương, Đại vương hãy gọi 64 vị Đại thần sứ giả về báo tin cho bà Chánh hậu thì rõ biết sự thật.

Nghe vậy, Đức vua sinh nghi hoặc, cho gọi 64 vị Đại thần sứ giả cùng Chánh hậu đến Hoàng cung. Thấy có Bồtát hiện diện nơi ấy, các vị Đại thần sứ giả kinh sợ rằng: “Thôi rồi, việc thông gian của ta với Chánh hậu đã bị phát giác rồi, Ta nên thú thật còn có cơ hội sống”.

Tất cả đều thú nhận có thông gian với Chánh hậu. Tức giận, Đức vua sai trói 64 vị Đại thần lại, ra lịnh chém đầu tất cả.

Khi ấy Bồtát thưa rằng:

– Thưa Đại vương, những người này do kinh sợ Chánh hậu, nếu không làm theo ý bà sẽ bị bà vu khống và sinh mạng của họ đang bị đe dọa, do vậy, họ không có tội, ngay cả bà Chánh hậu cũng không có tội, chỉ vì tính dâm dục của bà nên sinh ra như vậy, bà chỉ làm theo nhu cầu của tính dâm dục ấy mà thôi. Xin Đại vương hãy tha thứ cho họ.

Sau khi xin Đức vua tha thứ cho tất cả, Bồtát nói tiếp rằng:

– Thưa Đại vương, lời của kẻ ngu si khiến người trí bị trói buộc không xứng đáng, còn lời nói của người có trí đã giải thoát những trói buộc.

Sau việc này, Bồtát xin từ quan, bố thí hết tài sản xuất gia sống đời ẩn sĩ nơi vùng núi Tuyết, tu tập chứng đắc thiền tịnh cùng các thắng trí. Mệnh chung tái sinh về Phạm thiên giới.

Nhận diện tiền thân.

Chánh hậu nay là nàng Ciñcāmaṇavikā, Đức vua nay là Trưởng lão Ānanda([11]).

*Bổn sự Cullapaduma.

Duyên khởi.

Nơi Đại tự Kỳ Viên, có một Tỳkhưu thối thất tinh tấn vì một nữ nhân, Đức Thế Tôn cho gọi vị Tỳkhưu ấy đến hỏi rằng:

– Này Tỳkhưu, có thật chăng, ngươi thối thất vì một nữ nhân?.

– Bạch Thế Tôn, có thật như thế.

– Này Tỳkhưu, thường các nữ nhân đều vô ơn, phản bội tình bạn. Các bậc hiền trí xưa kia, cho họ uống máu đầu gối phải của mình, mang những tặng phẩm cho họ; vẫn không chinh phục họ và bị họ phản bội.

Theo lời thỉnh cầu của chư Tỳkhưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn sự này.

Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại), Bồtát là Thái tử của vua Brahmadatta, Ngài được đặt tên là Paduma.

Bồtát có 6 người em trai, bảy người theo dòng thời gian trưởng thành, có gia đình sống ở Hoàng cung cạnh vua cha.

Một hôm vua Brahmadatta đứng trên lầu 7 của Hoàng cung nhìn xuống sân Hoàng cung, thấy 7 vị Tử hoàng đi đến Hoàng cung với tùy tùng đông đảo, vua Brahmadatta sinh ngờ vực rằng: “Những người này có thể họp nhau lại giết ta để đoạt ngôi”.

Vua Brahmadatta cho gọi 7 vị Tử hoàng đến sân Hoàng cung dạy rằng:

– Này các con thân, các con không nên sống nơi Hoàng cung này, các con hãy ra đi lập nghiệp. Khi ta mệnh chung, các con hãy trở về kế vị Vương quyền, vì Vương quyền này là của các con.

Vâng theo lời cha, cả 7 vị Tử hoàng mang vợ lên đường ra đi lập nghiệp. bất ngờ cả đoàn người đi lạc vào sa mạc hoang vu. Không có vật thực nuôi mạng. Chịu đựng đói khác không nổi, sáu vị Tử hoàng bàn với nhau rằng:

– Chúng ta còn sống sẽ tìm được nữ nhân khác, nếu tất cả đều chết nơi đây, sẽ không còn gì cả.

