Đọc Luận điểm (Kathāvatthu) – Phần II. Luận Kathāvatthu

II- Kathāvatthu (Luận điểm).

Đây là bộ thứ năm tronbg bảy bộ của Tạng Thắng pháp (Abhidhammapiṭaka), trong Mahābodhivaṃsa (Đại giác sử) gọi là tập thứ ba([1]). Đồng thời cũng là bộ được các nhà Học giả nghiên cứu về Phật giáo tranh cải sôi nổi nhất.

Bộ này gồm có 23 chương, nôi dung được sưu soạn của ít nhất là ba bộ: Bộ Pháp tụ (Dhammasaṅganī), bộ Phân tích (Vibhaṅga) và bộ Vị Trí (Paṭṭhāna), Bộ phái Theravāda chấp nhận là chính thống.

Theo Theravāda, bộ Kathāvatthu được Đức Phật thuyết trên cung trời Tāvatiṃsa (Ba mươi Ba) liên tục 13 ngày (tính theo nhân loại), có 7.100 Pháp uẩn (Dhammakkhandhā), chư Thiên chứng Thánh quả là 70 triệu vị.

Bộ này đề cập đến 216 luận điểm sai biệt với Chính thống của 18 tông phái lúc bấy giờ, những Luận điểm này liên hệ đến nhiều lĩnh vực như: “Quan niệm về Đức Phật”, “về các bậc Thánh”, “về Thánh đạo”, “về vũ trụ quan”… cùng với quan điểm của Theravāda về những vấn đề trên.

Đây là bộ Luận gồm những tư liệu quí giá về những quan điểm sai biêt của những bộ phái trong Phật giáo.

Trong Kathāvatthu có 1.000 bài kinh, theo Bản Sớ giải Pañcapakaraṇa –aṭṭhakathā của Ngài Buddhaghosa (Phật Âm), bộ Kathāvatthu có 500 bài kinh được chính Đức Phật tự thuyết trên cung trời Tāvatiṃsa, 500 bài kinh còn lại do Ngài Moggalliputta Tissa triển khai rộng từ 500 bài kinh trên.

Một số nhà Học giả nghiên cứu Phật giáo bác bỏ bộ Luận này, cho rằng: “Đây là tác phẩm của Ngài Moggalliputta Tissa biên soạn vào thời vua Dhammāsoka sau khi Đức Phật viên tịch được 218 năm và đây chỉ là tác phẩm của Đệ tử Phật”.

Nhưng các Bản Sớ giải, giải thích rằng: “Các Mātikā (Mẫu đề) được trình bày trong bộ này, chính là lời dạy của Đức Phật, tuy có 500 bài kinh do Ngài Moggalliputta Tissa triển khai, nhưng tất cả 500 bài kinh này đều xoay quanh các Pháp uẩn. Như Madhupiṇḍikasutta (kinh Mật Hoàn) do Ngài Mahākacāna triển khai rộng lời dạy của Đức Phật, “được xem là lời Phật dạy”.

Một số Học giả khác cho rằng: “Trong thời Đức Phật không có Kathāvatthu”, nên “năm trăm câu của chính Đức Phật thuyết trên cung Trời Tāvatiṃsa, chỉ là lời của Ngài Buddhaghosa”.

Theravāda phản bác rằng: “Trưởng lão ni Khemā được xem là “Kathāvatthu vasāradā” (thông đạt luận điểm). Như vậy Kathāvatthu được biết đến trong thời Đức Phật hiện tiền”.

Bản Sớ giải kinh Udāna (Cảm hứng ngữ), có tham khảo “Kathāvatthupakaraṇa- Ṭīkā về một số chi tiết([2]).

Bà Rhys David có dịch bộ Kathāvatthu sang Anh ngữ, với tựa đề là Points of Controversy (những điểm dị biệt)([3]).

Ghi nhận.

Trong Chánh tạng, bộ Kathāvatthu không ghi các Bộ phái, chỉ có câu vấn và câu đáp. Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) trong bảnPañcapakaraṇa – Aṭṭhakathā (Sớ giải năm bộ của Tạng Thắng pháp), phần Sớ giải Kathāvatthu có giải thích: Câu vấn (pucchā) là Sakavādī (Tự ngôn) hay của Paravādī (những người khác nói) được hiểu là “người phản đối”, còn câu đáp là của Paravādī hay của Sakavādī. .

Do vậy chúng tôi ghi với ký hiệu T (sakavādī) chỉ cho Theravāda, còn P (paravādī) là chỉ cho những bộ phái có quan điểm đối lập.

 

Phần II. Luận Kathāvatthu.

Chương I.

Chương I có tất cả là 10 luận điểm.

Luận điểm 1. Puggalakathā (Nhân ngữ).

Điểm tranh luận. Người được nhận thấy bằng chân thể hằng hữu.

Theo Bản Sớ giải Kathāvatthu: Đây là quan điểm của Bộ phái Vajjiputtaka (Độc tử bộ) và Bộ phái Sammittiya (Chánh lượng bộ – còn viết là Samitiyavāda).

Ngoài ra, còn có các bộ phái khác như Sabbatthivādī (Hữu bộ), Mahāsaṅghika (Đại chúng bộ) …, cùng với những người ngoài Phật giáo ủng hộ quan điểm này.

Gọi chung những người theo quan điểm này là Puggalavādī (nhân thuyết).

Và “Người” là chỉ cho Atta (ta), satta jīva (chúng sinh tồn tại)([4]).

Như có Pāli sau:

Tattha puggaloti attā, satto jīvo: “Ở đây, người là ta, chúng sinh tồn tại”.

Chú thích. Ở đây, Ngài Buddhaghosa giải thích ý nghĩa trên là theo quan điểm của Puggalavādī, không phải giải thích theo quan điểm của Theravāda.

A- Vajjiputtaka (Độc tử bộ).

Đây là nhóm Tỳ- khưu tách phái trước tiên, phối hợp với nhóm Tỳ- khưu Mahādeva thành lập phái Mahāsaṅghika.

Theo Giáo sư André Bareau, các tư liệu đều thống nhất: “Đây là bộ phái đầu tiên tách phái từ Chính thống.

Tuy nhiên, về sau các vị này rút vào vùng núi Tuyết để ẩn tu, mãi về sau mới được biết đến “là một học phái riêng” và cũng từ đó được gọi là Hemavatā (Tuyết Sơn trú bộ) (tiếng Saṅkrit là Haimavata).

Gọi là Vajjiputtaka (Saṅkrit là Vâsiputriya) do xuất phát từ tên riêng của vị Đạo sư là Vajjiputta (Vâsiputriya) người sáng lập ra bộ phái này([5]).

Theo kinh Viên Giác Văn Thù Sư Lợi (Manjusripariprcchâsutra), Vâsiputriya là một Luật sư (Vinayadhâra)([6]).

Theo Ngài Khuy Cơ, Ngài Vâsiputriya thuộc giai cấp Bà-la-môn([7]).

Theo Abhidhamma – Vibhasa (Thắng pháp – Tỳ-bà-sa), cho biết Ngài Vâsiputriya là đệ tử của Ngài Sāriputta([8])

Theo truyền thuyết Tích lan, bộ phái này được gọi là Vajjiputtaka, không phải là Vacchīputtaka như nhiều người nhầm lẫn ([9]).

Trong kinh điển Nam truyền có vị Trưởng lão là Vajjiputta người xứ Vajjii trong kinh thành Vesāli, ở Kūṭāgārasālā (về sau là Kūṭārāma nơi khởi lên 10 điều phi Luật đã nói ở trên), vị này mỗi tháng phải tụng hơn 150 Học giới 2 lần, nên đến bạch với Đức Phật rằng:

– Bạch Thế Tôn, hơn 150 học giới, nửa tháng một lần con phải tụng đọc, con không thể học nổi.

Đức Phật dạy “hãy học ba học pháp là: Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học và tăng thượng tuệ học”.

Ngài vâng lời, thời gian sau trở thành vị Thánh A-La-Hán([10]).

Nhưng Tổ sư của Bộ phái Vajjiputtaka có phải là Ngài Vajjiputta này chăng?

Theo Ngài Thitañāna (người Thái Lan), Bộ phái này chủ trương tôn sùng ba vị Trưởng lão là: Sāriputta, Rāhula và Mahā Kaccāna, xem như là Tổ sư của bộ phái mình, tuy họ vẫn tôn sùng Đức Thế Tôn là Tối thượng sư của mình.

Bộ phái này rất chú trọng đến Abhidhammapiṭaka (Tạng Thắng pháp), nhưng cho Tạng này là Thinh văn ngôn (Sāvakabhāsita), vì do Ngài Sāriputta (Xá-Lợi-Phất) thuyết và gọi Tạng này là Sāriputtābhidhamma (Thắng pháp của Ngài Xá-lợi-phất).

Điều này không phải không có cơ sở. Vì rằng: Tạng Thắng pháp (Anhidhammapiṭaka) có ba cách thuyết:

– Thuyết rộng đầy đủ các chi tiết.

– Thuyết tóm gọn.

– Thuyết trung bình vừa đủ.

* Thuyết rộng đầy đủ các chi tiết. Do Đức Thế Tôn thuyết nơi cung trời Tāvatiṃsa (Ba mươi ba) trọn ba tháng (tính theo nhân loại).

* Thuyết tóm gọn. Do Đức Thế Tôn thuyết cho Ngài Sāriputta (Xá-Lợi-Phất) ở chân thành Saṅkassa, rồi dạy Ngài Xá-Lợi-Phất mang pháp môn này dạy cho 500 vị Tân Tỳ-khưu vừa xuất gia thọ Đại giới trong Giáo pháp này (vào cuối mùa an cư thứ sáu của Đức Thế Tôn).

* Thuyết vừa đủ. Do Ngài Xá-Lợi-Phất thuyết đến 500 vị Tân Tỳ-khưu vừa xuất gia.

Bộ phái Vajjiputtaka (Độc tử bộ) đã cực thịnh suốt thời gian dài tại Ấn độ, bắt nguồn từ xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) rồi tràn ngập xuống vùng Tây Ấn, Nam Ấn.

Bộ phái này chấp nhận một bản ngã (Atman) thường hằng, nên bị các bộ phái khác công kích kịch liệt([11]).

Bộ phái Vajjiputtaka cho rằngngười được nhận thấy có một chân ngã (paramatta)”, người (puggala) ở đây không phải là 5 uẩn, 12 xứ hay 18 giới, mà đó là một thực thể vĩnh hằng, thường trụ, tiềm ẩn trong mỗi chúng sinh.

Chính vì nó mà chúng sinh luân hồi sinh tử, tạo ác hành thiện, hưởng vui chịu khổ.

Để bảo vệ luận điểm này, bộ phái Vajjiputtaka đã trích dẫn một số Phật ngôn để biện minh:

– Atthi puggalo attahitāya paṭipanno([12]).

“Có người thực hành vì tự lợi”.

(Ở đây, Vajjiputtaka hiểu Atta theo ý nghĩa là “bản ngã”).

– Ekapuggalo, bhikkhave, loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ.

Này các Tỳ- khưu, một con người duy nhất xuất hiện trên đời, sau khi xuất hiện mang lại hạnh phúc cho phần đông chư thiên và nhân loại”([13]).

– Sa sattakkhattuṃparamaṃ, sandhāvitvāna puggalo;

Dukkhassantakaro hoti, sabbasaṃyojanakkhayā’’

Người ấy phải luân chuyển, tối đa là 7 lần,

Là vị đoạn tận khổ, đoạn diệt mọi kiết sử” (HT. TMC d)([14]).

“Này các Tỳ- khưu, đối với sự luân hồi của các chúng sinh bị vô minh che khuất, bị ái dục trói buộc. Quả thật không thể nói lên khởi điểm và chung điểm của nó được”.

Nói chung, Bộ phái Vajjiputtaka dựa vào những Phật ngôn tương tự như trên và dựa vào những danh từ Puggala, Atta… có trong Kinh điển để củng cố quan điểm “có bản ngã thường hằng” của mình([15]).

Ở góc độ nào đó, đây chính là tư tưởng của Giáo hệ Bà-la-môn, Bộ phái Vajjiputtaka đã khéo vận dụng từ ngữ trong Phật giáo để bảo vệ “quan điểm Đại ngã và Atman” của Bà-la-môn giáo.

B- Samitiyavāda (Chính lượng bộ).

Theo Gs. André Bareau. Tất cả các tư liệu xưa đều đồng ý Samitiya (Chánh lượng bộ) là một trong bốn nhánh tách ra từ Vajjiputtaka (Độc tử bộ), theo tư liệu Tích Lan là bộ phái thứ tư, theo tư liệu Tây- bắc Ấn là bộ phái thứ ba.

Bộ phái này ra đời vào thế kỷ thứ 3 sau khi Đức Phật viên tịch (tức giữa thế kỷ thứ 2 tTl), vì không tìm thấy một dấu tích chắc chắn nào về sự có mặt của bộ phái này trước thế kỷ thứ 2 tTl.

Tuy nhiên, theo Abhidhamma-Vibhasa ghi nhận (Thắng pháp – Tỳ-bà-sa)([16]): “Sự tách phái này khởi lên từ cuộc biện luận Tạng Luận trong nội bộ của Vajjiputtaka (Độc tử bộ)”.

Và nếu như vậy thì bộ phái này phải ra đời khoảng giữa thế kỷ thứ nhất tTL hay thế kỷ thứ 2 sTl.

Theo các nhà ngữ học, danh xưng của bộ phái này là:

– “Những người sống trong hòa hợp” hay “ những người được tôn trọng (sammatīya)”.

“Những người được qui tụ trong bình đẳng (samatīya)”.

“Những người có chừng mực (lượng), đúng đắn (chính) và hòa hợp”.

Nên được gọi là “ Samitiya – Chánh lượng bộ”.

Theo Khuy Cơ giải thích rằng “chữ Attha (artha) của Giáo pháp rất thâm diệu, mà trong Học phái này cho rằng”đúng đắn, không sai lầm, được tôn quí”, nên người ta gọi phái này là Samitiyavāda hay Sammatiya([17]).

Chỉ có 2 ghi chép lịch sử của hai địa phương, xác nhận sự có mặt của Chánh lượng bộ đó là: Ở Mathurâ của thế kỷ thứ 2 sTl([18]) và ở Sârmâth vào thế kỷ thứ 4 sTl

Đến đầu thế kỷ thứ 7 sTl, uy thế của Samitiya (Chính lượng bộ) đã thực sự quan trọng, đến nổi Thầy Huyền Trang, Thầy Nghĩa Tịnh và Vinītadeva đều xem “đây là học phái ưu thế nhất của Độc tử bộ”([19]).

Theo Trưởng lão Thitañāṇa, vào thế kỷ thứ 7 sTl, uy thế của Chính lượng bộ át cả Độc tử bộ, khiến người ta phải gọi là bộ phái Samitiyavajjiputta.Phái Samitiya cũng chiếm được sự sùng mộ đặc biệt của vua chúa, như Vương đệ của vua Silāditya hay còn gọi là vuaHashavaddhana rất hâm mộ bộ phái này ([20]).

Thầy Huyền Trang có ghi nhận rằng: “Chỉ tại Malaya (một vùng núi ở miền Nam Ấn độ) đã có đến 20 ngàn Tăng sĩ thuộc Chính lượng bộ, đó là chưa kể đến số tăng chúng của Bộ phái này tràn ngập khắp miền Đông Ấn”.

  1. Luận điểm 1. Quan điểm có chân ngã (hay linh hồn).

Luận cứ 1. Không lẫn lộn sự thật cao tột (Suddhasaccikaṭṭho).

Thuận tùng đối nghịch (anulomapaccanīkaṃ).

  1. Chánh kinh.

T (Sakavādī). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭha([21])paramatthenāti?

Người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?

P (Paravādī). Āmantā. Phải rồi.

  1. T. Yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

“Sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không? .

P– Na hevaṃ vattabbe. “Không nên nói như thế”.

(T). Ājānāhi niggahaṃ([22]). Ngài hãy nhận biết sự mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận (hañci)([23]) “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, thì phải chấp nhận (tena vata re vattabbe) “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu (yaṃ tattha vadesi) chấp nhận “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, lại không nhận không bác (no ca vattabbe)([24])sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm (micchā).

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, lại không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

Thuận tùng năm chi (anulomapañcakaṃ).

 

Giải.

Gọi là “thuận tùng đối nghịch”, là nêu lên quan điểm của người (anuloma – thuận tùng) rồi hỏi ngược lại (paccanīka – đối nghịch) .

Được nhận thấy (upalabbhati), có nghĩa là “đã đến gần, nhận được” (upagantvā labbhati)”.

Người được nhận thấy là bao gồm hai pháp: “người”“được nhận thấy”

Chân thể tuyệt đối (paramattha), là vật ([25] )cao tột, không thể thay đổi thành vật khác.

Paramattha là chỉ cho bốn pháp: Tâm (citta), tâm sở (cetasika), sắc pháp (rūpa) và Nípbàn (Nibbāna). Paramattha ở đây là bổ túc từ cho saccikaṭṭha.

Không nên nói như thế (na hevaṃ vattabbe). Là cách nói “ngầm chấp nhận đồng thời ngầm phủ nhận”.

(P) cho rằng “người (atta) là một chân thể (kaṭtha) không thay đổi thành khác (paramattha), là một sự thật (sacca), không phải là ảo giác hay là một khái niệm hoặc những gì có ý nghĩa tương tự.

“Người được nhận thấy”, (T) nêu ra vấn đề: có phải người (atta) được khám phá theo cách khách quan (parato) phải không?.

Nghĩa là: “atta” bị pháp “nhận thấy” biết được phải không? “Atta” này có thể tiếp cận được phải không?.

Atta này được nhận thấy, vậy được nhận thấy ở đâu? Được nhận thấy khi nào?

atta này là một “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” (saccikaṭṭhaparama) phải không?.

(P) đáp. Phải rồi. Đây là sự “khẳng định”.

Vì sao (P) lại khẳng định?

(P) dựa vào câu Phật ngôn do chính Đức Thế Tôn thuyết:

Atthi puggalo attahitāya paṭipanno.

“Có người thực hành vì tự lợi”.

Lời dạy của Đức Thế Tôn là chân thật, luôn phù hợp, không mâu thuẫn với nhau.

Đức Thế Tôn giảng pháp không do niềm tin, không do từ truyền thuyết nào hay một điều gì tương tự như vậy, Ngài giảng pháp với chính Toàn giác trí của Ngài.

Và (P) cho rằng: “Đức Thế Tôn chấp nhận có bản ngã (atta) không hề thay đổi”, nên (P) khẳng định “phải rồi”.

(T) đặt vấn đề ngược lại: “Sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

Ở đây, sắc (rūpa) là một “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, vì sắc không thay đổi thành khác, “sắc” không thể trở thành danh pháp.

Thọ (vedanā) là một “sự thật cao tột”, không thể thay đổi thành khác, “thọ” không thể trở thành “sắc” hay trở thành “tưởng” hay trở thành “hành” hay trở thành “thức”.

Tương tự như vậy với 12 xứ, 18 giới, 22 quyền (tổng cộng là 57 pháp). Năm mươi bảy pháp này “nhận thấy được”, được khám phá từ bên ngoài của chúng và 57 pháp này là “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

.Nhưng “sắc “không phải là “người”, “thọ” không phải là “người” …

Cho dù một lý do nào đó: “Có duyên hay không có duyên (sappaccayo appaccayo), có tác động hay không có tác động (saṅkhato asaṅkhato), tồn tại hay không tồn tại (sassato, asassato), có hình tướng hay không hình tướng (sanimitto animitto)”, thì 57 pháp trên là những pháp có thật, được nhận thấy (saccikaṭṭha), không phải do quan niêm chung (na sammuti), chúng có thực tính pháp (sabhāvadhamma), và chúng không thể trở thành khác được.

(T) đặt vấn đề: “Liệu atta (hay puggala) có được khám phá từ bên ngoài (parato) của chúng như các sự thật khác là sắc, thọ … hay không?.

Atta có duyên sinh lên, rồi diệt đi (sappaccaya bhedena) như sắc, thọ … hay không có duyên sinh lên, rồi diệt đi?

(T) phân tích quan điểm của (P) thành 2 vế:

– Câu mở: Sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

– Câu hỏi: “Đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P) đáp “không nên nói như thế”. Nghĩa là “nói như thế không được, phải nói như thế này… như thế này”.

“Không nên nói như thế” là cách nói “không chấp nhận cũng không bác bỏ”.

(P) không thể chấp nhận, vì “bản ngã (atta)” mà (P) chấp nhận vượt lên những đặc tính ấy, ngầm ý của (P) là “không nên hiểu atta như thế”. Ý của (P) muốn nói rằng: “Bản ngã” này có khi được khám phá, có khi không được khám phá; cho dù có “ được khám phá hay “không được khám phá”, “bản ngã” này vẫn có và không thay đổi thành khác.

(P) không thể chấp nhận “bản ngã này” có nhân duyên sinh khởi, vì đã có nhân duyên sinh khởi thì tất phải đi đến hoại diệt. Như vậy ý nghĩa “chân thể thường hằng, bất biến” bị sụp đổ.

Theo câu hỏi “sự thật cao tột … là người được nhận thấy … phải không?”.

(P) không thể đáp “phải rồi”, vì “quả núi” là sắc pháp, là “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “quả núi” không phải là người. Tương tự như vậy với “dòng sông, cây, cỏ, khu rừng …” (nói chung những gì thuộc về sắc pháp); hoặc thọ … thức không phải là người.

(P) cũng không thể phủ nhận “bản ngã này” không có nhân duyên sinh khởi. Vì atta này không có nhân duyên sinh khởi thì atta đồng nghĩa là Nibbāna (Níp-bàn).

Níp-bàn không tái sinh, trái lại atta còn tái sinh; như vậy rõ ràng atta không phải là Níp-bàn.

(P) không thể đáp “không phải”, vì như vậy (P) chấp nhận “người không phải là “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, thì “người” của (P) quan niệm chỉ là ảo tưởng, khái niệm mà thôi.

Lại nữa, (P) đáp “không phải”, là tự mâu thuẩn với điều (P) đã khẳng định “phải rồi” ở trên.

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế)”, để tranh thủ cơ hội nói lên quan điểm của mình.

“Ngài hãy nhận thức” (ajānāhi). Là lời kêu gọi, đồng thời cũng là lời cảnh báo ngầm khiển trách.

Mâu thuẩn (niggaha)” . Nghĩa là: “Điều trước không liên quan đến điều sau; điều sau không liên quan đến điều trước”.

Để ngăn chận không cho (P) nêu ra quan điểm sai lệch, (T) khiển trách (P): “Ngài chấp nhận điều trước, Ngài không nhận cũng không bác bỏ điều sau”.Và (T) kết luận: “Ngài đã phạm sai lầm”. Nghĩa là (P) sai lầm trong lý luận.

(T) lập lại sự sai lầm của (P) bằng lập luận “không nhận không bác điều sau, cũng phải không nhận không bác điều trước”.

(T) nêu ra sự sai lầm của (P) hai lần, là ngầm ý “khẳng định (P) sai lầm”.

Sai lầm ở đây là sai lầm về lập luậnsai lầm về chân pháp.

*Sai lầm về lập luận. Là chấp nhận điều trước, không nhận không bác điều sau; không nhận không bác điều sau lại chấp nhận điều trước.

Không nhận không bác điều sau cho thấy “điều trước chưa hẵn hoàn toàn đúng”.

*Sai lầm về chân pháp. Do atta không được xác định rõ ràng: “Sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối nào” là người, “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối nào” không phải là người. Từ điểm này dẫn đến nghi hoặc “phải chăng “ quan điểm của (P) chỉ là khái niệm, hay chỉ là giả thuyết”.

Gọi là thuận tùng năm chi (anulomapañcaka).

Là (T) nương vào quan điểm của (P) phân tích thành năm phần: Câu mở, câu hỏi, mâu thuẩn (hai chi) và khiển trách (sai lầm).

Thuận tùng đối nghịch (anulomapaccanīka).

  1. Theo Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? “Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

“Sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không? .

(T). Na hevaṃ vattabbe. “Không nên nói như vậy”.

(P). Ājānāhi paṭikamma([26]). Ngài hãy nhận biết ngược lại.

Ngài chấp nhận “Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, lại không nhận không bác sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm của Ngài.

Ngài không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Ngài chấp nhận “Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối’, là sai lầm của Ngài.

Phản đối bốn chi (paṭikammacatu.kkaṃ).

 

Giải.

(P) hỏi (T). Có phải ““Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ” phải không? . Gọi là “thuận tùng”, là theo quan điểm của (T).

Đồng thời có nghĩa là: “Ngài không đồng ý với quan điểm của chúng tôi phải không?”. Và (T) xác nhận “phải rồi”.

Khi (P) hỏi sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?. Gọi là “đối nghịch (paṭikamma)”, tức là “hỏi ngược lại”.

Hợp cả hai vế gọi là “thuận tùng đối nghịch”.

Khi (P) hỏi “người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không. (T) đáp khẳng định “phải rồi”.

Tuy người có những pháp paramattha (thực tại tuyệt đối), như sắc, thọ, tưởng… Tuy những pháp này là “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, nhưng chúng không tồn tại vĩnh viễn, chúng sinh diệt và thay đổi liên tục. Như trường hợp chúng sinh tử ở cõi Dục sinh về cõi Vô tưởng thì thọ, tưởng, hành và thức không sinh khởi nơi cõi Vô tưởng. Hoặc chúng sinh tử ở cõi Dục hoặc cõi Sắc sinh về cõi Vô sắc thì sắc uẩn không sinh khởi nơi cõi Vô sắc.

Ý của (P) muốn (T) thừa nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối (thường hằng)”.

Biết được ý của (P), nên (T) bác bỏ với lời đáp khẳng định “phải rồi”. Nghĩa là “không hề có một chân ngã thường hằng bất biến”.

Không được nhận thấy (nupalabbhati). Bản Sớ giải giải thích:

So hi “atthi puggalo attahitāya paṭipanno”ti gahitattā ‘‘nupalabbhatī’’ti.

“Người cố chấp, “thực hành vì lợi ích chính mình”, gọi là nupalabbhati (không được nhận thấy)”.

Gọi là “cố chấp” do có niềm tin sai lệch, bám lấy quan niệm chung (sammuti), thực hành không đúng pháp, như có người thực hành lễ tế đàn (có sát sinh) hay “thực hành khổ hạnh” vì “lợi ích cho chính mình”.

Theo “sự thật thế tục” là đúng, là tốt; nhưng theo “sự thật thực tính pháp” là thực hành phi pháp, thực hành sai lệch (micchā).

Lại nữa, “người thực hành vì lợi ích cho chính mình”, người ấy có hiểu được điều mình đang thực hành sẽ có kết quả như thế nào không?

Sự hiểu này không phải là sự hiểu thường tình, như hiểu về tài sản, hiểu về Dục giới, Sắc giới …, sự hiểu này phải là “sự hiểu về thực tính pháp”, nghĩa là: “Cách thực hành này có rơi vào tà kiến hay không? Có dẫn đến giải thoát khỏi khổ luân hồi không?…”.

Vì không hiểu biết, nên được gọi là “không được nhận thấy (nupalabbhati)”.

Lại nữa, “không được nhận thấy”, là không nhận được kết quả theo mong cầu, theo đúng nguyện vọng; vì thực hành không đúng pháp.

Do vậy, (T) khẳng định “phải rồi”.

Theo mô thức của (T), (P) hỏi sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?.

Ở đây,“sự thật cao tột (saccikaṭṭho) bao gồm: Sự thật thế tục (sammutisacca) và sự thật thực tính tuyệt đối (paramatthasaccāni).

Ngoài ra “sự thật cao tột” là chỉ cho “sự thật cao quý (ariyasacca)”, đpó là “sự thật về khổ, sự thật về nguyên nhân sinh khổ, sự thật về sự diệt khổ, và sự thật về con đường diệt khổ”.

“Sự thật thực tính” lẫn “sự thật cao quý” đều không đề cập đến “người”.

Nhưng (P) gom tất cả thành một, (T) phân tích “sự thật cao tột” theo ba lãnh vực.

Và như thế “người (puggalo)” cũng được phân làm hai là:

Người do bám lấy định danh (upādāpaññatti)([27]) và người theo thực tính (sabhāva)([28]).

(T) không thể đáp “phải rồi”, vì “người” theo thực tính pháp là chỉ cho tập hợp của 5 uẩn, hay 12 xứ, hoặc 18 giới hoặc 22 quyền. Năm mươi bảy pháp này là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối. Năm uẩn, 12 xứ, 18 giới, 22 quyền “không phải là người”, điều này là phi lý.

(Mặt khác, trong thời điểm chỉnh lý để Kết tập Phật ngôn lần III, nếu (T) đáp: “Phải rồi”, sẽ bi phản bác rằng: “Vậy, không có người Sơ Đạo, Nhị Đạo … người Bất lai quả, người A-La-Hán quả sao? (vì đó là người theo thực tính pháp).

Hay (P) vặn hỏi (T) rằng: “Có phải Bậc Sơ quả vĩnh viễn không còn rơi vào 4 khổ cảnh? Vĩnh viễn không rơi vào 4 khổ cảnh không phải là một “sự thật cao tột” sao? – Ns).

(T) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế tự mâu thuẩn với điều được khẳng định “phải rồi” ở trên.

Do vậy, (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”, để tranh thủ nêu lên quan điểm của mình.

Nhưng (P) ngăn chận, với lập luận (T) đã tự mâu thuẩn.

(P) kết luận 2 lần “Về điểm này Ngài đã sai lầm”. Là sự khẳng định của (P).

Cách lập luận (T) sai lầm, chỉ là sai lầm về cách nói, như trình bày trước đó.

(P) thuận theo (T) khi nêu ra câu hỏi “người không được nhận thấy …”.

Gọi là “phản đối bốn chi”. Là (P) nêu câu hỏi, hai lần khiển trách (T) mâu thuẩn và kết luận (T) sai lầm.

  1. Chánh kinh.

(P). Tvaṃ ce pana maññasi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’ti.

Ngài vẫn giữ lập trường “chấp nhận – “Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Tena tava tattha hetāya paṭiññāya hevaṃ paṭijānantaṃ hevaṃ niggahetabbe:

“Do nhân này, Ngài tự cho phép, tự đồng ý cho chúng tôi sai lầm”.

Atha taṃ niggaṇhāma. Suniggahito ca hosi:

“Ở đây, chính Ngài đã sai lầm. Và thật sự khéo sai lầm”.

Hañci puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài thừa nhận “người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ngài đã phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ” , không chấp nhận, không bác bỏ “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti idaṃ te micchā.

Ngài đã phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, không chấp nhận, không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, điều này Ngài sai lầm.

Mâu thuẩn bốn chi (niggahacatukkaṃ).

 

Giải.

Tiếp theo, (P) nêu ra: Điều (T) khẳng định (P) “sai lầm”.

Sự khẳng định này không hợp lý, đó chỉ là sự chủ quan của (T), nghĩa là (T) tự cho phép và tự đồng ý (P) sai lầm.

(P) cho rằng: “Thật ra, chính (T) đã sai lầm và sự sai lầm này rất khéo”, do (T) áp đặt cho (P)”.

Hàm ý (P) nói rằng: “Ngài chỉ trích chúng tôi sai lầm, nhưng chính Ngài đã phạm vào điều sai lầm mà Ngài đã áp đặt cho chúng tôi”.

  1. Chánh kinh.

(P). Ese ce dunniggahite hevamevaṃ tatthadakkha: Nếu Ngài cho chúng tôi “mâu thuẩn tệ hại dunniggahite)”, hãy nhìn kỹ vào vấn đề.

Vattabbe kho – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’’ no ca vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

(Vì) chấp nhận “Người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

No ca mayaṃ tayā tattha hetāya paṭiññāya hevaṃ paṭijānantā hevaṃ niggahetabbā. Atha maṃ niggaṇhāsi. Dunniggahitā homa.

Do nhân này, Ngài từ khước điều hợp lý (paṭiññāya)([29]), thậm chí tự cho phép, tự đồng ý cho chúng tôi nhiều mâu thuẩn, như vậy cho thấy Ngài không nắm bắt. Mâu thuẩn tệ hại ấy chỉ là ảo giác([30]).

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài (cho rằng) chấp nhận“người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti idaṃ te micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, điều này Ngài sai lầm.

Dẫn nhập bốn chi (upanayanacatukkaṃ).

Giải.

Sai lầm tệ hại (dunniggahite). Nghĩa là: “Lời tuyên bố của tôi (chỉ cho P) đã bị Ngài (chỉ cho T) kiên quyết bác bỏ” hay “ Ngài (chỉ cho T) đã kiên quyết bác bỏ luận điểm của chúng tôi”.

Hãy nhìn kỹ vào vấn đề (tattha dakkha) . Là “hãy xem xét lại điểm này xem sao”. Nghĩa là: “ (T) kiên quyết bác bỏ luận điểm của (P), điều ấy có chính đáng không?”.

Luận điển của (P) có đáng kiên quyết bị bác bỏ như (T) đã tuyên bố không?.

Không nắm bắt (niggaṇhā). Nghĩa là “không nhìn thấy”.

(P) lập luận:

(P) không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối đó là người được nhận thấy …” là ngầm chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột chân thể tuyệt đối”.

Mặt khác, khi chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột chân thể tuyệt đối”, đồng thời chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối đó là người được nhận thấy”, là sai lầm.

Chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột chân thể tuyệt đối”, lại bác bỏ “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối đó là người được nhận thấy …”, lại là một sai lầm khác.

Đây là câu hỏi hai chiều (ubho), như vậy, dù (P) có chấp nhận hay bác bỏ câu hỏi “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối đó là người được nhận thấy …?”, cũng đều sai lầm.

Do vậy, (P) chọn cách đáp lấp lửng “không nên nói thế”, để tranh thủ trình bày quan điểm của mình.

Ngầm ý của (P) nói rằng : “Chúng tôi đã phá vỡ “bẩy ngôn ngữ” do Ngài giương ra”.

Và Ngài (chỉ cho T) nhanh trí kiên quyết bác bỏ lập luận của chúng tôi. Ngài tự ý cho chúng tôi mâu thuẩn nghiêm trọng.

Nhưng chính Ngài (chỉ cho T) mới là sai lầm khi bắt bẻ chúng tôi, cho rằng khi chúng tôi nói: “chấp nhận “người được nhận thấy …”, cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người …”. Do vì Ngài (chỉ cho T) không nắm bắt ý nghĩa “không nên nói như thế”, hàm ý lời này là “có phần chấp nhận, có phần bác bỏ”.

Và (P) lập lại cách lập luận của (T) để nhấn mạnh, cho thấy (T) thật sự sai lầm, khi cho (P) đã sai lầm.

  1. Chánh kinh.

(P). Na hevaṃ niggahetabbe. Không, không mâu thuẩn nặng như vậy.

Tena hi yaṃ niggaṇhāsi. Luận điểm của chúng tôi không mâu thuẩn.

‘‘Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’ti.

Ngài cho rằng “chấp nhận “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, no ca vattabbe – yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác – sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác bỏ “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti idaṃ te micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, nhưng không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, đó là Ngài sai lầm.

Tena hi ye kate niggahe. Thế nên, Ngài cho chúng tôi thực hành mâu thuẩn.

Niggahe dukkate. Thực hành mâu thuẩn tệ hại.

Sukate paṭikamme. Ngược lại, là khéo thực hành.

Sukatā paṭipādanāti. Là thực hành đúng cách.

Không chấp nhận bốn chi (niggamanacatukkaṃ).

Mâu thuẩn phần thứ nhất (paṭhamo niggaho).

Không nhầm lẫn sự thật cao tột (suddhasaccikaṭṭho).

 

Giải.

Không, không mâu thuẩn nặng như vậy (na hevaṃ niggahetabbe). Nghĩa là: “Không nên hiểu theo cách như thế”.

(P) cho rằng: Ngay trong mệnh đề “người được nhận thấy ….” đã ngầm có mệnh đề “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy …”.