Ngày đầu tiên họ giết vợ vị Tử hoàng thứ 7. chia thịt làm 13 phần đều nhau. Bồtát cùng vợ chia phần thịt của mình thành 3 phần, dùng hai phần để dành một phần.

Sáu ngày trôi qua, họ giết sáu người vợ của 6 vị Tử hoàng, đến ngày thứ 7, họ định giết vợ Bồtát, Bồtát nói rằng: “Ta có dư 7 phần thịt, hãy dùng 7 phần thịt này đi, mai sẽ tính”.

Trong đêm, đợi sáu Tử hoàng ngủ say, Bồtát cùng vợ chạy trốn, được một khoảng xa, vợ Bồtát đuối sức nói với chồng rằng:

– Thưa anh, em chạy không nổi nữa rồi. Anh hãy chạy trốn đi.

Bồtát cõng vợ trên lưng chạy cho đến sáng gần thoát ra khỏi sa mạc hoang vu. Khi mặt trời mọc, người vợ nói:

– Thưa anh, em khát nước quá.

– Hãy cố gắng, chúng ta sắp thoát ra khỏi sa mạc rồi.

– Nhưng em không còn sức chịu đựng nữa.

Nghe vậy, Bồtát lấy gươm đâm vào đầu gối chân phải, nói rằng:

– Nơi đây không có nước, nàng hãy tạm uống máu của ta cho đỡ khát.

Vợ Bồtát đã uống máu nơi đầu gối phải của Bồtát. Cả hai thoát ra sa mạc hoang vu đi lần đến bờ sông Hằng. Họ tắm rửa, uống nước thoải mái rồi đi tìm trái cây rừng để ăn.

Nơi khúc quanh của sông Hằng, Bồtát dựng lên một am thất, cùng vợ sống ở nơi đây.

Một tên cướp bị bắt, bị vua Brahmadatta hành hình, chặt tay chân, cắt tai, xẻo mũi rồi đóng bè đặt tên cướp lên bè thả trôi trên sống Hằng. Chiếc bè từ thượng nguồn trôi xuống đến khúc quanh nơi am thất của Bồtát, nghe tiếng kêu la cầu cứu, Bồtát lội ra sông Hằng, thấy tên què nằm trên ấy. Động lòng trắc ẩn, Bồtát mang tên què về am thất của mình, thoa xức thuốc trị thương cho tên què; vợ Bồtát khinh bỉ rằng:

– Một tên què vô dụng như thế này mà chồng ta cũng mang về am thất, săn sóc trị thương tích.

Nàng khinh bỉ nhổ nước bọt vào người tên què. Thời gian sau vết thương người què lành lặn, Bồtát để người què nơi am thất, Ngài đi vào rừng tìm trái cây về nuôi vợ cùng người què.

Do gần gũi lâu ngày với người què, vợ Bồtát sinh tâm ái luyến người què, thông dâm với người què. Sợ Bồtát biết chuyện, vợ Bồtát suy nghĩ: “Ta nên xuống tay trước”.

Một hôm vợ Bồtát nói rằng:

– Thưa anh, khi chạy trốn khỏi sa mạc hoang vu, em có khấn nguyện rằng: “Xin thần núi gần nơi này hãy hộ trì tôi cùng chồng tôi thoát khỏi nơi đây. Tôi cúng dường để tạ lễ cùng Ngài. Mấy hôm nay, em nằm mộng thấy vị Thần núi báo mộng nhắc nhở em điều ấy.

– Đước rồi, ta sẽ vào rừng hái trái cây, sắm sửa lễ vật cho nàng để nàng tạ lễ thần núi.

Sau khi tìm những trái cây rừng ngon quý để tạ lễ thần núi, vợ Bồtát nói:

– Này anh, chúng ta hãy lên đỉnh núi để làm lễ tạ thần núi.

Bồtát đưa vợ lên đỉnh núi cạnh bờ vực, nhân lúc Ngài vô ý, vợ Bồtát xô Ngải rơi xuống vực, la lên rằng:

– Ta đã thấy lưng kẻ thù rồi.

Và nàng xuống núi chung sống với tên què.

Bồtát rơi từ đỉnh núi xuống vực thẳm, nhưng nơi vách đá một cây sung mọc lên, một nhánh lớn đưa ra ngoài thành vực như tấm vách ngăn những vật từ trên rơi xuống, Bồtát rơi vào tấm vách ngăn ấy, nhưng không thể xuống núi được, Ngài đành phải ăn những trái sung để sống.

Một Kỳđà chúa có thân to lớn, từ chân núi thường bò theo vách núi lên cành sung để ăn những trái sung. Nó thấy Bồtát liền chạy trốn sang cành sung khác và ăn trái sung, nó đến cây sung nhiều lần, không thấy Bồtát có ý làm hại, lần lần nó đến gần Bồtát và kết thân với Bồtát.

Kỳđà chúa hỏi Bồtát rằng:

– Vì sao anh đến được nơi này?

Bồtát thuật cho Kỳđà chúa nghe mọi việc. Kỳđà chúa nói:

– Anh không cần phải lo sợ nữa, tôi sẽ đưa anh xuống núi.

Kỳđà chúa cõng Bồtát trên lưng bò theo vách núi xuống chân núi, đưa Bồtát ra khỏi khu rừng.

Bồtát đi đến ngôi làng nhỏ cạnh bìa rừng và sống nơi ấy.

Khi nghe tin vua Brahmadatta mệnh chung, Bồtát trở về kinh thành Bārāṇasī kế vị Vương quyền cai trị quốc độ Kāsi.

Ngài trị nước theo 10 pháp của bậc minh quân, Đức vua Paduma cho xây dựng 6 Bố thí đường, bốn ở bốn cổng thành, một ở trung tâm kinh thành, một ở trước cổng Hoàng cung để bố thí cho những người cô đơn, nghèo khổ… Mỗi ngày Đức vua Paduma xuất ra 600 ngàn tiền vàng để bố thí như thế.

Nói về nữ nhân ác độc, vô ơn kia, không chịu đựng được cảnh u tịch của núi rừng, nàng cõng người què trên lưng, lìa bỏ nơi trú ngụ đi về làng mạc. Nàng phải đi xin ăn để sống và nuôi người què trên lưng. Có người hỏi rằng:

– Này cô, người què cô cõng trên lưng là gì với cô vậy?

Nàng dối trá rằng:

– Mẹ người này là chị của cha tôi, người này là anh họ của tôi. Cha tôi cho tôi đến người này. Cho dù bị đày đọa đến chết, tôi cũng cõng người này trên lưng, xin ăn để nuôi chồng.

Mọi người khen ngợi rằng:

– Thật là người vợ trung thành với chồng.

Người ta cho nàng cơm cháo nhiều hơn trước, có người bảo nàng rằng:

– Nàng không cần phải lặn lội để kiếm sống nữa, hãy đi đến kinh thành Bārāṇasī, nơi ấy có Đức vua Paduma hiền đức đang trị vị. Đức vua có lập ra 6 Bố thí đường để bố thí cho những người nghèo khổ. Nàng hãy đi đến Bố thí đường sẽ có nhiều lương thực cho nàng và chồng nàng, nếu Đức vua Paduma biết được nàng là người vợ chân tình sẽ ban thưởng cho nàng nhiều tài sản. Hãy đặt chồng nàng vào chiếc giỏ này rồi mang trên vai.

– Lành thay, lành thay, thưa các Ngài.

Những người tốt đã làm cho nàng cái giỏ tre, nàng đặt anh què ngồi trong đó, mang trên vai, đi đến kinh thành Bārāṇasī. Nữ ác hạnh ấy cùng anh què đi đến Bố thí đường, sống nương nhờ nơi ấy.

Vào những ngày lễ Bốtát, Đức vua Paduma cho trang hoàng thành phố, sau khi trang điểm xinh đẹp, Ngài ngự trên lưng voi đi đến sáu Bố thí đường để xem xét, tự tay Đức vua bố thí đến những người nghèo khổ tám hay mười người, rồi ngự trở về Hoàng cung.