(P) cho rằng: Đã chấp nhận “người được nhận thấy …” , nếu chấp nhận hay bác bỏ “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối đó là người được nhận thấy …”. Hai trường hợp này, đều rơi vào sai lầm.

Do vậy, (P) không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy ….”

Và (P) khẳng định (P) không mâu thuẩn.

 

Luận cứ 2. Phản đối thuận tùng (paccanīkānulomaṃ).

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

“Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không? .

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận biết mâu thuẩn.

Hañci puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, cũng phải chấp nhận sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, không nhận không bác sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

Đối nghịch năm chi (paccanīkapañcakaṃ).

 

Giải.

(P) Lập lại ý kiến của (T), để xác định (T) có thay đổi ý kiến không? Nhưng (T) vẫn giữ vững lập trường. Và (P) lại tái lập luận cứ “cho rằng (T) đã sai lầm”.

(T) giữ vững lập trường, hàm ý “lập luận của (P) là sai lạc, và đơn điệu một chiều”.

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không? .

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận biết phản đối.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

Phản đối bốn chi (paṭikammacatukka).

Giải.

Ở đây (T) tái lập luận, để khẳng định (P) đã sai lầm.

  1. Chánh kinh.

(T). Tvaṃ ce pana maññasi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’ti.

Ngài vẫn giữ lập trường “chấp nhận – Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, không nhận không bác sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Tena tava tattha hetāya paṭiññāya hevaṃ paṭijānantaṃ hevaṃ niggahetabbe:

“Do nhân này, Ngài tự cho phép, tự đồng ý cho chúng tôi nhiều mâu thuẩn”.

Atha taṃ niggaṇhāma. Suniggahito ca hosi:

“Ở đây, chính Ngài đã không nắm bắt. Và thật sự khéo sai lầm”.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ” cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ngài đã phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ” , không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không, không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti idaṃ te micchā.

Ở đây, Ngài đã phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người được thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, điều này Ngài sai lầm.

Giải.

(T) lập luận theo mô thức của (P) để chống trả, gọi là paṭikamma (phản đối), đồng thời khẳng định “(P) cũng đã tự mâu thuẩn”…

  1. Chánh kinh.

(T). Ese ce dunniggahite hevamevaṃ tattha dakkha.

Nếu Ngài cho chúng tôi mâu thuẩn tệ hại, hãy nhìn kỹ vào vấn đề.

Vattabbe kho – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’’ no ca vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

(Vì) chấp nhận “Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

No ca mayaṃ tayā tattha hetāya paṭiññāya hevaṃ paṭijānantā hevaṃ niggahetabbā. Atha maṃ niggaṇhāsi. Dunniggahitā ca homa.

Do nhân này, Ngài chống lại điều hợp lý, thậm chí tự cho phép, tự đồng ý cho chúng tôi nhiều mâu thuẩn, như vậy cho thấy Ngài không nắm bắt. Mâu thuẩn tệ hại ấy chỉ là ảo giác.

Hañci puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài (cho rằng) chấp nhận “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti idaṃ te micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, điều này Ngài sai lầm.

Dẫn nhập bốn chi (upayanacatukkaṃ).

 

Giải.

(T) theo cách lập luận của (P), phản kháng lại (P). và kết luận:

“Điều (P) cho rằng: “chấp nhận “người không được nhận thấy …”, cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy …”, chỉ là ý kiến riêng của (P) và chính (P) đã sai lầm”.

10- Chánh kinh.

(T). Na hevaṃ niggahetabbe. Tena hi yaṃ niggaṇhāsi

Không, không mâu thuẩn nhiều như vậy. Luận điểm của chúng tôi không mâu thuẩn.

Hañci puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’ti.

Ngài (cho rằng) chấp nhận “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” cũng phải chấp nhận “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘yo saccikaṭṭho paramattho, tato so puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti idaṃ te micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, đó là người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, điều này Ngài sai lầm.

Tena hi ye kate niggahe se niggahe dukkaṭe.

Thế nên, Ngài cho chúng tôi thực hành mâu thuẩn, mâu thuẩn tệ hại.

Sukate paṭikamme. Sukatā paṭipādanāti.

Ngược lại, khéo thực hành. Là thực hành đúng cách.

Mâu thuẩn bốn chi (niggamanacatukkaṃ).

Mâu thuẩn thứ ha (dutiyo niggaho).

 

Giải.

Đoạn 9 và 10, (T) lý luận tương tự như (P), để chỉ ra rằng: “Ngài (chỉ cho P) đã lập luận như thế”, chúng tôi cũng lập luận như thế thì Ngài nghĩ sao?

(T) lập luận giống như (P) để có cơ hội vặn hỏi (P) theo đúng chân pháp, nhân đó để chỉ ra những sai lầm của (P).

 

Luận cứ 2 (tt). Sự thật cao tột ở mọi nơi (okāsasaccikaṭṭho).

Thuận tùng đối nghịch (anulomapaccanīkaṃ).

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”phải không?

(P). Āmamntā. Phải rồi.

(T). Sabbattha puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

(T). “Ở khắp nơi, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?.

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘sabbattha puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, cũng phải chấp nhận “ở khắp nơi, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbattha puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đố ”, không nhận không bác “ở khắp nơi, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘sabbattha puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “ở khắp nơi, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” (5), cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbattha puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đố ”, không nhận không bác “ở khắp nơi, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm … pe …

Mâu thuẩn thứ ba (tatiyo niggahaṃ).

 

Giải.

Bản Sớ giải giải thích: Sabbatthāti sarīraṃ sandhāya:

“Ở khắp nơi” là “liên hệ đến thân thể ”.

(T) hỏi: “Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, có phải ở khắp nơi trong thân thể chăng?

(P) không thể đáp “phải rồi”, vì (P) cho rằng atta (người) “khác với sự sống (aññaṃ jīvaṃ)”, “ khác với thân xác (aññaṃ sarīraṃ)”.

Sự sống (jīva) hay thân xác (sarīra) bị thay đổi, còn atta (người) thì bất biến.

Lại nữa, nếu atta ở trong sắc, thì rõ ràng “trong sắc có ta”, trái với Phật ngôn, là rơi vào thân kiến (sakkāyadiṭṭhi); tương tự như thế với thọ, tưởng, hành và thức.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, tức là cho atta có chỗ trú, nhưng cụ thể atta trú nơi nào? Trong hay ngoài thân? Vì atta là “sự thật cao tộ, chân thể tuyệt đối”(saccikaṭṭha paramatthena) được nhận thấy (upalabbhati).

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

 

Luận cứ 3. Sự thật cao tột ở mọi thời (kālasaccikaṭṭho).

Thuận tùng đối nghịch (anulomapaccanīkaṃ).

12- Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ” phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Sabbattha puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Ở mọi thời, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘sabbadā puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, cũng phải chấp nhận “ mọi thời, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbadā puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, không nhận không bác “ mọi thời, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘sabbadā puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “ mọi thời, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbadā puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” ”, không nhận không bác “ mọi thời, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm …pe…

Mâu thuẩn thứ tư (catuttho niggaho).

 

Giải.

Bản Sớ giải giải thích.

Sabbadāti” purimapacchimajātikālañca dharamānaparinibbutakālañca sandhāya:

Ở mọi thời là liên hệ đến quá khứ, kiếp sống sau cùng, kéo dài đến thời viên tịch.

(T) hỏi: “Chân thể tuyệt đối” (paramattha), có phải ở khắp mọi thời điểm chăng?

(P) nhận ra rằng: “Sẽ sai lầm khi đáp phải rồi”, vì:

– Theo quan điểm của (P): “người (atta) là chân thể bất biến”, nhưng hiện tại là Sát- đế-lỵ, kiếp sau có thể là Bà-la-môn …

Hiện tại là người, kiếp sau có thể là chư Thiên, là súc sinh … Và như vậy, không thể “bất biến” được, bởi danh sắc đã khác biệt.

– Lại nữa, vào lúc lâm chung, có khi mê sảng, có khi tỉnh táo, như thế “chân thể này” không thể “bất biến”.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì như vậy “chân thể bất biến” này được nhận thấy vào thời nào? Quá khứ, hiện tại, vị lai hay vào thời điểm sắp viên tịch?.

Lại nữa, “chân thể bất biến” này không có ở mọi thời, nghĩa là “chân thể” này, có thời, có thời không có , như vậy “chân thể” này không là “thường hằng”.

Nên (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

 

Luận cứ 4. Sự thật cao tột từng phần (avayavasaccikaṭṭho).

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ” phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Sabbesu puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Ở tất cả, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘sabbesu puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “ tất cả, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbesu puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ tất cả, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘sabbesu puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “ tất cả, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbesu puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ tất cả, người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm ..pe…

Mâu thuẩn thứ năm (pañcamo niggaho).

 

Giải.

Bản Sớ giải giải thích: “Sabbesūti” khandhāyatanādīni sandhāya

Tất cả là liên hệ đến uẩnxứ theo từng phần.

Khi (T) hỏi (P) “chân thể tuyệt đối” có liên quan đến uẩn hay xứ không? Liên quan từng phần hay liên quan tất cả?

(P) không thể đáp “phải rồi” vì sợ mắc phải sai lầm là: “Trong sắc có ta (atta)”, “trong nhãn thức có ta (atta)” …

(P) cũng không thể đáp “không phải” vì sẽ không thể nhận thấy “chân thể bất biến” ở đâu cả.

Nên (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

 

Sự thật cao tột ở mọi nơi (okāsasaccikaṭṭho).

Đối nghịch thuận tùng (paccanīkānulomaṃ).

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Sabbattha puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Ở mọi nơi, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không? .

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘sabbattha puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “ở mọi nơi, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbattha puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ở mọi nơi, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘sabbattha puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “ở mọi nơi, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbattha puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ở mọi nơi, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm…pe…

Mâu thuẩn thứ 6 (chaṭṭho niggaho).

 

Giải.

(P) theo cách lập luận của (T). (P) đặt vấn đề ngược lại với quan điểm của mình, và (T) khẳng định “phải rồi”.

Khi (P) hỏi “ở mọi nơi người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối ”, phải không?

Tuy “người (atta)” không là bất biến, nhưng rõ ràng: “người” là chỉ cho 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 22 quyền (theo từng trường hợp), đó là “những sự thật tuyệt đối”.

Tuy những pháp này sinh diệt thay thế nhau liên tục, nhưng chúng vẫn được nhận thấy ở khắp thân thể.

(T) sẽ rơi vào sai lầm, nếu đáp “phải rồi”, vì như thế sẽ “không tìm thấy atta (thực tính pháp) ở đâu cả. Trong khi Đức Phật có dạy : Attā hi attano nātho: Ta là nơi nương chính ta([31]).

(T) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế “người” được tìm thấy ở nơi này, không tìm thấy ở nơi khác trong thân. Như vậy (T) mâu thuẩn với sự khẳng định “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” ở trên.

Do vậy, (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

 

Sự thật cao tột ở mọi thời (kālasaccikaṭṭho).

Thuận tùng đối ngịch (paccanīkānulomaṃ).

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Sabbadā puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Ởmọi thời, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?.

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘sabbadā puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “ở mọi thời, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbadā puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận- người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ở mọi thời, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘sabbadā puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “ở mọi thời, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbadā puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ở mọi thời, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

Mâu thuẩn thứ bảy (sattamo niggaho).

 

Giải.

Gọi là “thuận tùng đối nghịch” là nương theo quan điểm của đối phương để hỏi ngược lại. (P) nương theo quan điểm của (T) để vặn hỏi (T).

“Thời là liên hệ đến quá khứ, đến kiếp sống cuối cùng cho đến khi viên tịch.

Trong quá khứ 5 uẩn vốn có, kiếp sống cuối cho đến khi viên tịch 5 uẩn vốn có.

Khi (P) hỏi: “Ở mọi thời, người (atta) không được nhận thấy …, phải không?”.

(T) không thể đáp “phải rồi”, vì như vậy “mọi thời điểm” không có atta (thực tính pháp), đó là sự sai lầm nghiêm trọng.

(T) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế là chấp nhận “có thời điểm “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, thế là sự khẳng định “người không được nhận thấy …” ở trên, bị sụp đổ.

Do vậy (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”

 

Sự thật cao tột từng phần (avayavasaccikaṭṭho).

Thuận tùng đối nghịch (paccanīkānulomaṃ).

  1. (P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Sabbesu puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Ở tất cả, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(T). Na hevam. Vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘sabbesu puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Ngài chấp nhận “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “ở tất cả, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘sabbesu puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ở tất cả, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘sabbesu puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “ở tất cả, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải không nhận không bác “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’, no ca vattabbe – ‘sabbesu puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – , không chấp nhận, không bác “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “ở tất cả, người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, là sai lầm…pe…

Mâu thuẩn thứ tám (aṭṭhakaniggaho).

 

Giải.

Ở tất cả là chỉ cho 5 uẩn, 12 xứ , 18 giới, 22 quyền.

Khi (P) hỏi: “Ở tất cả, người không được nhận thấy …., phải không”?.

Nếu (T) đáp “phải rồi”, thì uẩn, xứ, giới, quyền không có atta (thực tính pháp).

Nếu (T) đáp “không phải”, thì atta được nhận thấy ở đâu? Uẩn, xứ, giới hay quyền?

Lại nữa, cho dù nhận thấy ở phần nào, thì “người được nhận thấy”. Và sự khẳng định của (T) “người không được nhận thấy …” ở trên, bị sụp đổ.

Do vậy, (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

 

Luận cứ 5. So sánh không lẫn lộn (suddhasaṃsadanaṃ).

17- Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Aññaṃ rūpaṃ añño puggaloti?

Sắc là khác, người là khác” phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “sắc là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’, no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

 

Giải.

Sắc ở đây chỉ cho sắc mạng quyền (jīvitindriyarūpa).

(T) nêu ra sự thật hiển nhiên: “Người được nhận thấy là sự thật cao tột …”, “sắc (rūpa) được nhận thấy là sự thật cao tột…”, phải không? và (P) chấp nhận.

(T) Lại đưa ra vấn đề: “Sắc là khác, người là khác” phải không?.

Nghĩa là: “Theo quan điểm của Ngài (chỉ cho P), thì “người” không hề thay đổi (bất biến), còn sắc thì thường thay đổi. Do vậy “người là khác”, “sắc là khác”, phải không?

Sắc mạng quyền do có nghiệp (kamma) là nhân, là duyên sinh khởi, còn “người” không do nghiệp là nhân, là duyên phải không?

(P) nhận ra sẽ sai lầm khi đáp “phải rồi”, vì:

– “Sắc” nắm bắt được, “người” cũng nắm bắt được (được nhận thấy – theo quan điểm của (P)). Sắc nhận thấy được nhờ có danh, “người khác sắc” nên không thể nhận thấy người nhờ danh. Vậy làm cách nào “nhận thấy được “người” mà không cần có danh pháp? Không nhờ danh pháp thì làm cách nào biết “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”?

– Giữa “sắc” và “người (atta)” có sự liên hệ mật thiết, không thể nói là một cũng không thể nói là hai. Sắc mạng quyền chỉ cho sự sống (jīva); “người” không thể tách lìa“sự sống (jīva)”; “sự sống” gắn liền với “người”.

Mặt khác, “người” không do nghiệp là nhân, là duyên thì “người” đồng nghĩa Nípbàn. Nhưng Nípbàn được danh pháp nhận thức được, còn atta (người) thì không được danh pháp nhận thức, rõ ràng không hợp lý.

Nếu “người” không do nghiệp là nhân, là duyên, đồng thời “người” không phải là Níp-bàn; như vậy “người” chỉ là khái niệm, là ảo tưởng.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, nếu bác bỏ thì ngầm chấp nhận: “Sắcngười là một”, nhưng sắc thường thay đổi, “người (atta)” cũng phải thay đổi, không thể là “bất biến”. Như vậy quan điểm của (P) sụp đổ hoàn toàn.

(Lại nữa, vào thời điểm chỉnh lý để Kết tập Phật ngôn lần III, nếu (P) đáp “không phải”, xem như (P) chấp nhận: “Người là sắc; sắc là người”.

Sẽ bị (T) bác bỏ bằng Phật ngôn:

Yaṃ kiñci, rāhula, rūpaṃ – atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā – sabbaṃ rūpaṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti.

“Này Rāhula, bất cứ sắc nào “quá khứ, vị lai, hiện tại, bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay tốt đẹp, xa hay gần. Tất cả sắc ấy “không phải ta, không phải của ta, không phải là tự ngã của ta”– Ns)([32]).

Do vậy (P) đáp lấp lửng “không nên nói thế”.

Thật ra, chính (T) đã bác bỏ “sắc” và “chân thể bất biến” là một.

Cái gọi là “người” chỉ là tập hợp của năm uẩn, trong khi sắc chỉ là một thành phần của năm uẩn. Tương tự như vậy với 12 xứ, 18 giới và 22 quyền.

(T) đặt vấn đề: “Sắc là khác, người là khác” phải không?.

Mục đích của (T) muốn (P) chấp nhận quan điểm “sắc và người khác nhau”.

Tuy “sắc” và “người (atta)” có cùng tính chất “chân thể tuyệt đối (paramattha), nhưng mỗi paramattha có trạng thái, phận sự, sự hiển lộ khác nhau, đồng thời “sắc” và “người” luôn sinh diệt, không thể “bất biến”.

Do vậy, không thể đồng hóa “sắc” và “người” là một được.

Vấn đề này đưa (P) vào thế “không thể nhận cũng không thể bác”.

Và (P) buộc phải đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… saññā ca upalabbhati…pe… saṅkhārā ca upalabbhanti…pe… viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thọ (vedanā) … tưởng (saññā) … hành (saṅkhārā) … thức (viññāṇa) được nhận thấy là sự thật, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Aññaṃ viññāṇaṃ añño puggaloti?.

Thức là khác, người là khác”, phải không?.

(P). Na hevaṃ vattabe. Không nên nói thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận thức là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác thức là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “thức là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, khi phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác thức là khác, người là khác”, là sai lầm … pe …

Giải.

Thọ, tưởng, hành và thức tuy là danh pháp, nhưng cũng là pháp hữu vi. Pháp hữu vi luôn bị biến hoại theo định luật vô thường.

Lại nữa, theo điều 17 ở trên, (P) không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, vậy “thọ” và “người” thì như thế nào? “thọ là khác”, “người là khác”; hay “thọ là người”, “người là thọ”?.

Nếu “thọ là người”, “người là thọ”; rõ ràng “sắc” khác “thọ”, như vậy “sắc là khác”, “người là khác”, thế là (P) tự mâu thuẩn với điều 17 ở trên.

Nếu “thọ là khác”, “người là khác”, thì “người (atta)” không có danh, vì thọ (vedanā) vốn hòa hợp với ba danh uẩn còn lại, không có thọ đồng nghĩa không có danh uẩn.

Như vậy “chân thể bất biến” này hoặc là “không danh, có sắc”, vậy “chân thể bất biến” này không có ý thức, làm thế nào “người” hoạt động được.

Hoặc “chân thể bất biến” này “không danh không sắc”; thế là quan điểm của (P) là trống rổng, là hư vô, chỉ là khái niệm mà thôi.

Do vậy, (P) trả lời lấp lửng “không nên nói như thế”.

 

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, cakkhāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe…

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối … pe…

sotāyatanañca upalabbhati… ghānāyatanañca upalabbhati… jivhāyatanañca upalabbhati… kāyāyatanañca upalabbhati… rūpāyatanañca upalabbhati… saddāyatanañca upalabbhati… gandhāyatanañca upalabbhati… rasāyatanañca upalabbhati… phoṭṭhabbāyatanañca upalabbhati… manāyatanañca upalabbhati… dhammāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

và nhãn xứ được nhận thấy …nhĩ xứ được nhận thấy … và tỷ xứ được nhận thấy … và thiệt xứ được nhận thấy … và thân xứ được nhận thấysắc xứ (rūpāyatana) được nhận thấy … và thinh xứ được nhận thấy … và mùi xứ được nhận thấy … và vị xứ được nhận thấy xúc xứ được nhận thấy ý xứ được nhận thấy … và pháp xứ được nhận thấy là sự thật chân thể tuyệt đối …pe…

  1. 20. Chánh kinh.

(T). Cakkhudhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotadhātu ca upalabbhati… ghānadhātu ca upalabbhati… jivhādhātu ca upalabbhati… kāyadhātu ca upalabbhati… rūpadhātu ca upalabbhati… saddadhātu ca upalabbhati… gandhadhātu ca upalabbhati… rasadhātu ca upalabbhati… phoṭṭhabbadhātu ca upalabbhati… cakkhuviññāṇadhātu ca upalabbhati… sotaviññāṇadhātu ca upalabbhati… ghānaviññāṇadhātu ca upalabbhati… jivhāviññāṇadhātu ca upalabbhati… kāyaviññāṇadhātu ca upalabbhati… manodhātu ca upalabbhati… manoviññāṇadhātu ca upalabbhati… dhammadhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

nhãn giới được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe… và nhĩ giới được nhận thấytỷ giới (ghānadhātu) được nhận thấy… thiệt giới (jivhādhātu) được nhận thấy… và thân giới được nhận thấysắc giới (rūpadhātu) được nhận thấy… và thinh giới được nhận thấy… và mùi giới được nhận thấy… và vị giới được nhận thấy… xúc giới được nhận thấy… nhãn thức giới được nhận thấy… và nhĩ thức giới được nhận thấy… và tỷ thức giới được nhận thấy… và thiệt thức giới được nhận thấy… và thân thức giới được nhận thấy… và ý giới được nhận thấyý thức giới (manoviññāṇadhātu) được nhận thấy  pháp giới được nhận thấy là một sự thật chân thể tuyệt đối …

  1. Chánh kinh.

(T), Cakkhundriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotindriyañca upalabbhati… ghānindriyañca upalabbhati… jivhindriyañca upalabbhati… kāyindriyañca upalabbhati … manindriyañca upalabbhati… jīvitindriyañca upalabbhati… itthindriyañca upalabbhati… purisindriyañca upalabbhati… sukhindriyañca upalabbhati… dukkhindriyañca upalabbhati… somanassindriyañca upalabbhati… domanassindriyañca upalabbhati… upekkhindriyañca upalabbhati… saddhindriyañca upalabbhati… vīriyindriyañca upalabbhati… satindriyañca upalabbhati… samādhindriyañca upalabbhati… paññindriyañca upalabbhati… anaññātaññassāmītindriyañca upalabbhati… aññindriyañca upalabbhati… aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

nhãn quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối … và nhĩ quyền được nhận thấy … và tỷ quyền được nhận thấy… và thiệt quyền được nhận thấy … và thân quyền được nhận thấy … và ý quyền … và mạng quyền được nhận thấy… và nữ quyền được nhận thấy… và nam quyền được nhận thấy… và lạc quyền được nhận thấy… và khổ quyền được nhận thấy… và hỷ quyền được nhận thấy… và ưu quyền được nhận thấy… và xả quyền được nhận thấy… và tín quyền được nhận thấy… và tấn quyền được nhận thấy… và niệm quyền được nhận thấy… và định quyền được nhận thấy… và tuệ quyền được nhận thấy… và vị tri quyền được nhận thấy… và dĩ tri quyền được nhận thấy… và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggaloti?

Cụ tri quyền là khác, người là khác”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “cụ tri quyền là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

Giải.

(T) đặt vấn đề: So sánh atta (người) với từng chân thể tuyệt đối (paramattha) để xác định có “chân ngã bất biến” hay không? Đồng thời xác định “có khả năng nhận thức được “chân ngã bất biến” này không?”.

Chỉ có thể xác định: “Chân ngã bất biến” này có hay không có? khi đối chiếu với từng phần “chân thể tuyệt đối (paramattha)” khác.

Không thể đồng hóa tất cả “chân thể tuyệt đối” là một, vì mỗi “chân thể tuyệt đối” có đặc tính riêng, đây là nét sai biệt của các “chân thể tuyệt đối”.

(T) lần lượt nêu ra 57 pháp, tùy trường hợp chúng quy tụ lại rồi định danh (paññatti) là “người” như: Năm uẩn, 12 xứ, 18 giới, 22 quyền, để so sánh với “chân ngã bất biến”.

Vì không thể gom chung tất cả là một, khi mỗi pháp như sắc, thọ, tưởng … có nét sai biệt riêng, có đặc tính riêng …

Để (P) không có cơ hội tránh né vấn đề cần phải được xác định: hay không có “chân thể bất biến”? (T) nêu ra từng pháp thực tính một, đó là điều cần thiết.

Một điều nữa, khi (P) không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”; có thể (P) cho rằng: “chân thể bất biến một phần là sắc, một phần là danh”.

Khi (P) không chấp nhận, không bác bỏ “thọ là khác, người là khác”; có thể (P) cho rằng “chân thể bất biến dường như có thọ, dường như không có thọ”.

Tương tự như thế với ba danh uẩn còn lại.

Lập luận tương tự như năm uân đối với 12 xứ, 18 giới và 22 quyền.

(T) lần lượt nêu ra tất cả danh – sắc theo từng trường hợp để so sánh với “chân ngã bất biến”. Và tất cả được (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

Có 4 trường hợp xảy ra:

a- “Người là chân thể bất biến” là sắc.

b- “Người là chân thể bất biến” là danh.

c- “Người là chân thể bất biến” một phần là danh, một phần là sắc.

d-“Người là chân thể bất biến” dường như không sắc cũng không danh.

Ngoại trừ Níp-bàn (nibbāna), tất cả pháp hữu vi có nhân duyên là chủ yếu; khi nhân duyên hội tụ thì chúng sinh lwên, khi hết nhân hết duyên thì chúng rã tan, không hề có pháp hữu vi nào tồmn tại vĩnh viễn. Các pháp lại có sự tương quan mật thiết với nhau.

Nếu “người là chân ngã bất biến” vượt ra khỏi danh sắc thì “sự thật cao tột” mà (P) chấp nhận, đó là gì? Chắc chắn atta này không phải là Níp- bàn, vì atta này còn phải luân chuyển từ thế giới này đến thế giới khác, từ thế giới khác đến thế giới này.

Lại nữa, “người là chân thể bất biến” còn phải chứng Níp0-bàn mới giải thoát khỏi tam giới.

Người là chân ngã bất biến” vựt qua danh-sắc hữu vi, không phải là Níp-bàn, thì “người” chỉ là khái niệm (paññatti) hay quan điểm chung (sammuti) của thế tục mà thôi.

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Aññaṃ rūpaṃ añño puggaloti? Na hevaṃ vattabbe.

Sắc là khác, người là khác”, phải không?

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức ngược lại.

Hañci vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi, và sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “sắc là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận- Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi” và “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi” và “sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận- Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi” và “sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

 

Giải.

(P) viện dẫn Phật ngôn: “Có người thực hành vì tự lợi” để bảo vệ quan điểm “chân ngã bất biến”. Vì (P) cho “tự lợi (attahitāya)”, nghĩa là Đức Phật chấp nhận có “chân thể bất biến”. Giả như có người giữ giới, người ấy hưởng an lạc trong kiếp sau … Nếu “người ấy” thay đổi thành “người khác” thì an lạc ấy được “người khác” hưởng, như vậy không gọi là “ tự lợi (attahitāya)” được.

(P) đặt ra vấn đề: Câu Phật ngôn này vốn có, sắc là một chân thể tuyệt đối phải không?

(T) trực tiếp chấp nhận: “Phải rồi”.

(P) vấn nạnsắc là khác, người là khác”, phải không?

(T) không thể chấp nhận, cũng không thể bác bỏ. Vì atta theo quan điểm của (T) là những pháp thực tính (sabhāva), những pháp thực tính này luôn bị sinh diệt không phải là bất biến như quan điểm của (P).

Người là một danh từ mang ý nghĩa “tập hợp của năm uẩn, 12 xứ, 18 giới hay 22 quyền”, sắc là một trong tập hợp ấy, không thể tách lìa sắc ra khỏi người ở trong cõi 5 uẩn; mặt khácc ở cõi Vô tưởng chúng sinh này chỉ có sắc pháp.

Nếu (T) đáp phải rồi, sẽ bị (P) vấn nạn rằng: “Thế chúng sinh cõi Vô tưởng không phải là người sao?”.

Nếu (T) đáp “không phải”, như vậy (T) đã chấp nhận “ngườisắc là một, “sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, như vậy (T) ngầm chấp nhận “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, thế là (T) tự bác bỏ lập trường “người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” của mình, ở trên.

Mặt khác, nếu (T) đáp “không phải”m xem như (T) chối bỏ Phật ngôn “atthi puggalo attanitāya paṭipanno: Có người thực hành vì tự lợi”.

Do vậy, (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’ vedanā ca upalabbhati…pe… saññā ca upalabbhati…pe… saṅkhārā ca upalabbhanti…pe… viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? Āmantā.

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và thọ được nhận thấy … và tưởng được nhận thấy … hành được nhận thấy … thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Aññaṃ viññāṇaṃ añño puggaloti?

Thức là khác, người là khác” phải không?

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức ngược lại.

Hañci vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”, và “thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “Thức là khác, người là khác”,

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”, và “thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “Thức là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “Thức là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”, và thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, no ca vattabbe – ‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”, và “thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “Thức là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

 

Giải.

(P) lần lượt đưa ra danh pháp trong năm uẩn để so sánh với “người (atta)”.

Như trên, (T) khẳng định quan điểm “người không được nhận thấy là sự thật chân thể tuyệt đối”, nhưng câu Phật Ngôn trên và những pháp thực tính (sabhāva) như thọ, tưởng, hành, thức là có thật.

Với câu hỏi của (P): “Thọ là khác, người là khác” phải không?

(T) không thể đáp “phải rồi”, vì thọ, tưởng, hành thức, bốn danh uẩn này luôn hòa hợp với nhau, cùng sinh, cùng trụ, cùng diệt với nhau.

Khi chấp nhận “thọ là khác, người là khác”, nghĩa là “người (atta)” theo quan điểm của (T) không có danh pháp, điều này không hợp lý.

(T) cũng không thể đáp bác bỏ “không phải”, vì như thế là ngầm chấp nhận “ngườithọ” là một, như thế tự bác bỏ lập trường “người không được nhận thấy …” của mình ở trên, đồng thời chối bỏ Phật ngôn trên.

Do vậy, (T) phải đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ cakkhāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotāyatanañca upalabbhati…pe… dhammāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và nhãn xứ được nhận thấy … và nhĩ xứ được nhận thấy … pháp xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”…pe…

  1. Chánh kinh.

Cakkhudhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… kāyadhātu ca upalabbhati…pe… rūpadhātu ca upalabbhati…pe… phoṭṭhabbadhātu ca upalabbhati…pe… cakkhuviññāṇadhātu ca upalabbhati…pe… manoviññāṇadhātu ca upalabbhati…pe… dhammadhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

nhãn giới được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” … và thân giới được nhận thấy … và sắc giới được nhận thấy … và xúc giới được nhận thấy … và nhãn thức giới được nhận thấy … và ý thức giới được nhận thấy … và pháp giới được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”… pe…

  1. Chánh kinh.

Cakkhundriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

nhãn quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”… và nhĩ quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” … và dĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”…pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”phải không?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). “Cụ tri quyền là khác, người là khác” phải không?

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức ngược lại.

Hañci vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “cụ tri quyền là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm ...pe…

So sánh không lẫn lộn (Suddhikasaṃsandanā).

 

Giải.

(P) Lần lượt nêu ra từng phần của 57 pháp để so sánh với “chân thể bất biến”, ngầm trình bày quan điểm: “Chân thể bất biến” này vượt lên trên những pháp hữu vi bình thường. Đồng thời ngầm nói rằng: “chân thể bất biến” này được chính Đức Phật khẳng định là “” qua Phật ngôn “Có người thực hành vì tự lợi”.

Ở đây, (P) hiểu sai lệch ý nghĩa từ “tự lợi (attāhitāya)” trongcâu Phật ngôn.

Tuy quả an lạc sẽ sinh ra cho người tạo phước, người tạo nhân và người hưởng quả không phải một cũng không phải hai.

Người hưởng quả nương sinh từ người tạo nhân, ví như ngọn lửa đầu hôm và ngọn lửa cuối đêm, chúng không phải là một ngọn lửa duy nhất, cũng không phải là hai ngọn lửa khác nhau. Ngọn lửa cuối đêm nương sinh từ ngọn lửa đầu hôm mà hiện bày.

Hoặc ví như bé gái ba tuổi sau đó phát triển thành bé gái bốn tuổi, dần dần trở thành cô gái 16 tuổi. Bé gái ba tuổi và cô gái 16 tuổi không phải là một, cũng không phải là khác, nương từ bé gái 3 tuổi mới hình thành cô gái 16 tuổi.

 

Luận cứ 6. So sánh đối chiếu (opammasaṃsaṇdanaṃ).

  1. Chánh kinh.

(T). Rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanāti?

Sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thọ được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; sắc là khác. thọ là khác”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P). Āmamtā. Phải rồi.

(T). Aññaṃ rūpaṃ añño puggaloti?

Sắc là khác, người là khác”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena; tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, sắc là khác; thọ là khác”; “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”; cũng phải chấp nhận “sắc là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối’; sắc là khác, thọ là khác”. “Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”; không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận khộng bác “sắc là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; sắc là khác, thọ là khác”. “Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; sắc là khác, thọ là khác”. “Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

 

Giải.

(T) nêu ra sự thật hiển nhiên: “Sắc và thọ” là hai pháp “sự thật cao tột” và “sắc” khác thọ”, để so sánh với người là “chân thể bất biến” của (P).

Hàm ý của (T) là nêu cả danh lẫn sắc để so sánh với người”, trước tiên buộc (P) phải chấp nhận “sắc là khác, thọ là khác”. Và (P) đồng ý.

(T) hỏi: “sắc là khác, người là khác” phải không?

Ngầm ý của (T) hỏi rằng: “Chân thể bất biến này là “sắc hay là danh”?

Nếu (P) đáp “phải rồi”, nghĩa là (P) cho rằng “chân thể bất biến” là danh pháp không phải là sắc pháp.

Nhưng ở cõi Dục hay cõi Sắc danh pháp phải nương vào sắc pháp để sinh, trụ đồng thời diệt ở đó (sắc vật).

Bản Sớ giải có giải thích.

Khandhesu tāva rūpamūlake cakke cattāri, tathā vedanādimūlakesūti vīsati.

“Nơi các uẩn là gốc rễ luân chuyển của nhau, sắc là gốc rễ cho bốn uẩn, cùng như thế “thọ là gốc rễ cho các uẩn còn lại”.

Nghĩa là: “Sắc là gốc rễ cho bốn danh uẩn Thọ, Tưởng, Hành và Thức nương sinh”, tương tự, một danh uẩn là gốc rễ cho bốn uẩn còn lại nương sinh.

Danh không liên hệ với sắc, điều này chỉ có trong cõi Vô sắc, “chân thể bất biến” là danh không liên hệ đến sắc, chỉ có thể nhận thấy ở cõi Vô sắc, không có trong cõi Dục và cõi Sắc. Điều này không hợp lý.

Nếu “chân thể bất biến” là danh nhưng có liên hệ đến sắc.

Sắc sinh, trụ và diệt được nhận thấy rõ ràng, như vậy “chân thể bất biến” cũng phải sinh, trụ và diệt. Điều này đi ngược với quan điểm “chân thể bất biến” của (P).

Nếu (P) đáp “không phải”, như vậy ngầm chấp nhận “chân thể bất biến” là “sắc không danh ”.

Sắc pháp thì sinh diệt, thay đổi, nên “chân thể” này cũng rơi vào sinh diệt, thay đổi và quan điểm “chân thể bất biến” của (P) bị sụp đổ.

Đồng thời “chân thể bất biến” là sắc không danh”, “chân thể bất biến” chỉ có` ở cõi Vô tưởng. Như vậy là phi lý.

(P) tránh né, “không nhận không bác”, tìm cơ hội để nói lên quan điểm của mình.