Nữ nhân ác hạnh đặt người què ngồi trong giỏ, đứng bên vệ đường, nơi Đức vua Paduma sắp đi đến.

Trên lưng voi, Đức vua Paduma nhìn ra nữ nhân ác hạnh, Ngài hỏi những cận tướng rằng:

– Nữ nhân kia là ai vậy?

– Thưa Đại vương, đó là người vợ chân tình.

Đức vua cho gọi nữ nhân ác hạnh kia đến, bảo mang anh què ra khỏi giỏ, hỏi rằng:

– Này nàng, người què này là gì của nàng vậy?

– Thưa Đại vương, mẹ người này là chị của cha tôi, người này là anh họ của tôi. Cha tôi cho tôi đến người này. Cho dù bị đày đọa đến chết, tôi cũng cõng người này trên lưng, xin ăn để nuôi chồng.

Những người không biết chuyện đã khen ngợi rằng:

– Ồ! Thật là người vợ chân tình.

Đức vua Paduma hỏi:

– Này nàng, có phải người què kia là do gia đình nàng chọn là chồng của nàng chăng?.

Vì không nghĩ người hỏi mình chính là Thái tử Paduma, người đã bị nàng xô xuống vực thẳm, nàng cho rằng Thái tử Paduma đã chết, nên trâng tráo đáp rằng:

– Thưa Đại vương, đúng như vậy.

– Này nàng, anh què này có phải là con vua Brahmadatta không? Nàng có phải là con gái của một vị vua, là vợ Thái tử Paduma chăng?.

Kinh hoàng, nữ nhân ác hạnh tái mặt, run rẩy đứng không vững.

Sau khi dằn mặt, Đức vua vạch mặt nữ nhân phản bội rằng:

– Này các Đại thần, chính nàng đã từng uống máu nơi đầu gối phải của ta. Chỉ vì luyến ái đến người què này, nàng đã lừa rồi xô ta rơi xuống vực thẳm sát hại ta, để tự do luyến ái với tên què này. Nữ nhân ác hạnh này nghĩ rằng ta đã chết, nên không ai biết việc nàng làm, lừa mị thiên hạ, giả như là người vợ chân tình. Nhưng ta vẫn còn sống, nữ nhân ác hạnh kia đi đến đây với dấu ấn tử thần trên trán.

Không dằn được phẫn nộ, Bồtát ra lịnh hành hình cả hai. Nhưng rồi Ngài không thực hiện việc ấy. Bồtát cho cột chiếc giỏ vào đầu nữ nhân ác hạnh thật chắc chắn, không thể nào cởi bỏ ra được, đặt tên què ngồi vào bên trong, rồi đuổi cả hai ra khỏi quốc độ của mình.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết giảng về bốn sự thật. Dứt Pháp thoại vị Tỳkhưu thối thất tinh tấn chứng Thánh quả Dự Lưu.

Nhận diện tiền thân.

Nữ nhân ác hạnh nay là nàng Ciñcāmāṇavikā; người què nay là Tôn giả Devadatta; Kỳđà chúa nay là Ngài Ānanda, Đức vua Paduma naylà Đức Thế Tôn([12]).

*Bổn sự Suṃsumāra (Con cá sấu).

Duyên khởi.

Trong Đại tự Kỳ Viên, nơi Giảng Pháp đường, các vị Tỳkhưu ngồi bàn luận với nhau về việc Tôn giả Devadatta âm mưu sát hại Đức Thế Tôn.

Bổn sự.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī (Balanại), Bồtát sinh làm khỉ chúa ở trong khu rừng trong dãy núi Tuyết, cạnh khúc quanh sông Hằng. Bồtát có thân hình to lớn.

Nơi đáy sông Hằng có cặp vợ chồng cá sấu, sấu cái nhìn thây thân thể lực lưỡng của khỉ chúa, nó thèm ăn quả tim của khỉ chúa, nói với chồng rằng:

– Này anh, em muốn ăn trái tim của con khỉ chúa này.

– Này em, chúng ta tìm ăn dưới nước, còn khỉ chúa tìm ăn trên rừng. Làm sao chúng ta có thể bắt được nó chứ?.