Theo quan điểm của (P), tuy “người” có liên hệ đến “danh sắc”, nhưng cần hiểu “chân thể bất biến” này không bị ràng buộc (aññattānuyogo) bởi danh sắc.

Do vậy, (P) đáp “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saññā ca upalabbhati…pe… saṅkhārā ca upalabbhanti…pe… viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññaṃ viññāṇanti?

Sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tưởng được nhận thấy … và hành được nhận thấy … và thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”; “sắc là khác, thức là khác”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? Āmantā.

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốithức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P). Āmantā.Phải rồi.

(T). Aññaṃ rūpaṃ añño puggaloti?

Thức là khác, người là khác”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññaṃ viññāṇaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena;

Ngài chấp nhận “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “sắc là khác, người là khác” (và) người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốithức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”;

tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti.

cũng phải chấp nhận “thức là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññaṃ viññāṇaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối thức được nhận thấy được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “sắc là khác, người là khác” (và) người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốithức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

không nhận không bác “thức là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññaṃ viññāṇaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận, khộng bác “thức là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối thức được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “sắc là khác, người là khác” (và) người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốithức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññaṃ viññāṇaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “sắc là khác, người là khác” (và) người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốithức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

không nhận không bác “thức là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

  1. Chánh kinh.

(T). Vedanā upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saññā ca upalabbhati…pe… saṅkhārā ca upalabbhanti…pe… viññāṇañca upalabbhati…pe… rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

“Thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và tưởng được nhận thấy … và hành được nhận thấy … và thức được nhận thấy … sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

 

Giải.

Hai đoạn kinh (29 – 30). Cách lý luận như đoạn kinh (28) đã giải ở trên.

Tiếp theo (T) luân chuyển: Một uẩn là gốc, bốn uẩn còn lại là ngọn.

Thọtưởng tuy khác nhau, nhưng luôn luôn đi chung với nhau, vì thọ – tưởngý hành. (P) không thể chấp nhận, cũng không thể bác “chân thể bất biến” là thọ hay phi thọ.

Tương tự như vậy với tưởng.

Do vậy, (P) phải đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

Nghĩa là: “Chân thể bất biến” tuy có liên quan đến “thọ – tưởng”, nhưng không bị “thọ – tưởng” trói buộc (yoga).

  1. Chánh kinh.

(T). Saññā upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saṅkhārā ca upalabbhanti…pe… viññāṇañca upalabbhati…pe… rūpañca upalabbhati…pe… vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

“Tưởng được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và hành được nhận thấy … và tưởng được nhận thấy …. và sắc được nhận thấy … và thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(T). Saṅkhārā upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati…pe… rūpañca upalabbhati…pe… vedanā ca upalabbhati…pe… saññā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

“Hành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy … và sắc được nhận thấy … và thọ được nhận thấy … và tưởng được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(T). Viññāṇaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati…pe… vedanā ca upalabbhati…pe… saññā ca upalabbhati…pe… saṅkhārā ca upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ viññāṇaṃ aññe saṅkhārāti?.

Thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốisắc được nhận thấy … và thọ được nhận thấy … và tưởng được nhận thấy … và hành được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; thức là khác, hành là khác”, phải không?.

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốithức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Aññaṃ viññāṇaṃ añño puggaloti?

Thức là khác, người là khác”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci viññāṇaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saṅkhārā ca upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ viññāṇaṃ aññe saṅkhārā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena;

Ngài chấp nhận “thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốihành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; thức là khác, hành là khác”; người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”;

tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’ti.

cũng phải chấp nhận thức là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘viññāṇaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saṅkhārā ca upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ viññāṇaṃ aññe saṅkhārā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốihành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; thức là khác, hành là khác”; người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

không nhận không bác “thức là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘viññāṇaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saṅkhārā ca upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ viññāṇaṃ aññe saṅkhārā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận khộng bác “thức là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốihành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; thức là khác, hành là khác” ; người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘viññāṇaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saṅkhārā ca upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ viññāṇaṃ aññe saṅkhārā, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’ Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốihành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; thức là khác, hành là khác”; người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ viññāṇaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

không nhận không bác “thức là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

  1. Chánh kinh.

(T). Cakkhāyatanaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, sotāyatanañca upalabbhati…pe… dhammāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotāyatanaṃ upalabbhati…pe…

Nhãn xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ xứ được nhận thấy … và pháp xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ xứ được nhận thấy …

dhammāyatanaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, cakkhāyatanañca upalabbhati…pe… manāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

 

Pháp xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, nhãn xứ được nhận thấy … và ý xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …

  1. Chánh kinh.

(T). Cakkhudhātu upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, sotadhātu ca upalabbhati…pe… dhammadhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotadhātu upalabbhati…pe…

Nhãn giới được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, nhĩ giới được nhận thấy … và pháp giới được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ giới được nhận thấy

dhammadhātu upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, cakkhudhātu ca upalabbhati…pe… manoviññāṇadhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

Pháp giới được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và nhãn giới được nhận thấy … và ý giới được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối…pe…

  1. Chánh kinh.

(T). Cakkhundriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, sotindriyañca upalabbhati…pe… aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotindriyaṃ upalabbhati…pe… aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… cakkhundriyañca upalabbhati…pe…

Nhãn quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, nhĩ quyền được nhận thấycụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ quyền được nhận thấy … cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối … và nhãn quyền được nhận thấy

aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyanti?

Dĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; cụ tri quyền là khác, dĩ tri quyền là khác”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? .

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và hành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggaloti?

Cụ tri quyền là khác, người là khác”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena;

Ngài chấp nhận “cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối dĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; cụ tri quyền là khác, dĩ tri quyền là khác”(và) người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”;

tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti.

cũng phải chấp nhận “cụ tri quyền là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốidĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; cụ tri quyền là khác, dĩ tri quyền là khác”; người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốidĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, cụ tri quyền là khác, dĩ tri quyền là khác” (và) người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối dĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; cụ tri quyền là khác, dĩ tri quyền là khác” (và) người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, “cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm …pe…

 

Giải.

Trong 12 xứ (āyatana), nhãn xứ ( cakkhāyatana- thần kinh nhãn) là gốc rễ cho pháp xứ, ý xứ … Tương tự như thế với 18 giới (dhātu), 22 quyền (indriya).

(T) nêu ra từng đôi của 12 xứ, 18 giới, 22 quyền để so sánh.

37- Chánh kinh.

(P). Rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanāti?.

Sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tho được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; sắc là khác, thọ là khác” phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Aññaṃ rūpaṃ añño puggaloti?

Sắc là khác, người là khác” phải không?

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức ngược lại.

Hañci rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena;

Ngài chấp nhận “sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tho được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, sắc là khác; thọ là khác” (và) Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

tena vata re vattabbe – aññaṃ rūpaṃ añño puggaloti.

cũng phải chấp nhận “sắc là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tho được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; sắc là khác, thọ là khác” (và) Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tho được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, sắc là khác; thọ là khác” (và) Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ rūpaṃ aññā vedanā, vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tho được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, sắc là khác; thọ là khác”; Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và sắc được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ rūpaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

không nhận không bác “sắc là khác, người là khác”, là sai lầm…pe…

Giải.

(P) phản đối (T) bằng cách thuận theo quan điểm “người không được nhận thấy …” của (T) đã nêu lên, rồi hỏi ngược lại.

Theo quan điểm của(P): “Sắc, thọ không được xem là atta bất biến”, vì sắc, thọ bị trói buộc, riêng atta tuy có liên hệ đến “sắc, thọ” nhưng không bị trói buộc bởi “sắc, thọ”.

Ví như người tuy mặc y phục, nhưng có thể bỏ y phục này, thay y phục khác, hoặc như người ở nhà này, khi căn nhà này hư hoại thì sang ở căn nhà khác.

Cũng vậy, tuy người tuy còn phải tái sinh (puna), nhưng “chân thể” thì bất biến.

Để bảo vệ luận điểm mình, (P) dẫn chứng bằng Phật ngôn: “Có người thực hành vì tự lợi”, cho rằng “Đức Thế Tôn chấp nhận “ một chân thể bất biến”.

(T) không thể chấp nhận, cũng không thể bác bỏ “câu hỏi hai chiều (ubho) này”.

Vì “người sinh lên và hiện bày do ràng buộc bởi 5 uẩn, nên không thể nói là “người” và “sắc” khác nhau, cũng không thể nói “ngườisắc” là một.

Do vậy, (T) đáp lấp lửng: “Không nên nói như thế”.

Phần còn lại, nên hiểu tương tự.

  1. Chánh kinh.

(P). Rūpaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saññā ca upalabbhati… saṅkhārā ca upalabbhanti… viññāṇañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

Sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tưởng được nhận thấy … và hành được nhận thấy … và thức được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Vedanā upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saññā ca upalabbhati… saṅkhārā ca upalabbhanti… viññāṇañca upalabbhati… rūpañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

“Thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối tưởng được nhận thấy … và hành được nhận thấy … và thức được nhận thấy … và sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Saññā upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, saṅkhārā ca upalabbhanti… viññāṇañca upalabbhati… rūpañca upalabbhati… vedanā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

“Tưởng được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối hành được nhận thấy … và thức được nhận thấy … và sắc được nhận thấy … và thọ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Saṅkhārā upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena, viññāṇañca upalabbhati… rūpañca upalabbhati… vedanā ca upalabbhati… saññā ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

Hành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối thức được nhận thấy … và sắc được nhận thấy … và thọ được nhận thấy … và tưởng được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Viññāṇaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, rūpañca upalabbhati… vedanā ca upalabbhati… saññā ca upalabbhati… saṅkhārā ca upalabbhanti saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

Thức được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối sắc được nhận thấy … và thọ được nhận thấy … và tưởng được nhận thấy… và hành được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Cakkhāyatanaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, sotāyatanañca upalabbhati…pe… dhammāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotāyatanaṃ upalabbhati…pe… “Nhãn xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ xứ được nhận thấy … và pháp xứ được nhận thấynhĩ xứ được nhận thấy

dhammāyatanaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena cakkhāyatanañca upalabbhati…pe… manāyatanañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

pháp xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối nhãn xứ được nhận thấy … và ý xứ được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối…pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Cakkhudhātu upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, sotadhātu ca upalabbhati…pe… dhammadhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotadhātu upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe…

Nhãn giới được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ giới được nhận thấy … và pháp giới được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ giới được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối

dhammadhātu upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, cakkhudhātu ca upalabbhati…pe… manoviññāṇadhātu ca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe….

pháp giới được nhận thấy được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và nhãn giới được nhận thấy … và ý giới được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối …pe…

  1. Chánh kinh.

(P). Cakkhundriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, sotindriyañca upalabbhati…pe… aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena…pe… sotindriyaṃ upalabbhati…pe…

Nhãn quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ quyền được nhận thấycụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đốinhĩ quyền được nhận thấy

aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, cakkhundriyañca upalabbhati…pe… aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena; aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyanti?

cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối … và nhãn quyền được nhận thấy… và dĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; cụ tri quyền là khác, dĩ tri quyền là khác”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi

(P). Aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggaloti?

Cụ tri quyền là khác, người là khác” phải không?

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena;

Ngài chấp nhận “cụ tri quyền được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, dĩ tri quyền được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối (và) Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”;

tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti.

cũng phải chấp nhận “cụ tri quyền là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, dĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối (và) Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”;

no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā.

không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, dĩ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối (và) Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘aññātāvindriyaṃ upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, aññaṃ aññātāvindriyaṃ aññaṃ aññindriyaṃ, vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno, aññātāvindriyañca upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – cụ tri quyền được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối, dĩ tri quyền được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối; Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, và cụ tri quyền được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ aññātāvindriyaṃ añño puggalo’’’ti micchā…pe….

không nhận không bác “cụ tri quyền là khác, người là khác”, là sai lầm…pe…

Dứt so sánh đối chiếu (Opammasaṃsandanaṃ).

 

Luận cứ 7. So sánh theo bốn chi (catukkanayasaṃsandanaṃ).

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? .

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Rūpaṃ puggaloti? .

Sắcngười” phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘rūpaṃ puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”; cũng phải chấp nhận “sắcngười”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘rūpaṃ puggalo’’’ti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắcngười”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘rūpaṃ puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sắcngười”, cũng phải không nhận không bác“người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘rūpaṃ puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắcngười”, là sai lầm…pe…

 

Giải.

“Sắc là người” phải không? Là câu hỏi mà (T) trói buộc (P) rơi vào tà kiến.

Nếu (P) đáp “phải rồi”, nghĩa là người là “chân thể bất biến”, thì sắc cũng bất biến, (P) sẽ rơi vào thường kiến (sassatadiṭṭhi).

Hoặc “sắc” thường bị tiêu hoại, như vậy “người” cũng bị tiêu hoại, (P) rơi vào đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi), tức là (P) theo quan điểm ở ngoài Phật giáo.

Nếu (P) đáp “không phải”, tức là “người là khác, sắc là khác”, điều này không hợp lý, vì: Trong cõi ngũ uẩn, danh uẩn phải nương vào sắc để sinh khởi và trú; nếu “người” thuần là danh pháp thì chỉ có ở cõi Vô sắc.

Do vậy, (P) đáp lấp lửng là “không nên nói như thế”.

47- Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Rūpasmiṃ puggalo…pe… aññatra rūpā puggalo…pe… puggalasmiṃ rūpanti?

“Người trong sắc” phải không? …. “người ngoài sắc” phải không? … “sắc trong người” phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ rūpa’’nti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “sắc trong người”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ rūpa’’’nti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắc trong người”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ rūpa’’nti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “sắc trong người”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ rūpa’’’nti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “sắc trong người”, là sai lầm.

 

Giải.

Đối với ba chi do (T) nêu ra.

a- “Người trong sắc” phải không? Nghĩa là: “Sắc là nơi nâng đở cho “người”, “người” phải nương tựa vào sắc để sinh khởi và trú, phải không?.

Mặt khác, một đại là chổ nương cho ba đại còn lại, sắc vật là chổ nương cho thức (vatthurūpaṃ nissāya viññāṇaṃ); tứ đại, sắc vật đều bị hư hoại, biến diệt, như vậy “người” cũng bị hư hoại biến diệt, phải không?.

Lại nữa, “người trong sắc”, đó là tà kiến thuộc về thân kiến (sakkāyadiṭṭhi)([33]), nên (P) không thể đáp “phải rồi”.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế (P) chấp nhận “người ngoài sắc”, điều này không hợp lý.

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

b-Người ngoài sắc” phải không?. Theo quan điểm của (P) “người bất biến”, trái lại “sắc” bị thay đổi, nên (T) đặt vấn đề: “Vậy có phải “người” ở ngoài sắc, nên sắc bị tiêu hoại còn “người” thì trường tồn phải không?.

Nghĩa là “sắc” không ảnh hưởng chi đến “người” phải không?

(P) không thể đáp “phải rồi”, vì Níp-bàn ở ngoài sắc, như vậy “người” đồng nghĩa Níp-bàn. Nhưng Níp-bàn không tái sinh trái lại “người” còn tái sinh.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, như thế ngầm chấp nhận “người trong sắc” hay “người là sắc”, và (P) rơi vào thân kiến.

c-“Sắc ở trong người” phải không?.

Nghĩa là: “Sắc là một phần của người” phải không? Và sắc thường bị thay đổi, hư hoại, như vậy “người” một phần bị thay đổi, tiêu hoại; một phần là thường hằng phải không?.

Đồng thời “sắc trong người” thuộc về thân kiến.

Do đó, cả ba chi này, (P) phải trả lời: “Không nên nói như thế”.

48- Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? .

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Vedanā puggalo…pe… vedanāya puggalo…pe… aññatra vedanāya puggalo…pe… puggalasmiṃ vedanā…pe….

.“Thọ là người” … “Người trong thọ” … “Người ngoài thọ” … “Thọ trong người”…

Saññā puggalo…pe… saññāya puggalo…pe… aññatra saññāya puggalo…pe… puggalasmiṃ saññā…pe….

“Tưởng là người” … “Người trong tưởng” … “Người ngoài tưởng” … “Tưởng trong người” …

Saṅkhārā puggalo…pe… saṅkhāresu puggalo…pe… aññatra saṅkhārehi puggalo…pe… puggalasmiṃ saṅkhārā…pe….

“Hành là người”… “Người trong hành”… “Người ngoài hành” … “Hành trong người” …

Viññāṇaṃ puggalo…pe… viññāṇasmiṃ puggalo…pe… aññatra viññāṇā puggalo…pe… puggalasmiṃ viññāṇanti?

“Thức là người” … “Người trong thức” … “Người ngoài thức” … “Thức trong người” phải không? …

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ viññāṇa’’nti.

Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “thức trong người”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ viññāṇa’’’nti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “thức trong người”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ viññāṇa’’nti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “thức trong người”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ viññāṇa’’’nti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “thức trong người”, là sai lầm…pe…

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Cakkhāyatanaṃ puggalo…pe… cakkhāyatanasmiṃ puggalo…pe… aññatra cakkhāyatanā puggalo…pe… puggalasmiṃ cakkhāyatanaṃ…pe… dhammāyatanaṃ puggalo…pe… dhammāyatanasmiṃ puggalo…pe… aññatra dhammāyatanā puggalo…pe… puggalasmiṃ dhammāyatanaṃ…pe….

Nhãn xứ là người”… “người trong nhãn xứ”… “người ngoài nhãn xứ”… “nhãn xứ trong người”“pháp xứ là người”“người trong pháp xứ”“người ngoài pháp xứ” … “pháp xứ trong người”

Cakkhudhātu puggalo…pe… cakkhudhātuyā puggalo…pe… aññatra cakkhudhātuyā puggalo…pe… puggalasmiṃ cakkhudhātu…pe… dhammadhātu puggalo…pe… dhammadhātuyā puggalo…pe… aññatra dhammadhātuyā puggalo…pe… puggalasmiṃ dhammadhātu…pe….