– Hãy tìm cách bắt được nó. Nếu không có trái tim khỉ chúa, chắc em phải chết vì thèm khát.

– Thôi được, ta sẽ tìm cách bắt nó để lấy trái tim.

Khi khỉ chúa đến sông Hằng uống nước, ngồi trên bờ, sấu đực bò đến nói với khỉ chúa rằng:

– Thưa Ngài khỉ chúa, nơi này trái cây thường hư thối, Ngài cứ đến đây tìm ăn trái cây hư thối này. Sao Ngài không qua bên kia sông Hằng để tìm trái cây, bên kia sông Hằng đủ mọi trái ngon ngọt như mít, xoài …

– Này vua cá sấu, sông Hằng rộng và sâu. Làm sao tôi có thể sang bên kia sông Hằng chứ?

– Nếu Ngài muốn sang bên kia sông Hằng, tôi sẽ đưa Ngài qua.

– Này vua cá sấu, bằng cách nào?

– Ngài sẽ ngồi trên lưng tôi, tôi đưa Ngài sang qua bên kia sông Hằng.

Tin lời cá sấu, khỉ chúa đồng ý. Khỉ chúa ngồi trên lưng cá sấu, khi đến giữa sông Hằng, cá sấu lặn xuống nước, khỉ chúa kêu lên rằng:

– Này vua cá sấu, vì sao Ngài lặn xuống nước vậy?

– Ta nào muốn đưa ngươi sang bên kia sông Hằng đâu. Vợ ta muốn ăn trái tin của ngươi nên ta đưa ngươi đến đây giết ngươi lấy trái tim đấy.

– Ồ! Này vua cá sấu, Ngài không nói cho tôi biết điều này. Loài khỉ của chúng tôi không để trái tim trong người bao giờ?

Nửa tin, nửa ngờ, cá sấu hỏi:

– Này khỉ chúa, vì sao vậy?

– Này vua cá sấu, loài khỉ chúng tôi thường nhảy nhót, leo trèo. Nếu để trái tim trong người nó sẽ bị nảy tung lên và bể mất.

– Vậy các ngươi để trái tim ở đâu?

Khỉ chúa chỉ cây sung đầy những chùm sung, nói rằng:

– Loài khỉ chúng tôi treo trái tim lủng lẳng ở cây sung.

– Nếu ngươi cho ta quả tim để làm thuốc cho vợ ta, ta không giết ngươi đâu.

– Này vua cá sấu, điều ấy chẳng có gì khó khăn cả, loài khỉ chúng tôi không cần thiết đến trái tim ấy. Ngài hãy đưa tôi vào bờ, tôi sẽ tặng Ngài những trái tim đang treo lủng lẳng.

Cá sấu đưa khỉ chúa quay trở lại, khỉ chúa phóng lên cây sung, nói với cá sấu rằng:

– Này cá sấu ngu đần ác độc kia ơi, ngươi nghĩ loài khỉ để trái tim ra ngoài ư? Ngươi thật ngu si, ta gạt ngươi đấy; thân ngươi tuy to lớn, nhưng ngươi không có trí khôn. Ta sẽ gởi cho ngươi những trái sung này, ngươi hãy giữ lấy mang về cho vợ ngươi.

Khỉ chúa hái những trái sung ném xuống sống Hằng cho cá sấu.

Như vừa đánh mất số tiền một ngàn đồng vàng, sấu đực sững sờ, lặn xuống sông Hằng trở về chỗ ở của mình.

Nhận diện tiền thân.

Sấu đực nay là Tôn giả Devadatta, sấu cái nay là nàng Ciñcāmāṇavikā, khỉ chúa nay là Đức Thế Tôn([13]).

*Bổn sự Suvaṇṇakakkaṭa (Con cua vàng).

Duyên khởi.

Trong Veḷuvanavihāra (Đại tự Trúc Lâm), nơi Giảng Pháp đường, các vị Tỳkhưu bàn luận về việc Trưởng lão Ānanda đem thân che chắn voi Dhanapāla trước mặt Đức Thế Tôn.

Bổn sự.