Nhãn giới là người”“người trong nhãn giới”“người ngoài nhãn giới”“nhãn giới trong người”“pháp giới là người”“người trong pháp giới”“người ngoài pháp giới”“pháp giới trong người”

Cakkhundriyaṃ puggalo…pe… cakkhundriyasmiṃ puggalo…pe… aññatra cakkhundriyā puggalo …pe… puggalasmiṃ cakkhundriyaṃ…pe… aññātāvindriyaṃ puggalo…pe… aññātāvindriyasmiṃ puggalo…pe… aññatra aññātāvindriyā puggalo…pe… puggalasmiṃ aññātāvindriyanti?

Nhãn quyền là người”“người trong nhãn quyền”“người ngoài nhãn quyền” … “nhãn quyền trong người”

“Cụ tri quyền là người”“người trong cụ tri quyền”“người ngoài cụ tri quyền”“cụ tri quyền trong người”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena, tena vata re vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’nti.

“Ngài chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, cũng phải chấp nhận “cụ tri quyền trong người”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’’nti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “cụ tri quyền trong người”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’nti, no ca vata re vattabbe – ‘‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenā’’ti.

Không nhận không bác “cụ tri quyền trong người”, cũng phải không nhận không bác “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthena,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’’nti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận “người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, không nhận không bác “cụ tri quyền trong người”, là sai lầm…pe…

 

Giải.

(T) lần lượt nêu ra 57 pháp, để không cho (P) có cơ hội trườn uốn, luồn lách sang chi phần khác của 57 pháp căn bản, tập hợp của atta (người).

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’ti?

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Rūpaṃ puggaloti?

Sắc là người” phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ tena vata re vattabbe – ‘‘rūpaṃ puggalo’’ti.

Ngài chấp nhận “Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, cũng phải chấp nhận “sắc là người”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ no ca vattabbe – ‘rūpaṃ puggaloti’’’ micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – Đức Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, không nhận không bác “sắc là người”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘rūpaṃ puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’’ti.

Không nhận không bác “sắc là người”, cũng phải không nhận không bác – “Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ no ca vattabbe – ‘rūpaṃ puggalo’’’ti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – Đức Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, không nhận không bác “sắc là người”, là sai lầm …pe…

 

Giải.

(P) hỏi “sắc là người”, phải không?

(T) không thể đáp “phải rồi”, như vậy sẽ rơi vào thân kiến.

Đồng thời tự bác bỏ lập trường của mình khi đã khắng định “người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối (paramattha)”; trong khi sắc được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối và sắc chính là “người”.

(T) cũng không thể đáp “không phải”, vì người có liên hệ đến sắc.

Do đó (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(P).Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?.

Người không được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’ti?.

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Rūpasmiṃ puggalo…pe… aññatra rūpā puggalo…pe… puggalasmiṃ rūpaṃ…pe….

“Người trong sắc” …. “người ngoài sắc”“sắc trong người”

Vedanā puggalo…pe… vedanāya puggalo…pe… aññatra vedanāya puggalo…pe… puggalasmiṃ vedanā…pe….

Thọ là người … người trong thọ … người ngoài thọ … thọ trong người

Saññā puggalo…pe… saññāya puggalo…pe… aññatra saññāya puggalo…pe… puggalasmiṃ saññā…pe….

Tưởng là người … người trong tưởng … người ngoài tưởng … tưởng trong người …

Saṅkhārā puggalo…pe… saṅkhāresu puggalo…pe… aññatra saṅkhārehi puggalo…pe… puggalasmiṃ saṅkhārā…pe….

Hành là người … người trong hành … người ngoài hành … hành trong người …

Viññāṇaṃ puggalo…pe… viññāṇasmiṃ puggalo…pe… aññatra viññāṇā puggalo…pe… puggalasmiṃ viññāṇanti?

Thức là người … người trong thức … người ngoài thức … thức trong người, phải không?

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ tena vata re vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ viññāṇa’’nti.

Ngài chấp nhận “Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, cũng phải chấp nhận “thức trong người”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ viññāṇa’’’nti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận, Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, không nhận không bác “thức trong người”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ viññāṇa’’nti, no ca vata re vattabbe – ‘‘vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’’ti.

Không nhận không bác “thức trong người”, cũng phải không nhận không bác “Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ viññāṇa’’’nti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận, Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, không nhận không bác “thức trong người”, là sai lầm…pe…

Giải.

Hai chi “người trong sắc”; “sắc trong người” thuộc về thân kiến. Do vậy (T) không thể đáp “phải rồi”.

(T) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế là cho rằng: “Người ở ngoài sắc”.

Giữa “sắcngười (atta)” có liên hệ mật thiết với nhau, không thể nói “người ở ngoài sắc” hay “sắc ở ngoài người”.

Do vậy, (T) phải lấp lửng “không nên nói như thế”.

Với “người ở ngoài sắc” phải không? Cũng hiểu tương tự như trên.

Với bốn danh uẩn, 12 xứ, 18 giới và 22 quyền cn lại, nên hiểu tương tự như phần sắc uẩn.

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? Cakkhāyatanaṃ puggalo…pe…

Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’ti?

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Cakkhāyatanasmiṃ puggalo…pe… aññatra cakkhāyatanā puggalo…pe… puggalasmiṃ cakkhāyatanaṃ…pe… dhammāyatanaṃ puggalo…pe… dhammāyatanasmiṃ puggalo…pe… aññatra dhammāyatanā puggalo…pe… puggalasmiṃ dhammāyatanaṃ…pe….

Nhãn xứ là người … người trong nhãn xứ … người ngoài nhãn xứ … nhãn xứ trong người … Pháp xứ là người … người trong pháp xứ … người ngoài pháp xứ … pháp xứ trong người …

Cakkhudhātu puggalo…pe… cakkhudhātuyā puggalo…pe… aññatra cakkhudhātuyā puggalo…pe… puggalasmiṃ cakkhudhātu…pe… dhammadhātu puggalo…pe… dhammadhātuyā puggalo…pe… aññatra dhammadhātuyā puggalo…pe… puggalasmiṃ dhammadhātu…pe….

Nhãn giới là người … người trong nhãn giới… người ngoài nhãn giới … nhãn giới trong người … Pháp giới là người … người trong pháp giới… người ngoài pháp giới … pháp giới trong người …

Cakkhundriyaṃ puggalo…pe… cakkhundriyasmiṃ puggalo…pe… aññatra cakkhundriyā puggalo…pe… puggalasmiṃ cakkhundriyaṃ…pe… aññātāvindriyaṃ puggalo…pe… aññātāvindriyasmiṃ puggalo…pe… aññatra aññātāvindriyā puggalo…pe… puggalasmiṃ aññātāvindriyanti?

Nhãn quyền là người … người trong nhãn quyền… người ngoài nhãn quyền … nhãn quyền trong người … cụ tri quyền là người … người trong cụ tri quyền … người ngoài cụ tri quyền … cụ tri quyền trong người, phải không?

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’ tena vata re vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’nti.

Ngài chấp nhận “Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, cũng phải chấp nhận “cụ tri quyền trong người”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’’nti micchā.

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận “Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, không nhận không bác “cụ tri quyền trong người”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’nti, no ca vata re vattabbe – ‘‘vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’’ti.

Không nhận không bác cụ tri quyền trong người”, cũng phải không nhận không bác “Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’ no ca vattabbe – ‘puggalasmiṃ aññātāvindriya’’’nti micchā…pe….

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – Đức Thế Tôn có dạy: Có người thực hành vì tự lợi”, không nhận không bác “cụ tri quyền trong người”, là sai lầm…pe…

So sánh theo bốn chi (catukkanayasaṃsandanaṃ).

 

Luận cứ 8. Giải thích theo đúng thực tướng (lakkhaṇayuttikathā).

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti?

Người được nhận thấy là sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Puggalo sappaccayo…pe… puggalo appaccayo… puggalo saṅkhato … puggalo asaṅkhato… puggalo sassato … puggalo asassato… puggalo sanimitto… puggalo animittoti?

Người có duyên … người không duyên người hữu vi … người vô vi … người thường hằng … người vô thường … người có tướng … người không có tướng. phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế … (tóm gọn – saṃkhitta).

 

Giải.

(T) khảo sát “người” theo quan niệm của (P) theo thực tướng (lakkhaṇa).

Ngoại trừ Nibbāna (Nípbàn), tất cả những pháp “sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” còn lại (tâm, tâm sở và sắc pháp) đều là pháp hữu duyên, pháp hữu vi, pháp vô thường.

Như có Phật ngôn: “Sabbe saṅkhārā aniccāti … Các pháp hữu vi là vô thường …”([34]).

Nípbàn là pháp không duyên, là pháp vô vi, là pháp không có hình tướng, là pháp thường hằng.

(T) cật vấn (anuyogo) (P) bằng câu hỏi: “Người hữu duyên phải không?”.

(P) không thể đáp “phải rồi”, vì như thế (P) chấp nhận “người bị biến hoại”.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế (P) chấp nhận “người là vô duyên, người là Níp-bàn”.

Do vậy. (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

* “Người là vô duyên phải không?, lập luận tương tự như trên theo chiều ngược lại,

* “Người là hữu vi phải không”? “Người là vô vi phải không”?, cách lập luận tương tự như “người hữu duyên phải không?”; “người vô duyên phải không?”.

Tuy nhiên, có sự khác biệt chút ít về ý nghĩa là:

Người hữu vi phải không?” nghĩa là “người” sinh khởi do có nhân là gốc, có duyên nâng đở. trợ giúp. Ví như cây xoài hiện khởi nhờ có “hạt giống xoài” là nhân, phát triển tốt nhờ có đất và phân bón (ví như duyên).

Còn “người hữu duyên” chỉ có duyên nâng đở, trợ giúp mà thôi, ví như hài tử khỏe mạnh nhờ dưỡng mẫu chăm sóc chu đáo (có thể không cần đến người mẹ chăm sóc, như Bồtát Siddhattha nhờ người dì là bà Mahāpajāpaṭi Gotamī chẳng hạn).

“Pháp vô duyên”, “ pháp vô vi” (cả hai từ) đều đồng nghĩa là Níp- bàn và chế định; nhưng Níp-bàn hiện khởi không do nhân, do duyên; pháp chế định nếu không có nhân chế định (là sự kiện thông thường), không có duyên cớ thì pháp chế định không hiện khởi được.

Người vô duyên phải không?” là “người” không cần có duyên trợ giúp, ủng hộ phải không?.

Người” thường hằng phải không?.

(T) hỏi (P) về trạng thái của “người”, “người” có luôn luôn là như vậy chăng?.

(P) không thể đáp “phải rồi” vì sẽ sai lầm, “người có những suy nghĩ, hiểu biết khác nhau, như đứa bé suy nghĩ khác; thanh niên suy nghĩ khác …”. Khi “người” tiếp xúc với sáu cảnh trần thì có những trạng thái khác nhau, do đó “người” không thể là “thường hằng”.

Lại nữa, có Phật ngôn: “Sabbe saṅkhārā aniccāti … Các pháp hữu vi là vô thường …”. Người là thường hằng thì hoặc là Níp-bàn hoặc là chế định.

Cả hai điều này (P) đều không thể chấp nhận.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế là tự bác bỏ quan điểm “người là chân thể thường hằng, bất biến”.

Tương tự như vậy theo chiều ngược lại với “người là vô thường” phải không”?

* “Người có tướng”. Nghĩa là “người” có thể nhận biết qua dấu hiệu (nimitta) phải không? Dấu hiệu ấy như thế nào? Thường hay vô thường, lạc hay khổ; dấu hiệu ấy là hữu hình hay vô sắc …

Người không có tướng”. Nghĩa là “người” không có dấu hiệu chi cả, phải không?.

  1. Chánh kinh.

(P). Puggalo nupalabbhati saccikaṭṭhaparamatthenāti? .

Người không được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”, phải không?

(T). Āmantā Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’ti?

Đức Thế Tôn có dạy: “Có người thực hành vì tự lợi”, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Puggalo sappaccayo…pe… puggalo appaccayo… puggalo saṅkhato… puggalo asaṅkhato… puggalo sassato… puggalo asassato… puggalo sanimitto… puggalo animittoti? (Saṃkhittaṃ)

Người hữu duyên … người không duyên … người hữu vi … người vô vi … người thường hằng … người vô thường … người có tướng … người không có tướng, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế … (tóm gọn).

Giải.

“Người” có hai: “Người theo chế định” (paññatti) và “người theo thực tính (sabhāva).

(P) hỏi “người hữu duyên” phải không?.

Người theo chế định” không là hữu duyên, trái lại “người theo thực tính pháp” là hữu duyên.

Để tránh (P) lập luận theo chế định chuyển hướng vấn đề sang phạm trù khác, (T) không thể đáp “phải rồi”, vì như thế (P) sẽ nhân sơ hở này lập luận vấn nạn rằng: “Pháp chế định (paññattidhamma) do nương theo pháp thực tính mà định danh.

Theo thực tính pháp, pháp chế đinh là pháp “không có nhân duyên sinh khởi”, đó là pháp vô duyên. Nhưng Ngài (chỉ cho (T)) lại không phân biệt rõ “chế định pháp” và “thực tính pháp”, Ngài thật sự không có khả năng bàn luận pháp.

Mặt khác, theo thực tính pháp “người là hữu duyên”, nếu đáp “phải rồi”, nghĩa là (T) chấp nhận “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối.

Như vậy, (T) tự mâu thuẩn khi khẳng định “người không được thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối” ở trên.

(T) cũng không thể đáp “không phải”, vì như thế thì “người là vô duyên”, như vậy “người đồng nghĩa với Níp-bàn” (cho dù người là Níp-bàn, thì người cũng được nhận thấy).

Do vậy, (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

Phần còn lại nên hiểu tương tự.

Giải thích đúng thực tướng (lakkhaṇayuttikathā).

 

Luận cứ 9. Vacanasodhanaṃ (ngôn ngữ chính xác)([35]).

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo upalabbhati, upalabbhati puggaloti?

“Người” được nhận thấy, được nhận thấy“người” phải không?

(P). Puggalo upalabbhati, upalabbhati kehici puggalo kehici na puggaloti.

“Người” được nhận thấy, được nhận thấy có khi là “người”, có khi không phải là người.

(T). Puggalo kehici upalabbhati kehici na upalabbhatīti?

Người có khi được nhận thấy, có khi không được nhận thấy phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế …pe…

 

Giải.

Sau khi hỏi (P) về thực tướng (lakkhaṇa) của “người”. Tiếp theo, (T) cật vấn (P) theo pháp định danh (paññatti), đồng thời nêu ra ý nghĩa chính xác của pháp định danh.

(T) nêu ra tiêu đềNgười” được nhận thấy” nghĩa là: có hai pháp: “Người”“được nhận thấy”.

Nghĩa là “người được khám phá theo cách khách quan (parato)”.

(T) đặt vấn đề “được nhận thấy người” phải không?.

Hàm ý của (T) muốn hỏi: Cả hai pháp này, hoặc với ý nghĩa duy nhất là “bị hư hại” (ekatthaṃ vā bhaveyya) , hoặc “với ý nghĩa sai biệt” (nānatthaṃ vā) như sắc là khác, thọ là khác. Như vậy người là khác, được nhận thấy là khác, phải không?.

Nghĩa là ý (T) muốn hỏi:“Ngườiđược nhận thấy cùng bị tiêu hoại giống nhau”, hay “người” không bị tiêu hoại, “được nhận thấy ” bị tiêu hoại ?.

Như sự chứng đắc Níp- bàn và Níp-bàn, sự chứng đắc Nípbàn bị tiêu hoại (vì không phải lúc nào cũng “chứng đắc Níp-bàn”) nhưng Níp-bàn không hề thay đổi.

Cũng vậy, có phải “được nhận thấy” bị tiêu hoại, còn “người” thì bất biến?.

Lại nữa, những gì “được nhận thấy”, đó là “người”, phải không?

Với câu hỏi này, (T) buộc (P) phải đi thẳng vào vấn đề đang được bàn luận: “Có hay không có “chân thể bất biến”?

(P) đáp: “Người được nhận thấy”, nghĩa là (P) khẳng định: “Người là pháp có thật (saccikaṭṭha), là chân thể (paramattha) không phải là ảo tưởng, hay giả thuyết”, do (P) dựa vào Phât ngôn:

“Etadaggaṃ, bhikkhave, attabhāvīnaṃ yadidaṃ – rāhu asurindo:

“Này các Tỳ- khưu. tối thượng trong các tự ngã, đó là Rāhu chúa Atula([36]).

Được nhận thấy” có hai: Nhận thấy theo định danh (paññatti) như “nhận thấy sông núi, rừng, biển, vua, quan, chư thiên …” và nhận thấy theo thực tính pháp (sabhāva) như “sắc, thọ, tưởng, hành, thức …”.

Trong chân đế (paramattha) lại có hai là: Pháp hữu vi và pháp vô vi.

Pháp hữu vi bị vô thường hư hoại, còn pháp vô vi thì thường hằng bất biến.

(P) cho rằng: Khi nhận thấy pháp định danh và pháp hữu vi như sắc, thọ, tưởng, hành, thức … thì “được nhận thấy (đó) không phải là người.

Vượt lên những điều trên, là “được nhận thấy (đó) người”.

Nên (P) đáp: “được nhận thấy có khi là người, có khi không phải là người.

Ý của (P) cho rằng: “Có một atta (bản ngã) thường hằng bất biến và atta này được nhận thấy”.

Lại nữa, “được nhận thấy có khi là người” hàm ý của (P) nói rằng: Tuy atta (người) và “được nhận thấy” là hai pháp, nhưng atta này không phải luôn luôn là pháp bị nhận thấy (thụ động), mà chính atta này cũng pháp nhận thấy (chủ động), như người bị nhận thấy cũng có, người nhận thấy cũng có.

Và khi ấy “ngườiđược nhận thấy là một”.

Nói cách khác “người là chủ của “được nhận thấy”, do nhân gì? Do ước muốn (icchati) của người, đồng thời người (atta) này chỉ có một (ekatta).

(T) hỏi “người có khi được nhận thấy, có khi không được nhận thấy phải không?”.

Người có khi được nhận thấy”, nghĩa là “chỉ nhận thấy atta duy nhất (ekatta), phải không? Như vậy “pháp nhận thấy” này “là người” hay “không phải người”?

Nếu “được nhận thấy“người”, có khi không nhớ ra “điều được nhận thấy” thì “người” có “bất biến” không?

Người có khi không được nhận thấy” hàm ý (T) hỏi rằng: “Theo quan điểm của Ngài (chỉ cho P), “người là chân thể thường hằng, bất biến”, vậy do nhân nào “người không được nhận thấy?”. Do nhân không chú ý, hay có chú ý nhưng “không nhận thấy”? Và pháp nào nhận thấy người?.

Cho dù do nguyên nhân nào, “người có khi được nhận thấy, có khi không được nhận thấy”, thì “người là vô thường”.

(P) không thể đáp “phải rồi”, cũng không thể đáp “không phải”, vì cả hai đáp xem như (P) thừa nhận “người là vô thường”.

Nên (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo saccikaṭṭho, saccikaṭṭho puggaloti?

Người là sự thật cao tột, sự thật cao tộtngười phải không?

(P). Puggalo saccikaṭṭho, saccikaṭṭho kehici puggalo kehici na puggaloti.

Người” là sự thật cao tột, sự thật cao tột có khi là “người”, có khi không phải là “người”.

(T). Puggalo kehici saccikaṭṭho kehici na saccikaṭṭhoti?

Ngườicó khi là sự thật cao tột, có khi không là sự thật cao tột, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế …

Giải.

Sự thật cao tột (saccikaṭṭha). Có hai là: “Sự thật cao tột theo thế gian” và “sự thật cao tột theo chân pháp”.

Sự thật theo chân pháp có hai là: Hữu vi và vô vi.

(T) hỏi: “Ngườisự thật cao tột, sự thật cao tột là “người” phải không?

(P) khẳng định “ngườisự thật cao tột”.

Và “sự thật cao tột có khi là người, có khi không phải là người”.

Nghĩa là “sự thật cao tột theo thế gian, cùng với chân pháp hữu vi” không phải là “người”.

Chỉ có sự thật vô vi bất biến, đó là “người”.

(T) cật vấn ngườicó khi là sự thật cao tột, có khi không là sự thật cao tột, phải không?.

Nghĩa là “người” có hai: “Người” theo thực tính pháp và “người” theo chế định, phải không?

(P) nhận ra sẽ sai lầm khi đáp“phải rồi”, vì như vậy “người” không thể là bất biến.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì tự mâu thuẩn với sự khẳng định “người là sự thật cao tột” ở trên.

Do vậy (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

Hai đoạn kinh trên (55 và 56), (T) buộc (P) minh định rõ ý nghĩa của hai cụm từ “được nhận thấy”“sự thật cao tột”.

(P) cảm thấy lúng túng trước sự cật vấn của (T), hai câu hỏi trên của (T) là câu hỏi hai chiều (ubho), khi minh định rõ ràng ý nghĩa hai cụm từ “được nhận thấy”“sự thật cao tột” thì quan điểm của (P) bị lung lay.

Do vậy, (P) cố tránh né bằng cụm từ “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo vijjamāno([37]), vijjamāno puggaloti?

Ngườihiện có , hiện có là “người” phải không?

(P). Puggalo vijjamāno, vijjamāno kehici puggalo kehici na puggaloti.

Ngườihiện có. hiện có có khi là “người”, có khi không là “người”.

(T). Puggalo kehici vijjamāno kehici na vijjamānoti?

Người” có khi hiện có, có khi không hiện có phải không?.

(P). Nahevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế…

 

Giải.

(T) lập lại quan điểm của (P) bằng mệnh đề “người hiện có”, vì (P) đã khẳng định trước đó “người được nhận thấy là một sự thật cao tột, chân thể tuyệt đối”.

“Được nhận thấy” mang ý nghĩa “hiện có“.

Tiếp theo (T) hỏi: “hiện có, là người phải không?”, nghĩa là “hiện cóngười” là một phải không?

(P) xác định quan điểm mình qua câu “người hiện ”, rồi đáp “hiện có có khi là người, có khi không phải là người”.

Ý của (P) cho rằng: Pháp hiện có rất nhiều như : Pháp định danh (paññatti), pháp hữu vi … trong khi người chỉ là một (eka) trong những pháp “hiện có” ấy.

(T) hỏi lại: “Người có khi hiện có, có khi không “hiện có” phải không?

(P) không thể đáp “phải rồi”, vì như thế (P) chấp nhận“người khi , khi không ” thì “người là vô thường”.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì tự mâu thuẩn khi đã xác định “người hiện có” trước đó.

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo saṃvijjamāno, saṃvijjamāno puggaloti?

Người” đang có (saṃvijjamāna), đang có là “người” phải không?

(P). Puggalo saṃvijjamāno, saṃvijjamāno kehici puggalo kehici na puggaloti.

Người”đang có, đang có có khi là “người”, có khi không phải là “người”.

(T). Puggalo kehici saṃvijjamāno kehici na saṃvijjamānoti?.

Người có khi đang có, có khi không đang có phải không?.

(P). Không nên nói như thế…pe…

Giải.

Hai từ “hiện có (vijjamāna)” và “đang có (saṃvijjamāna)” tuy ý nghĩa tương đồng, chỉ cho thời hiện tại, nhưng tiếp đầu ngữ saṃ mang tính nhấn mạnh, thu hẹp thời gian.

Hiện có chỉ cho sátna sinh và trụ, còn đang có chỉ cho sátna trụ

Lý luận tương tự như trên (số 57), do vậy (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo atthi, atthi puggaloti?

Người” hiện hữu, hiện hữu là “người” phải không?

(P). Puggalo atthi, atthi kehici puggalo kehici na puggaloti.

Người” hiện hữu, hiện hữu có khi là “người”, có khi không phải là “người”.

(T). Puggalo kehici atthi kehici natthīti?

Người” có khi hiện hữu, có khi không hiện hữu, phải không?.

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế …

 

Giải.

(T) nêu ra tất cả mọi từ ngữ có liên hệ đến thời hiện tại, buộc (P) phải chấp nhận “người thường hằng, bất biến” của (P) đang hiện có.

Hiện hữu – atthi” là từ chỉ cho thời gian lẫn không gian

(P) đáp “người” hiện hữu. (P) khẳng định “người có thật và đang hiện diện trong mỗi chúng sinh, do (P) dựa vào Phật ngôn: “Atthi puggalo attāhitāya paṭisampanno: Có người thực hành vì tự lợi”.

Đồng thời đáp “hiện hữu có khi là người, có khi không phải là người”.

Những pháp đang “hiện hữu” có rất nhiều như pháp chế định, pháp hữu vi đang sinh, trụ, những pháp ấy không phải là “người bất biến”.

Hiện hữu của người bất biến thì hiện hữu ấy là người, hiện hữu này dính liền với người bất biến, không thể tách lìa nhau, như thọ không tách lìa tưởng; tưởng không tách lìa thọ”.

(T) nhạy bén, dựa theo câu “hiện hữu có khi là người, có khi không phải là người”, cật vấn (P) bằng câu hỏi: “Người có khi hiện hữu, có khi không hiện hữu phải không?”.

(P) không thể trả lời “phải rồi”, vì như thế thừa nhận “người là vô thường”.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì tự mâu thuẩn khi đã xác định “người hiện hữu”.

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Puggalo atthi, atthi na sabbo puggaloti?

Người” hiện hữu, tất cả hiện hữu không là “người”, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi .…

(T). Puggalo natthi, natthi na sabbo puggaloti?

“Người không hiện hữu, tất cả không hiện hữu không là “người”, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế … (tóm gọn).

 

Giải.

a- (T) lập lại quan điểm “người hiện hữu” của (P).

(P) dựa vào Phật ngôn “atthi puggalo attahitāya paṭipanno : Có người thực hành vì tự lợi”, nên (P) bám chắc vào ý tưởng “người thật có (puggalo atthī’ti)”.

(T) đặt vấn đề: “Người hiện hữu, tất cả hiện hữu không là người, phải không?.

(P) đáp khẳng định “phải rồi”, vì “người” chỉ là một trong những pháp đang hiện hữu.

b- (T) nêu ra mệnh đề “người không hiện hữu”, do nương vào Phật ngôn.

Đức Thế Tôn có dạy: “Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharājā, sadā sato:

Này Mogharājā; hãy luôn chú ý nhìn thấy thế gian là rỗng không([38]).

Và (T) cật vấn (P): Tất cả không hiện hữu không là “người”, phải không?.

Đức Thế Tôn thuyết pháp nương vào hai sự thật “sự thật thế tục” để từ đó hướng người có duyên lành Đạo quả đi vào chấn pháp và hiểu rõ lý nhân quả, chứng đạt Thánh quả.

Với người có trí nhạy bén, Đức Thế Tôn tuyên thuyết theo “sự thật chân pháp”, người có duyên lành Đạo quả sẽ nhanh chóng hiểu pháp, thông đạt pháp chứng Thánh quả.

Phật ngôn: “Có người thực hành vì tự lợi”, Đức Thế Tôn nương theo “sự thật thế tục để giảng pháp”.

Phật ngôn: “Hãy chú ý nhìn thấy đời là trống rỗng …”, Đức Thế Tôn nương theo “sự thât chân pháp” để thuyết giảng.

(P) sẽ sai lầm khi đáp “phải rồi”, vì tự bác bỏ quan điểm “người hiện hữu”của mình.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, khi ấy (T) sẽ dẫn ra Phật ngôn trên, xem như (P) bác bỏ Phật ngôn này và (P) thất bại hoàn toàn.

Do vậy, (P) phải đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

Ngôn ngữ chính xác (vacanasodhanaṃ).

 

Luận cứ 10. Cật vấn Chế định (paññattānuyogo).

  1. Chánh kinh.

(T). Rūpadhātuyā rūpī puggaloti?

Do ở Sắc giới nên gọi người có sắc phải không?

(P). Phải rồi.

(T). Kāmadhātuyā kāmī puggaloti?

Do ở Dục giới nên gọi là người có dục phải không?.

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói thế ….

 

Giải.

Để (P) không thể lập luận trườn uốn bằng cách xen lẫn thực tính (sabhāva) và định danh (paññatti), tránh né vấn đề chính chuyển hướng sang vấn đề khác.

Trong phần này (T) cật vấn (P) theo ý nghĩa chế định để làm sáng tỏ thực tính pháp.

Pháp định danh (paññatti) là do nương theo thực tính pháp mà định danh cùng nêu bày ý nghĩa của pháp ấy, như do ở cõi Dục nên gọi là người Dục giới, do ở cõi Sắc nên gọi người Sắc giới, do ở cõi Vô sắc nên gọi là người Vô sắc giới, do ở cõi “không có tưởng” nên gọi là người Vô tưởng …

Trước tiên (T) nêu ra cõingười, rồi định danh giữa sắc và “người”, nên hỏi: “Do ở Sắc giới nên gọi người có sắc (rūpī) phải không?”.

Nên hiểu: Sắc ở đây chỉ cho sắc thân (rūpakāya) được sinh lên, được gìn giữ, được nuôi dưỡng.

(P) nhận thấy hợp lý, không đi ngược với quan điểm “người bất biến”, nên đáp “phải rồi”.

(T) hỏi: “Do ở Dục giới nên gọi người có dục (kāmī) phải không?

Nên hiểu: Dục (kāma) ở đây chỉ cho năm cảnh: Sắc, thinh, mùi, vị và xúc; có dục (kāmī) là có năm sắc thần kinh để nhận biết năm cảnh ấy.

Người Dục giới có đầy đủ năm sắc thần kinh (pasāda), trong khi người cõi Sắc chỉ có hai sắc thần kinh là thần kinh nhãn (cakkhupasāda) và thần kinh nhĩ (sotapasāda); người Sắc giới chỉ nhận biết được hai cảnh dục là cảnh sắc và cảnh thinh.

(P) nhận ra sẽ sai lầm khi đáp “phải rồi”, như vậy người ở cõi Dục khi sinh về cõi Sắc; người cõi Dục khác với người cõi Sắc, thế thì “người” không thể bất biến.

Lại nữa, tuy không đầy đủ như người cõi Dục, người Sắc giới cũng có dục (kāmī) nhưng không gọi là “người Dục giới”.

(P) cũng không thể “không phải”, rõ ràng “người ở dục giới” được gọi là “người có dục.

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Rūpadhātuyā rūpino sattāti?

Tất cả chúng sinh có sắc do sắc giới phải không?.

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Kāmadhātuyā kāmino sattāti?

Tất cả chúng sinh có dục do dục giới phải chăng?.

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế …

 

Giải.

Câu này (T) nêu ra chế địnhngười, rồi nhận định giữa người, chế địnhthực tính pháp.

Sắc giới (rūpadhātu) có 2 phần:

– Theo thực tính pháp là sắc cảnh (rūpārammaṇa).

– Theo chế định là cõi Sắc giới.

Cho dù với ý nghĩa nào, chúng sinh có thần kinh nhãn, nhận thức được cảnh sắc, được gọi là “chúng sinh có sắc”. Do vậy, (P) đáp “phải rồi”.

Nhưng kāmādhātu (dục giới) chỉ có ý nghĩa là “trong cõi Dục”.

(P) nhận ra sai lầm khi đáp “phải rồi”, vì chúng sinh cõi Sắc cũng có dục, nhưng không phải do ở trong Dục giới.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì chúng sinh có dục (kāmino), đang hiện diện ở Dục giới.

Nên (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Arūpadhātuyā arūpī puggaloti?

Do ở Vô sắc giới, nên gọi người có vô sắc phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Kāmadhātuyā kāmī puggaloti?

Do ở Dục giới, nên gọi là người có dục phải không?.

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói thế ….

 

Giải.

Có vô sắc (Arūpī) là chỉ cho vô sắc uẩn sinh khởi đầy đủ (arūpakkhandhasabbhāvato)

Chúng sinh ở cõi Vô sắc nên được gọi là người có Vô sắc, điều này hiển nhiên nên (P) đáp “phải rồi”.

Với câu hỏi tiếp của (T). “Do ở Dục giới, nên gọi người có dục, phải không?”.

(P) nhận ra sai lầm khi đáp “phải rồi”, vì người ở Sắc giới cũng có dục (kāmī) nhưng không ở cõi Dục.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì rõ ràng “người có dục do ở Dục giới.

Do vậy (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Arūpadhātuyā arūpino sattāti?

Do vô sắc giới, chúng sinh có vô sắc, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Kāmadhātuyā kāmino sattāti?

Do dục giới, chúng sinh có dục, phải không?

(P). Nahevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế …

 

Giải.

Vô sắc giới (arūpadhātu) có 2 phần:

– Theo thực tính pháp là Tứ danh uẩn và Nípbàn.

– Theo định danh (paññatti) là cõi Vô sắc giới.

Cho dù với ý nghĩa theo thực tính pháp hay theo d9i5nh danh, chúng sinh không có sắc pháp được gọi là “người vô sắc”.

Do vậy, (P) đáp “phải rồi”.

Nhưng kāmādhātu (Dục giới) chỉ có ý nghĩa là “trong cõi Dục”.

(P) nhận ra sai lầm khi đáp “phải rồi”. Gọi là “người vô sắc” do có 2 nhân:

– Có vô sắc pháp, như người Sơ đạo, người Nhị đạo …

– Sinh ra và nương trú ở cõi Vô sắc”.

(P) sẽ bị (T) cật vấn: “Thế ở cõi Sắc, không có chúng sinh có dục sao?”.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì rõ ràng chúng sinh có dục (kāmino) do sinh ra ở Dục giới.

Nên (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Rūpadhātuyā rūpī puggalo arūpadhātuyā arūpī puggalo, atthi ca koci rūpadhātuyā cuto arūpadhātuṃ upapajjatīti?

“Do ở cõi Sắc giới người có sắc; do ở cõi Vô sắc người có vô sắc; và một số chết từ Sắc giới sinh về Vô sắc giới, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Rūpī puggalo upacchinno, arūpī puggalo jātoti?

Người có sắc bị hủy, sinh là người có vô sắc, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế …pe….

 

Giải.

(T) nêu ra sự thật hiển nhiên: Do ở cõi Sắc giới nên người có sắc … và (P) chấp nhận nên đáp “phải rồi”.

(T) hỏi tiếp: “người có sắc bị hủy sinh thành người có vô sắc phải không”?.

Nghĩa là : “Theo quan điểm của Ngài (chỉ cho P) “người thường hằng bất biến”, ví như “người có y phục che thân, khi lột bỏ y phục hay y phục bị rách vụn, người ấy vẫn y nhiên và đi đến trú xứ khác”; cũng vậy “người bất biến” có sắc, khi sắc bị hủy diệt; “người bất biến” trở thành người không có sắc và sinh về cõi Vô sắc, phải không?.

(P) không thể đáp “phải rồi”, vì như thế là chấp nhận “người trong sắc”, thế là (P) tự mâu thuẩn với lập luận trước đây của mình.

Mặt khác, sắc bị hủy chưa hẵn trở thành người vô sắc, như người mệnh chung từ cõi Dục tái sinh về cõi Sắc hay người cõi Dục mệnh chung tái sinh về cõi Dục; hoặc người mệnh chung ở cõi Sắc tái sinh trở lại cõi Sắc hoặc tái sinh về cõi Dục.

(P) cũng không thể đáp “không phải”, vì sự thật hiển nhiên “người mệnh chung từ cõi Sắc, tái sinh về cõi Vô sắc, trước đây là “người có sắc ở cõi Sắc”, sau là “người có vô sắc ở cõi Vô sắc”.

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(T). Rūpadhātuyā rūpino sattā arūpadhātuyā arūpino sattā, atthi ca koci rūpadhātuyā cuto arūpadhātuṃ upapajjatīti?

“Do ở cõi Sắc chúng sinh có sắc; do ở cõi Vô sắc, chúng sinh có vô sắc; và một số chết từ cõi Sắc, sinh về cõi Vô sắc, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Rūpī satto upacchinno, arūpī satto jātoti?

“Chúng sinh có sắc bị hủy, trở thành chúng sinh có vô sắc, phải không?

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế…pe….

Giải.

Lý luận tương tự như trên. chỉ thay thế “người” bằng từ “chúng sinh”.