Thuở xưa, Bồtát tái sinh vào ngôi làng Sālindiya, làng nằm về phía Đông bắc thành Rājagaha (Vương xá), làng Sālindiya là trú quán của Bàlamôn Kosiyagotta. Bồtát thuộc dòng Bàlamôn làm ruộng.

Khi trưởng thành, Ngài cai quản và canh tác một trang trại rộng lớn khoảng 1.00 harisa (#8.000 mẫu).

Một hôm, Ngài cùng gia nhân ra đồng cày ruộng, sau khi phân công cho các gia nhân xong, Ngài đi đến ao nước lớn để rửa mặt.

Trong ao nước có con cua vàng óng ả, xinh đẹp, Bồtát xuống ao tắm rửa, súc miệng rửa mặt, con cua vàng bơi đến gần Ngài, Ngài nhặt lấy cua vàng đặt nó nằm trong áo khoác ngoài của Ngài. Khi xong việc đồng áng, Ngài mang cua vàng đến ao nước thả nó về chỗ cũ.

Từ đó, mỗi khi ra đồng, Bồtát thường đến ao nước mang cua vàng đặt vào áo khoác ngoài, rồi trở lại làm việc. Xong việc đồng áng lại mang cua vàng trở về ao như trước.

Một tình cảm thân thiết nảy sinh giữa người và vật khắn khít.

Bồtát có đôi mắt với 5 vẻ đẹp, có ba vòng tròn trong vắt. Một con quạ mái ở trên cây Thốtnốt gần đó, nó muốn ăn mắt Bồtát, nên nói với quạ trống rằng:

– Này anh, em muốn ăn đôi mắt của người chủ ruộng.

– Điều ước muốn của nàng thật khó thực hiện. Ai có thể lấy đôi mắt của người chủ ruộng cho nàng chứ?

– Anh không thể lấy được, nhưng nơi tổ kiến gần đây có con rắn hổ. Anh hãy cố gắng hầu hạ rắn hổ, nhờ rắn hổ mổ chết người chủ ruộng, khi ấy, anh có thể lấy được đôi mắt người chủ ruộng.

Quạ trống đồng ý, nó đến phục vụ cho rắn hổ. Theo thời gian, những hạt giống của Bồtát gieo trồng đã nẩy mầm, con cua vàng cũng to lớn lên.

Một hôm rắn hổ hỏi quạ trống.

– Này quạ, vì sao ngươi đến phục vụ cho ta nhiệt tình như thế? Ngươi muốn ta giúp ngươi việc gì?

– Thưa Ngài, nữ nô tỳ của Ngài là quạ mái thèm ăn đôi mắt người chủ ruộng. Xin Ngài hãy mổ chết người chủ ruộng để tôi mổ lấy đôi mắt người chủ ruộng mang về cho nàng.

– Việc này không khó, ta sẽ giúp ngươi có được đôi mắt người chủ ruộng.

Hôm sau con rắn ẩn mình dưới đám cỏ, cạnh bờ ruộng nơi người chủ ruộng thường đến bước xuống ruộng. Bồtát đi đến ruộng lúa, Ngài đến ao nước rửa mặt, con cua vàng bò đến, Ngài đặt cua vàng vào áo khoác ngoài, rồi mang cua vàng đi đến ruộng lúa.

Con rắn thấy Bồtát vừa bước xuống ruộng, nó phóng đến mổ vào chân Ngài khiến Ngài ngã xuống ngay tại chỗ, con rắn chạy về ổ kiến của mình.

Thấy Bồtát ngã xuống bất tỉnh, con cua vàng liền ra khỏi áo khoác bò đến bên Bồtát, biết Bồtát bị rắn độc mổ trúng, cùng khi ấy quạ trống sà xuống đậu nơi ngực Bồtát, đợi khi Bồtát mệnh chung nó mổ lấy đôi mắt của Ngài. Cua vàng suy nghĩ: “Con quạ này là kẻ gây ra hiểm họa cho thân hữu của ta. Nếu ta kẹp lấy cổ nó, nó sẽ cầu cứu với con rắn”.

Cua vàng dùng càng kẹp ngay cổ quạ xiết mạnh, quạ bị nghet thở kêu cứu với rắn hổ rằng:

– Thưa chủ rắn hổ, tôi bị cua vàng xiết cổ. Hãy đến cứu tôi kẻo tôi chết mất.