  1. Chánh kinh.

Kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāteti?

“Là thân hay là thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy gọi là thân, có phần đồng nghĩa như nhau, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Puggaloti vā jīvoti vā, jīvoti vā puggaloti vā, puggalaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāteti?

“Là người hay là “sự sống([39]), là sự sống hay là người, đôi khi phần được nhận thấy gọi là người, có phần đồng nghĩa như nhau, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Añño kāyo, añño puggaloti?

Thân là khác, người là khác, phải không?

(P). Āmantā. Phải rồi.

(T). Aññaṃ jīvaṃ, aññaṃ sarīranti?

Sự sống là khác, thân là khác, phải không”?.

(P). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(T). Ājānāhi niggahaṃ. Ngài hãy nhận thức mâu thuẩn.

Hañci kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, puggaloti vā jīvoti vā, jīvoti vā puggaloti vā, puggalaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, añño kāyo añño puggalo; tena vata re vattabbe – ‘‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti.

Ngài chấp nhận “là thân hay thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy gọi là thân, có phần đồng nghĩa như nhau”, “là người hay là “sự sống”, là sự sống hay là người, đôi khi phần được nhận thấy gọi chung là người, có phần đồng nghĩa như nhau”, “thân là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, puggaloti vā jīvoti vā, jīvoti vā puggaloti vā, puggalaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, añño kāyo añño puggalo’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – “là thân hay thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy gọi là thân, đều đồng ý nghĩa như nhau”, “là người hay là sự sống, là sự sống hay là người, đôi khi phần được nhận thấy gọi là người, đều đồng ý nghĩa như nhau”, “thân là khác, người là khác”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’’nti micchā.

không nhận không bác “thân là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti, no ca vata re vattabbe – ‘‘kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, puggaloti vā jīvoti vā, jīvoti vā puggaloti vā, puggalaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, añño kāyo añño puggalo’’ti.

Không nhận không bác “thân là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “là thân hay thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy gọi là thân, đều đồng ý nghĩa như nhau”, “là người hay là sự sống, là sự sống hay là người, đôi khi phần được nhận thấy gọi là người, đều đồng ý nghĩa như nhau”, “thân là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, puggaloti vā jīvoti vā, jīvoti vā puggaloti vā, puggalaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, añño kāyo añño puggalo’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – “là thân hay thân thể, là thân thể hay là thân, gọi chung là thân, cả hai đồng ý nghĩa như nhau, “là người hay là sự sống, là sự sống hay là người, gọi chung là người, cả hai đồng ý nghĩa như nhau”, “thân là khác, người là khác”,

no ca vattabbe – ‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’’nti micchā…pe….

không nhận không bác “thân là khác, người là khác”, là sai lầm…pe…

 

Giải.

Gọi là thân là “thân được nhận thấy – kāye kāyāupassī’ti”.

Phần “thân” được nhận thấy cũng được gọi là “thân thể (sarīraṃ)”, điều này là hợp lý, nên (P) đáp “phải rồi”.

Ghi chú.

Chữ Jīva, một số vị dịch là “linh hồn”.

Trong hệ thống tín ngưởng của người Ấn cổ, không có ý niệm về “hồn vía”, “hồn vía” thuộc hệ tín ngưởng người Trung Hoa, đặc biệt là Lão giáo.

Theo quan niệm của người Ấn cổ thì có vị “Sáng tạo ra vũ trụ”, trước tiên là Thần Purusha, vị này tạo ra vũ trụ, con người, muôn thú, mặt trời, mặt trăng, tinh tú …

Người sinh ra từ miệng vị Sáng tạo chủ, thuộc giai cấp Bà-la-môn, sinh ra từ tay vị Sáng tạo chủ thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, sinh ra từ đùi vị Sáng tạo chủ thuộc giai cấp thương buôn (vessa), sinh ra từ chân vị Sáng tạo chủ thuộc giai cấp thường dân (sudā) ([40]), về sau vị “Sáng tạo chủ” được gán cho Thần Brahmā (Đại Phạm thiên) (sđd, tr. 92).

Và chúng sinh hiện khởi là do ý muốn của vị Đại Phạm thiên như kinh Brahmajāla (Phạm võng) ghi nhận:

Tatra, bhikkhave, yo so satto paṭhamaṃ upapanno tassa evaṃ hoti – ‘ahamasmi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṃ. Mayā ime sattā nimmitā. Taṃ kissa hetu? Mamañhi pubbe etadahosi – ‘‘aho vata aññepi sattā itthattaṃ āgaccheyyu’’nti. Iti mama ca manopaṇidhi, ime ca sattā itthattaṃ āgatā’ti.

‘‘Yepi te sattā pacchā upapannā, tesampi evaṃ hoti – ‘ayaṃ kho bhavaṃ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṃ. Iminā mayaṃ bhotā brahmunā nimmitā. Taṃ kissa hetu? Imañhi mayaṃ addasāma idha paṭhamaṃ upapannaṃ, mayaṃ panamha pacchā upapannā’ti.

“Lúc bấy giờ, này các Tỳ-khưu, những hữu tình sinh qua nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sinh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, Đấng tự tại, Tổ phụ các chúng sinh đã và sẽ sinh. Những hữu tình ấy do chính ta sinh ra. Tại sao vậy? Vì chính do Ta khởi niệm “mong sao các loài hữu tình khác cũng đến chỗ này”.

Các loài hữu tình đến sau, cũng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sinh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, Đấng tự tại, Tổ phụ các chúng sinh đã và sẽ sinh. Chúng ta do Đại Phạm thiên này hóa sinh. Vì sao vậy? Vì ta đã thấy vị này sinh trước ở đây rồi, còn chúng ta thì sinh sau” (HT. TMC d)([41]).

Người Ấn cổ cho rằng: “Vị Đại Phạm thiên là Đại ngã, còn người là tiểu ngã, nên cần phải tu tập bốn tâm Vô lượng là Từ, Bi, Hỷ, Xả để trở về với đại ngã, hòa nhập vào đại ngã”.

Do đó, từ Jīva, chúng tôi dịch là “sự sống” để phù hợp với hệ tư tưởng của người Ấn cổ.

Sự sống” mang ý nghĩa là “duy trì sự tồn tại” như “người tồn tại nhờ sự sống”, người không còn sự sống, gọi là “người chết” hay “mạng chung” …

Sự sống”chỉ cho sự hoạt động có nhậnthức của chúng sinh. Không có sự sống năng hoạt có ý thức, vật thể đó không được gọi là chúng sinh hay “người”.

Sự sống đa dạng và rộng, như sự sống của cây, cỏ … sự sống của những sắc thần kinh, sự sống của người, thú, chư thiên, Phạm thiên …

Sự sống gắn liền với chúng sinh, gắn liền với “người”.

“Người”sự sống, ở góc độ nào đó, được xem như đồng ý nghĩa; nói đến “người” hàm nghĩa chỉ cho “sự sống”, nói đến sự sống là ám chỉ người.

Nên (T) hỏi: “Là người hay là “sự sống([42]), là sự sống hay là người, đôi khi phần được nhận thấy gọi là người, có phần đồng nghĩa như nhau, phải không?”.

Điều này là hợp lý, do vậy, (P) chấp nhận “phải rồi”.

“Thân là khác, người là khác”. Là do ý muốn (icchati) phân tích (bhindituṃ) rõ ràng để phân biệt. Thân chỉ là một phần của “người”.

Thân là khác người là khác. Nghĩa là “theo quan điểm của Ngài (chỉ cho P), thânngười là một hay khác nhau?

Theo quan điểm của (P), thân khác người khác, nên (P) đáp chấp nhận “phải rồi”.

Khi (T) hỏi “sự sống là khác, người là khác, phải không?”.

(P) nhận ra sai lầm khi đáp “phải rồi”, vì qua ba câu hỏi trên, đã ngầm xác định: “Sự sống” là pháp hữu vi; “sự sống” gắn liền với “người”, cho dù “sự sống” đó, là tinh hoa của “người” thì cũng là pháp hữu vi. Như vậy, khi “sự sống” bị tiêu hoại thì “người không còn tồn tại”.

Thế là (P) đi ngược lại với quan điểm “người thường hằng, bất biến” của mình.

(P) cũng không thể trả lời “không phải”, vì như thế xác nhận “ người”“sự sống” là một.

Theo Giáo lý: “Sự sống” không thể chuyển dịch từ nơi này sang nơi khác, không thể nắm bắt được, rõ ràng sự sống nhân loại là khác, sự sống của Phạm thiên là khác, sự sống không thể chuyển từ người sang Phạm thiên hay ngược lại; không thể chuyển sự sống từ người này sang người khác; sự sống không thể chuyển từ Dục giới đến Sắc giới ….

Trong khi “người” có thể chuyển từ Dục giới sang Sắc giới, từ Phạm thiên chuyển thành người, từ giai cấp Bà- la- môn sang giai cấp Sát-đế-lỵ …

Lại nữa, mỗi sự sống có lãnh vực riêng, như sự sống của thần kinh nhãn chỉ có trong phạm vi “thần kinh nhãn”, sự sống của thần kinh nhĩ chỉ có trong phạm vi thần kinh nhĩ … Sự sống của thú chỉ có trong phạm vi thú, sự sống của người chỉ có trong phạm vi người, sự sống của chư thiên chỉ có trong phạm vi chư thiên …

Do vậy, (P) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

  1. Chánh kinh.

(P). Kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāteti?.

“Là thân hay là thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy gọi là thân, có phần đồng nghĩa như nhau, phải không?

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’ti?

Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi” phải không”?.

(T). Āmantā. Phải rồi.

(P). Añño kāyo añño puggaloti?

“Thân là khác, người là khác”, phải không?,

(T). Na hevaṃ vattabbe. Không nên nói như thế.

(P). Ājānāhi paṭikammaṃ. Ngài nên nhận thức mâu thuẩn.

Hañci kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, vuttaṃ bhagavatā – ‘‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno,’’

Ngài chấp nhận “là thân hay là thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy gọi là thân, có phần đồng nghĩa như nhau” và Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”,

tena vata re vattabbe – ‘‘añño kāyo añño puggalo’’ti.

cũng phải chấp nhận “thân là khác, người là khác”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – là thân hay là thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy gọi là thân, có phần đồng nghĩa như nhau” và Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”,

no ca vattabbe – ‘añño kāyo añño puggalo’’’ti micchā.

không nhận không bác “thân là khác, người là khác”, là sai lầm.

No ce pana vattabbe – ‘‘añño kāyo añño puggalo’’ti, no ca vata re vattabbe – ‘‘kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, vuttaṃ bhagavatā – ‘atthi puggalo attahitāya paṭipanno’’’ti.

Không nhận không bác “thân là khác, người là khác”, cũng phải không nhận không bác “là thân hay là thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy, gọi là thân, có phần đồng một nghĩa như nhau” và Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”.

Yaṃ tattha vadesi – ‘‘vattabbe kho – ‘kāyoti vā sarīranti vā, sarīranti vā kāyoti vā, kāyaṃ appiyaṃ karitvā esese ekaṭṭhe same samabhāge tajjāte, vuttaṃ bhagavatā – atthi puggalo attahitāya paṭipanno’,

Ở đây, Ngài phát biểu “chấp nhận – là thân hay là thân thể, là thân thể hay là thân, đôi khi phần được nhận thấy, gọi là thân, có phần đồng một nghĩa như nhau” và Đức Thế Tôn có dạy “có người thực hành vì tự lợi”,

no ca vattabbe – ‘añño kāyo añño puggalo’’’ti micchā.

không nhận không bác “thân là khác, người là khác”, là sai lầm… (tóm gọn).

Cật vấn chế định (Paññattānuyogo).

 

Giải.

Kāya có hai nghĩa:

a- Là nhóm, sự gom lại, như nāmakāya, rūpakāya: Nhóm danh, nhóm sắc.

  • thân thể.

Kāya với nghĩa đơn thuần là thân, là chỉ cho sắc pháp thuộc về thân, như tứ đại, năm thần kinh, sắc tính …

Người mang ý nghĩa “hiệp thành chế định”, là chỉ cho nhóm danh-sắc có cho một chúng sinh hay “sự gom lại danh-sắc” gọi là “chúng sinh”.

kāya ở đây mang ý nghĩa là “nhóm, sự gom lại”, như Phật ngôn: “Acīram vatayaṃ kāyo …”([43]).

(P) hỏi: “Thân là khác, người là khác”, phải không?

(T) không thể đáp “phải rồi”, vì nơi người có nhóm danh lẫn nhóm sắc. Người không có “nhóm sắc” chỉ có trong cõi vô sắc; người không có “nhóm danh” chỉ có ở cõi Vô tưởng. Cho dù ở cõi nào cũng được gọi là người, như người Vô tưởng, người vô sắc …

(T) cũng không thể đáp “không phải ”, vì người cõi ngũ uẩn phải nương vào sắc để bốn danh uẩn sinh và trụ. Thânngười không thể gọi là một, cũng không thể gọi là hai.

Cho dù người Vô sắc, cũng có “danh thân – nāmarūpaṃ”, người Vô tưởng có “sắc thân – rūpakāya”.

Do vậy, (T) đáp lấp lửng “không nên nói như thế”.

([1]) – Mbv. 94.

([2])– UdA. 94.

([3])– Xem thêm Rhys Davids về “Questions discussed in the Kathāvatthu,” J.R.A.S. 1892.

([4])– Satta jīva. Nghĩa bạch văn là “chúng sinh sống”. Theo quan điểm Bà-la- môn “sự sống” luôn tồn tại. Do đó chúng tôi tạm dịch là “chúng sinh tồn tại” -Ns.

([5])– M.S.J. Thommas, trong History of buddhist thought, các tr. 38-39. Ghi chú dẫn đến một lý giải khác: Vâsiputriya là những tu sĩ ở Vatsa, thủ đô của Kosâmbi.

([6])– T.S. 468, tr. 501b.

([7])– Khuy Cơ. II, tr. 5b.

([8])– Khuy cơ. III, tr. 6a.

([9])– Xem Pháp Hiển (d). André Bareau- Các bộ phái Phật Giáo Tiểu thừa. Chương XV.

([10])– A.i. 130.

([11])– Xem ĐĐ Giác Nguyên (d). Thitañāṇathera- Phật Giáo sử.

([12])– D.iii, 232; M.i. 341; A.ii. 95.

([13])– A.i. 22.

([14])– S.ii. Tương ưng vô thỉ (anamataggasaṃyuttaṃ). Kinh Người (puggalasuttaṃ).

([15])– Xem ĐĐ Giác Nguyên (d). Thitañāṇathera- Phật Giáo sử.

([16])– Bộ luận này được soạn lập vào kỳ Kết tập Phật ngôn lần IV, do Ngài Thế Hữu (Vasumitra) thuộc Hữu bộ là vị chủ tọa, Thera   vāda không tham dự cuộc Kết tập Phật ngôn lần VI – Ns.

([17])– Khuy Cơ . II, tr. 6b.

([18])– H.Sastri. Epigranphia India, tập XIX (calcutta, 1927-8), tr. 67.

([19])– Xem Pháp Hiển (d). André Bareau – Các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa. Chương XVI.

([20])– Xem ĐĐ Giác Nguyên (d). Thitañāṇathera- Phật Giáo sử.

([21])– Saccikaṭṭha. Trust, reality, the highest truth (tin tưởng, thực tế, sự thật cao tột).

([22])Niggaha = ni + gaha, nghĩa bạch văn là: “Không thâu lấy, không nhận lấy”, nên dịch là “mâu thuẩn”.

([23])– Hañci = haṃ + koci; Koci là “ai đó”.

([24])– No ca vattabbe. No là một phân từ “phủ định và xác định”, no ca vattabbe là: “Không chấp nhận, không bác bỏ” – Ns..

([25])Attha không phải là “nghĩa lý”, attha ở đây chỉ cho vật nào đó.

([26])– Paṭikamma là “việc làm chống lại”, ở đây có nghĩa là “biện luận chống lại, kháng biện”- Ns.

([27])– Như súc sinh, ma đói, người, vua, quan, chư Thiên, Phạm thiên …

([28])– Như danh – sắc, 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 22 quyền.

([29])– Paṭiññāya = Paṭi (chống lại) + ñāya (phương châm).

([30])– Chữ homa nghĩa đen là : Sự cúng hiến, (thần thánh). Ở đây chỉ cho ảo giác, ảo tưởng – Ns.

([31])– Dhp. Câu số 159.

([32])– M.ii. Mahārāhulovādasuttaṃ (Giáo giới Rāhula đại kinh).

([33])– Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) có 20 là:

Sắc uẩn có 4 chi: Ta là sắc, sắc là ta, ta có trong sắc và sắc có trong ta.

Thọ uẩn có 4 chi: Ta là thọ, thọ là ta, ta có trong thọ và thọ có trong ta.

Tưởng uẩn có 4 chi: Ta là tưởng, tưởng là ta, ta có trong tưởng và tưởng có trong ta.

Hành uẩn có 4 chi: Ta là hành, hành là ta, ta có trong hành và hành có trong ta.

Thức uẩn có 4 chi: Ta là thức, thức là ta, ta có trong thức và thức có trong ta.

([34])– Dhp. Câu số 277.

([35])– Chữ Sodhana   có nghĩa là “trong sạch”, nên vacanasodhana dịch là “ngôn ngữ chính xác”.

([36])– A.ii. 17.

([37])- Vijjamāna (pr.p của Vijjati), nghĩa là: “Hiện có”.

([38])– Su. Chương V. Đường đến bờ kia (Pārāyanavaggo). Kệ ngôn số 1125.

([39])– jīva theo nghĩa đen là”sự sống”. Cố Đại Trưởng lão Tịnh Sự dịch là “linh hồn”- Ns.

([40])– Xem Doãn Chính Phó Tiến sĩ Triết học. Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại. Nxb Thanh Niên, năm 1999, tr. 89-91.

([41])– D.i. Brahmajālasuttanta (Kinh Phạm võng). Đoạn 42.

([42])– jīva theo nghĩa đen là”sự sống”. Cố Đại Trưởng lão Tịnh Sữ dịch là “linh hồn”- Ns.

([43])– Dhp. Kệ ngôn số 41.

trang trướctrang sau

Advertisements