Nghe quạ kêu cứu, rắn bò ra khỏi ổ kiến đi đến Bồtát để cứu quạ. Cua vàng nhanh nhẹn giương chiếc càng thứ hai ra kẹp ngay cổ rắn xiết mạnh, cua vàng dồn sức mạnh vào chiếc càng thứ hai, xiết mạnh vào cổ rắn, nới lỏng cổ qụa ra đôi chút.

Rắn suy nghĩ: “Loài cua không hề ăn thịt rắn hay quạ, vì sao con cua này lại kẹp chúng ta?”, nó hỏi rằng:

– Ngươi không ăn thịt quạ hay rắn, vì sao ngươi kẹp bọn ta?

– Người Bàlamôn kia là thân hữu của ta, đã bị ngươi làm hại. Ta với người Bàlamôn này là một, con quạ kia cũng muốn giết ta để ăn thịt. Ta sẽ kẹp xiết các ngươi cho đến chết.

Nghe vậy con rắn suy nghĩ: “Ta sẽ gạt con cua này để thoát thân”, nên nói rằng: “Nếu vậy, ngươi hãy thả quạ và ta ra, ta sẽ hút lại chất nọc độc trong thân Bàlamôn này. Nếu ngươi chậm trể chất độc ngấm sâu thì Bàlamôn kia không thể cứu được”.

Cua vàng suy nghĩ: “Con rắn này muốn gạt ta. Khi ta thả chúng ra, chúng chạy mất”. Cua vàng nói rằng:

– Nếu vậy, ta sẽ thả ngươi ra, nhưng không thả quạ. Ngươi hãy hút nọc độc trong người Bàlamôn kia ra đi, nếu ngươi không hút độc con quạ này sẽ chết.

Nghe cua vàng nói vậy, quạ sợ chết van nài rắn rằng:

– Thưa chủ, chủ đừng bỏ tôi. Chủ hãy hút độc trong người Bàlamôn ấy ra đi.

Cua vàng nới lỏng càng kẹp cổ rắn, thả rắn đi, con rắn đến chỗ Bồtát nắm, nó hút độc trong người Bồtát ra, Bồtát tỉnh dậy bình thường như trước.

Cua vàng suy nghĩ: “Hai con vật này còn sống, bạn thân của ta sẽ còn gắp nhiều hiểm hoa”, cua vàng xiết chắt cổ quạ, giết chết quạ trống. Bồtát dùng gậy nhọn đâm xuyên qua mình rắn, vứt rắn vào bụi rậm, quạ mái hoảng sợ bay trốn khỏi nơi ấy.

Tình thân hữu giữa Bồtát và cua vàng càng thêm khắn khít.

Dứt Bổn sự, Đức Thế Tôn thuyết lên bốn sự thật, sau thời Pháp thoại nhiều vị Tỳkhưu chứng Thánh quả Dự Lưu.

Nhận diện tiền thân.

Quạ mái nay là nàng Ciñcāmaṇavikā, quạ trống nay là Tôn giả Devadatta, rắn hổ nay là Māra, cua vàng nay là Ngài Ānanda([14]).

([1])– Dhp. Câu số 306; Ud 44. Sundarīsuttaṃ (kinh Sundarī).

([2])– Tudanti .

([3])– Udīritaṃ.

([4])– UdA. Sundarī; Ud. 44.

([5])– Sn. 153.

([6])– JA. Chuyện số 285.

([7])– Ap.i. 299; UdA. 263.

([8])– Xem S. i. 68. Daharasuttam. (kinh Tuổi trẻ).

([9])– DhpA. Câu số 176; JA. iv. 187; ItA. 69.

([10])– JA. Mahāpadumajātaka. Chuyện số 272.

([11])– JA. Bandhanamokkhajātaka. Chuyện số 120.

([12])– JA. Cullapadumajātaka. Chuyện số 193.

([13])– JA. Suṃsumārajātaka . Chuyện số 208.

([14])– JA. Suvaṇṇakakkaṭa. Chuyện số 389.

trang trướctrang sau

Advertisements